37. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC TỪ THIỆN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ tư - 05/09/2018 17:24
HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC TỪ THIỆN...của Thích Phước Đạt
 
Ngày nay công tác từ thiện không còn của riêng ai mà cần nhận thức đó là công tác chung của mọi người, của toàn xã hội. Thực tế, cuốc sống vốn vô thường và có nhiều biến động thay đổi khiến con người phải thường xuyên giáp mặt với nhiều chướng duyên, khó khăn trong khi đối diện chính mình và hành xử với người khác. Hơn nữa, theo triết lý Duyên khởi, Phật dạy, không ai có thể sống một mình, con người cần phải nương tựa lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Khi mỗi cá nhân phát tâm giúp đỡ người khác tức là đang giúp chính mình hoàn thiện. Thế nên, thông điệp của Phật giáo dành cho mỗi người là thực hành nếp sống hướng thượng. Cụ thể, trong đời sống hằng ngày, từng giây phút tiếp xúc với hiện tại, người Phật tử không chỉ kết nối yêu thương mà còn làm hóa hiện bằng các việc làm từ thiện cụ thể, có giá trị thiết thực hiện tại. 
Theo Phật giáo về mặt lý luận, cơ sở thực thi của việc làm từ thiện là thực thi hạnh nguyện Tứ vô lượng tâm (Brahmavihàra); nghĩa là hành phẩm hạnh cao thượng, chỗ trú thánh thiện (phạm trú), là tên gọi chung có thể triển khai đến vô lượng: từ, bi, hỷ, xả. Về mặt thực tiễn, việc thực thi công tác từ thiện là thể hiện việc hành hạnh Bố thí trong lục độ ba la mật với những biện pháp tích cực thực hiện. Bài viết này xin trình 3 điểm sau để công tác từ thiện được thi trọn ý nghĩa của giá trị sự kết nối bình đẳng yêu thương mà từ lâu Phật giáo Việt Nam hướng nguyện: 

I. Về mặt lý luận 

Để công tác từ thiện được thành tựu viên mãn, người làm công tác từ thiện phải nuôi dưỡng và phát triển Tứ vô lượng tâm. Việc hành trì Tứ vô lượng tâm có đối tượng là tha nhân, là hết thảy chúng sinh. Tứ vô lượng tâm là một công hạnh tạo hạnh phúc cho ta và cho chúng sinh. Đó là sự yêu thương, quý trọng chúng sinh (từ), thương cảm đối với các chúng sinh đang hoạn nạn (bi), sự vui mừng khi chúng sinh được hạnh phúc và mong mỗi hạnh phúc cho chúng sinh (hỷ), và sự xả bỏ những vui buồn oán giận trong lòng mình (xả). Ý nghĩa nổi bật của Tứ vô lượng tâm là sự thể hiện vô ngã, vị tha. Đây là pháp tu trợ lực cho pháp tu định, cũng chính là pháp tu vô ngã.
Từ (Mettà): Từ nghĩa là từ ái, hiền lành, là tình thương yêu. Đây là sự thương yêu rộng lớn cùng khắp đối với mọi chúng sinh, kể cả kẻ thù, con sâu, con kiến. Trong Từ kinh (Mettà Sutta) và Tập kinh (Sutta Nipata) đều có bài kệ nói về tâm từ, xin trích một đoạn ngắn: “Mong sao tất cả chúng sinh đều được an lạc. Mong sao tất cả chúng sinh đạt được niềm vui tự tội… Như người mẹ suốt đời chăm sóc đứa con, Đứa con độc nhất. Đối với mọi chúng sinh cũng thế, Tâm mình phải quảng đại. Lòng từ đối với toàn cõi thế gian, Quảng đại khởi lên từ tâm mình, Bên trên, bên dưới đều xuyên suốt”.  
Trong Phật giáo có rất nhiều chuyện kể về gương bố thí, cứu ngừơi, cứu vật, hy sinh tài sản, thân mạng vì chúng sinh. Kinh Bổn sanh (Jataka), Hạnh Tạng (Cariya Pitaka)… kể chuyện tiền thân của Đức Phật với lòng từ triển khai đến cực độ với những gương bố thí, gương hy sinh cao cả nhất đối với mọi loài chúng sinh, dù là kẻ thù, dù là loài vật nhỏ bé. Do đó, một người thực hiện công tác từ thiện thì cần phải nuôi dưỡng tâm từ mới phát đại tâm giúp đỡ, thực thi việc tài thí và pháp thí để giúp người khác thoát khổ.  
 Bi (Karumà): Bi là sự rung động, xót thương trước khổ nạn của người khác, từ đó muốn cho người ấy thoát khỏi khổ nạn. 
Sống trong một thế giới đầy sự biến động, con người đang chịu khổ vẫn diễn ra do nghèo đói, bệnh tật, áp bức, bóc lột, bạo lực, chiến tranh, chết chóc,…Tâm từ luôn đi đôi với tâm bi. Theo Phật giáo, một người thương yêu chúng sinh, đau lòng vì chúng sinh phải chịu khổ, đấy là người ấy đang thể hiện tâm  từ bi. Thực ra, tâm bi phát xuất từ tâm từ, và cũng chính là từ tâm từ. Có từ thì mới có bi, thực hiện tâm bi cũng chính là thực hiện tâm từ, tất cả các gương bố thí, hy sinh, cứu độ trong ý nghĩa vô vụ lợi đều là những thể hiện của từ bi.
Hỷ (Medità): Hỷ là niềm vui khi thấy người khác được hạnh phúc, trong khi bi là sự xót xa khi thấy người khác bị đau khổ. Người có tâm hỷ thì không nghỉ đến mình, loại bỏ sự ganh tỵ nhỏ nhen. Vui với cái vui của người khác là biểu hiện một tấm lòng quảng đại. Không thiếu gì người thấy người khác giàu sang, danh vọng, được kính mộ, yêu vì thì buồn bực cho mình, ghen tức với người kia, rồi mong mỏi, thậm chí tìm cách làm cho người kia phải lụn bại cho mình được hả dạ. Tuy nhiên, vui với niềm vui của người khác không phải là dễ, nếu ta không tạm quên với cái ngã của mình. Nhờ có tâm hỷ như thế, con người mới phát tâm thực thi việc làm từ thiện với niềm vui của chính mình khi thấy người khác được hạnh phúc.
Xả (Upekkhà): Xả được dịnh là Upekkhà, có nguyên nghĩa là sự nhận định đúng đắn, được hiểu là nhận thấy không có gì phải chấp thủ, không ưa ghét, vui buồn, oán giận; tức là xả bỏ, tự tại, thanh thản trong lòng.
Xả không có nghĩa là dửng dưng, lạnh lùng hoặc vô tình, hời hợt. Xả là đức tính của một tâm hồn quảng đại, vô thủ chấp, gần như ý câu “được không vui, mất không buồn” vậy. Trong kinh Chánh niệm (Satipatthana), Đức Phật dạy Tôn giả Ràhula về việc tu xả: “Này Ràhula, hãy tu tập như đất. Đất bị người ta ném vào những đồ sạch, đồ dơ, phân, nước tiểu, đàm, dãi, máu, mủ; nhưng đất vẫn không bực bội, ghê tởm. Nếu thầy cứ giữ tâm như đất thì sẽ không có sự vui buồn nào xâm chiếm hay bám lấy thầy. Cũng thế, hãy tu tập tâm như nườc, như lửa, như gió, như khoảng trống”. Một người làm từ thiện thì cần giữ được tâm xả thì không còn tham ái, không hận thù, luôn luôn vững vàng trước những chướng duyên, mới phát huy được mọi năng lực đem đến an lạc cho người khác. 
Thực hiện Tứ vô lượng tâm càng mạnh thì tâm càng thanh tịnh, sáng suốt; tâm càng thanh tịnh, càng sáng suốt thì việc thực hiện Tứ vô lượng tâm càng mạnh. Khi tâm vô lượng được trải rộng thì việc thực hành công tác cụ thể mới có khả năng đi vào hiện thực đời sống qua việc phát tâm bố thí.  
II. Về mặt thực tiễn Công việc cụ thể hóa của từ thiện là thực hành Bố thí (Dàna). Nó được xuất phát từ bốn tâm vô lượng nói trên. Bố thí là sự hy sinh, hiến tặng những gì mình sở hữu để giúp người khác: tài sản, sự nghiệp, vợ con; một hay nhiều bộ phận của thân thể; toàn bộ thân mạng mình; trao truyền sự hiểu biết, chánh pháp mà mình sở đắc; dạy cho chúng sinh sự tin tưởng, không sợ hãi. Theo phẩm Tựa trong kinh Bồ tát Thiện giới 1, Bồ tát tại gia thì thực hành tài thí và pháp thí; Bồ tát xuất gia thì thực hành 4 pháp thí: Bút thí, Mặc thí, Kinh thí, thuyết pháp thí. Luận Câu xá 18 nêu ra  8 thứ bố thí: Tùy thí chí, Bố úy thí, Báo ân thí, Cầu báo thí, Tập thiên thí, Hi thiên khí, Yếu danh thí, Vị trang nghiêm tâm thí. Cũng luận này nêu ra có 7 thứ bố thí: Thí khách nhân, Thí hành nhân, Thí bệnh nhân, Thí thị bệnh giả (Thí cho người nuôi bệnh), Thí viên lâm, Thí thường trực, Thí tùy thời…
Theo kinh Ưu Bà tắc giới, nguyên tắc của bố thí trong khi thực thi công tác từ thiện thì phải tuân thủ 5 điều sau:
  1. Không nên chọn người có đức hay không có đức: Nghĩa là bình đẳng giúp tất cả mọi người; đối với người có đức sinh tâm kính mến; đối với người không có đức thì đem lòng thương xót.
  2. Chẳng nói việc tốt xấu: Đối với thiện hay bất thiện, tùy theo điều ước muốn của mỗi người mà làm cho họ được lợi ích với từ tâm bình đẳng.
  3. Chẳng kể dòng họ, hay quyến thuộc: Trong khi thực thi làm từ thiện, không nên phân biệt dòng họ, oán thân, người thân, giàu hay nghèo, hễ họ cần gì nếu có khả năng thì ban cho.
  4. Chẳng xem thường người xin: Đối với đến xin, có lòng ân cần không xem thường, mà cung cấp theo yêu cầu, để cung cấp theo nhu cầu, để giúp đỡ hoàn cảnh thiếu thốn của họ.
  5. Không la mắng: Đối với người cầu xin không dùng lời hung dữ, xấu xa để sỉ nhục họ.
Kể từ khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ năm 1981, tiếp nối truyền thống hộ quốc an dân, thực thi lý tưởng Bồ tát với tinh thần nhập thế tốt đạo đẹp đời, Ban Từ thiện Trung ương và địa phương ra đời, đã thực thi công tác từ thiện một cách tích cực có hiệu quả qua nhiều hình thức quyên góp cứu tế, cứu trợ, chia sẻ đồng bào khi hoạn nạn, tai ương do thiên tai, hỏa hạn, bệnh tật, giúp đỡ bảo trợ người già không có người thân nương tựa,... rồi tiến đến xây những dựng những trung tâm từ thiện nuôi trẻ lang thang, cơ nhỡ kết hợp việc đào tạo giáo dục học văn hóa, học nghề để hoàn thiện nhân cách và có thể có kỹ năng sống đúng nghĩa, thích ứng với xã hội. 
Chúng ta đã được nghe báo cáo qua các phương tiện thuộc hệ thống truyền thông trong cả nước, cũng như trực tiếp thực thi từ thực tiễn từ các địa phương tiêu biểu mà Phật giáo tỉnh thành tham gia như ở Hà Nội, Hải Phòng, Thừa Thiên - Huế, Khánh Hòa, Tp. Hồ Chí Minh với những Trung tâm Từ thiện đã ảnh hưởng không chỉ trong nước mà có sức lan tỏa ra nước ngoài. Mô hình Trung tâm Từ thiện xã hội Phật Quang là thí dụ điển hình. Được thành lập từ năm 2002, chỉ trong vòng 15 năm hoạt động, Trung tâm Từ thiện Xã hội Phật Quang đã gặt hái thành tựu khá lớn, đóng góp tích cực cho xã hội. Cụ thể: 
Với tên gọi ban đầu là Trường Tình thương Phật Quang, trực thuộc sự quản lý chuyên môn của Trường Tiểu học Mỹ Lâm 3, được sự cho phép của UBND Huyện Hòn Đất, Khai giảng Khóa đầu tiên vào ngày 6 tháng 9 năm 2002, số lượng 100 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (từ Lớp 1 đến Lớp 3). Qua 4 năm hoạt động với bao thăng trầm cùng tâm huyết của người sáng lập Đại đức Thích Minh Nhẫn sáng lập và sự dạy dỗ, chăm sóc của đội ngũ giáo viên, nhân viên, các em từng bước đã tiến bộ trưởng thành. Về hạnh kiểm 100% học sinh đều được xếp loại Tốt. Kết quả học tập: hàng năm tỉ lệ học sinh xếp loại Giỏi đạt 20%; loại Khá là 30% và 50% học sinh xếp loại Trung bình (không có học sinh yếu kém).
Từ giá trị thực tiễn của mô hình từ thiện này, GHPGVN tỉnh Kiên Giang đã tham mưu đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền xem xét và đã được UBND tỉnh Kiên Giang cho phép thành lập Trung tâm Từ thiện xã hội Phật Quang với chức năng là “Tiếp nhận, tổ chức quản lý, nuôi dưỡng giáo dục các đối tượng: Trẻ em mồ côi bị mất nguồn nuôi dưỡng, không nơi nương tựa”. Trung tâm đã tổ chức thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục cho 120 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo chế độ nội trú miễn phí ở 3 cấp học (Tiểu học, PTCS & PTTH) một cách hiệu quả. Về học lực trung bình các năm học tỉ lệ học sinh được xếp loại Giỏi từ 18,2% đến 21%; học sinh Tiên tiến đạt từ 28,5% đến 35,4%; và học sinh xếp loại Trung bình là 46,4%. 100% học sinh xếp loại hạnh kiểm Tốt.
Đặc biệt đến năm 2013 Trung tâm từ thiện - xã hội Phật Quang đã nhận được sự ủng hộ của “Qũi sống để yêu thương Việt Nam” - Nhà trẻ Nhân Aí thuộc Trung tâm Từ thiện Xã hội Phật Quang được hình thành và bắt đầu hoạt động vào ngày 01 tháng 01 năm 2013 với chức năng nhiệm vụ là Cơ sở giáo dục Mầm Non lứa tuổi nhà trẻ & mẫu giáo theo chế độ bán trú miễn phí. 
Tính đến thời điểm này, sau 15 năm (2002 - 2017) hoạt động Giáo dục tại Trung tâm Từ thiện Xã hội Phật Quang đã thực hiện được việc chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục cho các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở 5 cấp học: Giáo dục Mầm non; bậc Tiểu học; Phổ thông Cơ sở; Phổ thông Trung học và bậc Đại học. Có thể tóm tắt như sau:
Về phương diện giáo dục: Năm học 2013 - 2014 đã thu nhận 166 trẻ; năm học 2014 - 2015 là 189; năm học 2015 - 2016 & 2016 - 2017 có 202 em ở 5 cấp học. Trong đó: 104 học sinh từ lớp 1 đến lớp 12; 92 trẻ cấp học Nhà trẻ - Mẫu giáo và có 06 em đang theo học hệ Đại học và Cao đẳng nghề.
Tỉ lệ học sinh đạt loại khá giỏi về học tập hàng năm đều tăng: 36,7% (năm học 13-14); 51,1% (năm học 14-15) và 67,4% (năm học 15-16).
Trung tâm đều có kế hoạch phối hợp với Ban Giám hiệu
Trường Tiểu học Tân Hưng triển khai thực hiện chương trình cải cách giáo dục thí điểm “dạy theo chương trình ViEn” giúp trẻ phát triển kỹ năng chủ động tích cực trong học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Kết quả qua 2 năm học (2014 - 2015 & 2015 - 2016) đã có nhiều em đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ” và hàng năm đều tuyển chọn 10 em học sinh Giỏi toàn diện tham dự Trại hè “Ước mơ hồng” các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức. Đặc biệt năm học 2015 - 2016 có 1 học sinh Lớp 6 (em Phạm Tuấn Kiệt) đã giành giải Nhất cấp Huyện và giải Khuyến khích cấp Tỉnh về môn Toán Violympic bằng tiếng Việt trên Internet. Hưởng ứng phong trào xây dựng điểm trường Xanh - Sạch - Đẹp và An toàn của Ngành Giáo dục tỉnh Kiên Giang, năm học 2013 - 2014 Ban Giám đốc Trung tâm cùng thống nhất với Ban Giám hiệu Trường Tiểu học Tân Hưng nỗ lực phấn đấu xây dựng Điểm trường “xanh - sạch - đẹp và an toàn” theo 10 tiêu chí của Ngành Giáo dục và đã được công nhận, đồng thời duy trì giữ vững danh hiệu cho đến nay.  
Tạo lập được một môi trường giáo dục về nhân cách và đạo đức phù hợp, đồng thời các nội dung về kỹ năng sống; kỹ năng đặt câu hỏi; kỹ năng tự lập… cũng được lồng ghép trong các giờ sinh hoạt, thông qua đó trẻ cảm nhận được không khí trong một gia đình lớn, thân thiện gần gũi, dần dần các em rũ bỏ được những mặc cảm tự ti, nỗ lực hoàn thiện chính mình và hòa nhập với môi trường hiện tại. Kết quả hàng năm đánh giá về năng lực và phẩm chất đạo đức: 100% học sinh đều được đánh giá ở mức “Đạt” theo các tiêu chí của ngành Giáo dục.
Đối với cấp học Mầm non 100% trẻ được theo dõi đánh giá phát triển tốt. Đối với trẻ 5 tuổi: 85 - 90% trẻ đạt được 95 - 110/120 chỉ số đánh giá ở các lĩnh vực. Trong đó có 95,7% trẻ phát triển về nhận thức, ngôn ngữ và Toán và 91% phát triển ở các lĩnh vực khác còn lại. Từ năm 2013 - 2016 đã có 38 trẻ hoàn thành chương trình phổ cập GDMN và được chuẩn bị tâm thế tốt để bước vào lớp Một.
Tỉ lệ trẻ đạt danh hiệu Bé ngoan và Bé ngoan xuất sắc hàng năm cũng được tăng: 33% - 71% - 80%. Tỉ lệ Bé chuyên cần đạt từ 90 - 96%.
Tỉ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng (SDD) hàng năm đều được giảm từ 28,1% (năm học 2013 - 2014) xuống còn 13,7% (năm học 2014 – 2015) và 8,5% (năm học 2015 - 2016).
Điểm đáng nói, song song việc hoàn thành chương trình giáo dục theo qui định của Ngành Giáo dục, thì Trung tâm còn hướng các em học và thực hành giáo lý hướng thiện Phật giáo ngay từ nhỏ thông qua các bài học thân giáo của các thầy. Việc chú trọng là xem trẻ học như thế nào hơn là học cái gì, tức là cho trẻ những trải nghiệm học tập tích cực để phát triển đam mê học hỏi và khả năng tự học của trẻ. Đặc biệt là từng Giáo viên và Giám thị thông qua qui trình thẩm định hồ sơ tiếp nhận trẻ, đến tận gia đình để hiểu hoàn cảnh sống của trẻ để từ đó lựa chọn biện pháp tác động sư phạm phù hợp nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện. Đồng thời đây cũng là một trong các bước trong Qui trình tiếp nhận đối tượng tại Trung tâm để đảm bảo tính pháp lý theo các qui định tại Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 Qui định về điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức hoạt động và giải thể Cơ sở Bảo trợ xã hội.
Và như thế Trung tâm đã chung tay giải quyết gánh nặng cho xã hội tại địa phương trong việc đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ góp phần thiết thực cho công tác an sinh xã hội. Cái giá trị lợi ích thiết thực là thiết lập môi trường giáo dục lành mạnh trưởng thành và trở thành những con người hữu ích cho xã hội, cho cộng đồng nói chung, Phật giáo nói riêng.

III. Biện pháp thực thi

Từ điểm nhìn lý luận và thực tiễn này, để công tác từ thiện của Phật giáo đi đến sự thành tựu viên mãn, đúng theo tinh thần
Phật dạy thiết nghĩ công tác từ thiện nên chăng thực thi những biện pháp sau:
Cần nhận thức rõ Ban Từ thiện, các cơ sở Từ thiện của Trung ương và địa phương thực sự là trung tâm kết nối sự yêu thương, thông qua sự liên kết mọi thành phần trong xã hội để cùng nhau chia sẻ mọi khó khăn, chướng duyên trong cuộc sống thường nhật. 
Với tinh thần “phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”, từ khi thành lập Giáo hội đến nay, vấn đề từ thiện đã được Giáo hội Trung ương và các tỉnh thành quan tâm và thực thi hữu hiệu với nhiều mô hình, phương thức tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của mỗi địa phương dưới sự hỗ trợ của chính quyền các cấp. Theo điều 33 chương III của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo thì Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức tôn giáo tham gia nuôi dạy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Hỗ trợ cơ sở chăm sóc sức khỏe người nghèo, người tàn tật, người nhiểm HIV/AIDS, bệnh phong, tâm thần, hổ trợ phát triển các cơ sở giáo dục mầm non và tham gia các hoạt động khác vì mục đích từ thiện nhân đạo theo qui định của Pháp luật; và các chức sắc nhà tu hành với tư cách được nhà nước khuyến khích tổ chức hoạt động giáo dục, y tế Từ thiện nhân đạo theo qui định của pháp luật. Do đó, hầu hết các tự viện Phật giáo trong nước đều hưởng ứng thực thi công tác từ thiện cứu đói, thiên tai, hỏa hoạn, xây nhà tình thương, tổ chức nuôi dạy trẻ mồ côi có hoàn cảnh khó khăn, thậm chí đã có những Trung tâm Từ thiện Phật giáo ra đời với quy trình nuôi dưỡng và đào tạo khép kín từ lứa tuổi học mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học Phổ thông. Thiết nghĩ, từ kết quả thực tiễn thành tựu của mô hình Trung tâm Xã hội Từ thiện Phật Quang ở Kiên Giang, chúng ta cần phát huy và nhân rộng các tỉnh thành khác.  
Các trung tâm từ thiện Phật giáo có chức năng đào tạo và giảng dạy văn hóa, cũng như dạy nghề cho con em có hoàn cảnh khó khăn cần có sự hỗ trợ đắc lực của ngành Giáo dục trong việc bổi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ từ các sở Giáo dục, các trường. Điều đáng nói hiện nay, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh đã đào tạo chương trình Cử nhân Phật học, có Khoa Mầm non và Công tác xã hội với mô hình liên kết. Thiết nghĩ trong vài năm tới chúng ta sẽ có đội ngũ Tăng Ni làm công tác từ thiện với chuyên môn hóa tại các trung tâm Từ thiện Phật giáo trong cả nước.
Thiết nghĩ Ban Từ thiện Trung ương và địa phương cần phối hợp chặt chẽ với Ban Hoằng pháp Trung ương và địa phương để tập hợp quần chúng khuyến giáo, thuyết giảng, vận động mọi người ý thức công tác từ thiện là không phải của riêng ai mà của mọi người; giúp đỡ người khác chính là giúp mình hoàn thiện nếp sống hướng thiện, là làm hiển lộ giá trị yêu thương cuộc sống theo tinh thần Từ bi hỷ xả, hạnh nguyện Bồ tát là hành Bố thí qua các mối quan hệ giữa người với người, giữa người với môi trường sống, và gia đình và xã hội.
Ban Từ thiện Trung ương và địa phương cần phối hợp chặt chẽ với Ban Kinh tế tài chính Trung ương và địa phương vận động các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các công ty tài chánh, các đại thí chủ, các nhà hảo tâm để phát tâm cúng dường, chia sẻ những thành phần, đối tượng trong xã hội cần quan tâm giúp đỡ như: trẻ em lang thang đường phố, người già cô đơn, những người nhiễm HIV, bệnh truyền nhiễm, đồng bào bị tai ương, thiên tai… Nhưng quan trọng hơn là Ban Từ thiện cần phối hợp Ban Kinh tế tài chánh có kế hoạch làm thế nào để chủ động tự mình thiết lập những cơ sở làm kinh tế, chủ động tạo ra nguồn kinh phí để làm từ thiện một cách thiết thực.
Cuối cùng là sự phân phối tài vật, tài chánh đến với các địa điểm, đối tượng cần được sự giúp đỡ, cần được cứu trợ phải kịp thời, đúng lúc, đúng với những hoàn cảnh, nhu cầu của các đối tượng từ thiện theo một chương trình hành động, kế hoặch mà Ban Từ thiện đã vạch định hàng năm, hàng quý, hàng tháng… trong tinh thần bình đẳng sự yêu thương.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây