21. CÔNG TÁC TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA PHẬT GIÁO

Thứ ba - 04/09/2018 22:34
CÔNG TÁC TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA PHẬT GIÁO của PGS. TS. Nguyễn Anh Tuấn

 
1. Từ triết thuyết “Từ bi, cứu khổ” của Phật giáo… 
Với tư tưởng từ bi, bác ái, vô ngã, vị tha, Phật giáo Ấn Độ đã dễ dàng thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Phật giáo Ấn Độ được tiếp biến vào văn hóa Việt Nam từ hai con đường Nam Á một cách khá trực tiếp và Đông Bắc Á thông qua các thiền phái Trung Hoa. Các giáo lý Phật giáo ấy cùng với nhân cách các nhà sư đã tạo nên sự gần gũi giữa Phật giáo và người dân. Bằng thuyết nhân quả luân hồi, ở hiền gặp lành, Phật giáo khuyến thiện, trừ ác, hiếu với cha mẹ, tôn kính người trên, không tham lam, mong quốc thái, dân an, hòa bình, hạnh phúc. Phật giáo đã góp phần nâng cao đời sống đạo đức xã hội. Nhân dân ta đã tiếp biến Phật giáo như một yếu tố tâm lý làm cân bằng cuộc sống vốn khốn khó của mình. Phật giáo đã củng cố và phát triển các giá trị đạo đức trong nền văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Từ khi Thiền tông ra đời ở Trung Quốc và bắt đầu có ảnh hưởng sâu rộng ra các vùng lân bang, ở Việt Nam các Phật phái đã hình thành và phát triển như Tỳ ni đa lưu chi, Vô Ngôn Thông, Thiền Thảo Đường và sau này là phái Trúc Lâm tuy thuộc thiền Nam tông nhưng vẫn có dấu ấn Phật giáo Trung Quốc.
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, thường xuyên bị thiên tai tàn phá, chiến tranh liên miên. Do vậy, đời sống người dân vô cùng khổ cực vì phải thường xuyên gồng mình chống chọi với sự tàn phá của thiên tai, sự xâm lược của nhiều thế lực ngoại bang. Khi vào Việt Nam, tinh thần vì chúng sinh của Phật giáo nhanh chóng hòa quyện cùng những triết lý sống của dân tộc Việt: “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”,… Hay thậm chí là: “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”.
Đạo Phật luôn đề cao lòng từ bi, nhân ái. Từ khi truyền vào Việt Nam, tinh thần cứu khổ cứu nạn của đức Phật được phát huy rộng rãi ở một quốc gia bị nhiều cuộc chiến tranh tàn phá, thiên tai thường xuyên gây hại. Đây là nguyên nhân quan trọng giúp cho Phật giáo gắn bó keo sơn và đồng hành cùng với dân tộc Việt Nam qua những dặm dài lịch sử. Ngày nay, Việt Nam là quốc gia đang phát triển, đã đạt được một số thành tựu bước đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tuy vậy, ngày càng có nhiều vấn đề xã hội bức xúc nổi lên như tình trạng di cư ồ ạt vào các đô thị lớn, môi trường bị tàn phá, nghèo đói và thất nghiệp ở nông thôn, bệnh dịch cũ và mới diễn biến phức tạp, tệ nạn xã hội gia tăng mạnh, học sinh bỏ học, phân cực giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội cũng đang trên đà tăng tốc… Các vấn đề xã hội này đang trở thành thách thức cho nước ta hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Phật giáo phải làm gì trước tình hình đó để giúp đỡ và làm chỗ dựa cho những cảnh đời khốn khó, bị tổn thương? Nếu thực hiện tốt, Phật giáo sẽ góp phần hỗ trợ cùng Nhà nước và các tổ chức xã hội khác thực hiện tốt an sinh và đảm bảo công bằng xã hội. Thiết nghĩ, đây còn là cơ duyên quan trọng để Phật giáo Việt Nam gắn kết hơn nữa với sự phát triển của dân tộc trước mắt và tương lai. 
Cùng với Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo đã Việt hóa góp phần to lớn hình thành những giá trị đạo đức cho nhân cách văn hóa dân tộc giàu lòng nhân ái, yêu thương con người, sống có tình nghĩa thủy chung, giản dị và tiết kiệm. Lòng nhân ái là một giá trị đạo đức trong văn hóa tinh thần truyền thống Việt Nam. Nhân ái nghĩa là yêu thương con người. Lòng nhân ái được hình thành và phát triển trong văn hóa Việt Nam chính từ cuộc sống vất vả lam lũ hàng ngày. Nhân dân cảm thấy thương mình và thương những người cùng cảnh ngộ với mình. Trong lúc khó khăn, hoạn nạn ấy, chính tình yêu thương, đùm bọc, sẻ chia lẫn nhau đã giúp họ vượt qua hoàn cảnh thực tại. Vì vậy, lòng yêu thương con người “thương người như thể thương thân”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” từ lâu đã trở thành nếp nghĩ, cách ứng xử, triết lý sống của con người Việt Nam. Người Việt thường “bán anh em xa, mua láng giềng gần”, “xả thân thành nhân”, yêu nước trước rồi đến yêu nhà sau, thương người trước, thương mình sau. Trong lối sống, người Việt khoan dung cho mọi “kẻ chạy lại” và coi trọng gìn giữ sự hòa hiếu. Nhân cách văn hóa Việt Nam yêu cái đúng, ghét cái sai, quý trọng cái tốt, căm ghét cái vô đạo đức và đặc biệt người Việt có cảm xúc về cái đẹp vô cùng sâu sắc. Các đức tính này đều được cổ vũ từ các giáo lý từ bi, bác ái, vị tha của đạo Phật. Chính vì vậy mà có nhận định: Trong giai đoạn Phật giáo là hệ tư tưởng thống trị, nó đã góp phần đưa lại cho giai cấp cầm quyền một đường lối trị quốc có nhiều điểm tiến bộ. Đó là thái độ khoan dung, độ lượng, chia sẻ và cảm thông chung, có thái độ sống hướng đến tha nhân, vì tha nhân. Bởi thế, từ trước đến nay, Phật giáo Việt Nam luôn thể hiện tinh thần nhập thế hành đạo, thường xuyên tổ chức các hoạt động từ thiện xã hội, giúp đỡ những mảnh đời trong xã hội không may gặp khốn khó và bất hạnh. 
Các tư tưởng giác ngộ và giác tha khuyên mỗi người ăn hiền ở lành, cố gắng liên tục và thường xuyên hãy tự nhận thức và nhận ra cho được bản tính chân thực và siêu nghiệm của bản thân. Trong triết lý Phật giáo, tri thức tìm về bản thân là tri thức tối cao của một nhân cách văn hóa để trước hết là giác ngộ. Hãy nhận thức cho được quy luật của trời đất, sống tiết dục để vượt qua bến mê cập bờ giác ngộ. Phật giáo đã khám phá ra quy luật Sinh, lão, bệnh, tử của cuộc đời. Vì vô minh nên cứ chấp trước về cái ngã. Thuyết Niết bàn của Phật giáo hướng mọi nhân cách văn hóa giải thoát khỏi vô minh, ngã chấp, duyên nghiệp. Do tu luyện tinh thần và đạo đức mà con người trở nên có phẩm giá được xã hội yêu thương, kính trọng. Trong giáo lý của đức Phật, Lục độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ) là con đường dẫn đến sự giác ngộ, mà điều đầu tiên phải thực hiện được là thực hành bố thí. Ngoài ra, giáo lý Phật giáo cũng quan niệm con người cần có lòng từ, bi, hỉ, xả (Tứ vô lượng tâm), đây là nhân tố chủ yếu giúp phát triển tâm từ bi, hạnh cứu khổ, đưa đến việc định hướng cho mọi hoạt động của Phật giáo cho con người và vì con người. Trong kinh Dược sư, khi ngài A Nan hỏi bằng cách nào để thoát khỏi những tai nạn, đức Phật trả lời: “Nếu có chúng hữu tình nào ăn ở bất hiếu, ngũ nghịch, hủy nhục ngôi Tam Bảo, phá hoại phép vua tôi, hủy phạm điều cấm giới thì vua Diêm Ma pháp vương tùy tội nặng nhẹ mà hành phạt. Vì thế ta khuyên chúng hữu tình nên thắp đèn làm phan, phóng sanh, tu phước khiến khỏi được các tai ách, khỏi gặp những tai nạn”.
Như vậy, trong quan niệm của Phật giáo, những việc làm như phóng sanh, tu phước, làm việc thiện chính là con đường để giúp con người có được một cuộc sống bình an, thoát khỏi tai họa. Ngoài ra, các kinh Khuyến phát Bồ đề Tâm văn, Diệu pháp Liên Hoa kinh,… đều nhắc đến tinh thần vô ngã, vị tha, tức khuyên con người sống có trách nhiệm với cộng đồng, biết thể hiện lòng nhân ái của mình đến với người khác. Trong kinh Diệu pháp Liên Hoa, - một bộ kinh quan trọng của Phật giáo – có đoạn: “Dẫu cho tạo tội hơn núi cả/chẳng nhọc Diệu Pháp vài ba hàng”, đã đề cập đến công đức của người phát tâm từ bi giúp chúng sinh: “Nếu Thiện nam tử! Thiện nữ nhơn thành tựu bốn pháp, thời sau khi Như Lai diệt độ sẽ đặng kinh Pháp Hoa này: Một là được các đức Phật hộ niệm, hai là trồng các cội công đức, ba là trong chánh định, bốn là phát lòng cứu tất cả chúng sanh”. Như vậy, theo kinh này, khi con người hành thiện, làm công đức sẽ có được kinh Pháp Hoa để hướng dẫn tu tập và giải thoát. Tư tưởng hành thiện vì chúng sinh được lặp lại khi một học giả Trung Quốc hỏi vị thiền sư về cốt tủy của đạo Phật là gì và đã được nhà sư ấy trả lời như sau: “Làm điều thiện/không làm điều ác/thanh lọc tâm ý/đó là lời Phật dạy”.
Hoạt động từ thiện xã hội không chỉ là sự thể hiện tinh thần từ bi, cứu khổ cứu nạn của tín đồ Phật giáo mà còn là một biểu hiện quan trọng chức năng hỗ trợ xã hội của Phật giáo. Ở góc nhìn Tôn giáo học, chức năng hỗ trợ xã hội được hiểu: “Dù ít hay nhiều, con người thường phải đối mặt với khó khăn, hiểm nguy, thất bại, thiên tai, bệnh tật,… cái chết của những những người thân thuộc, yêu quí và cái chết của chính bản thân mình. Trong những lúc như thế, cuộc sống con người rất dễ bị tổn thương và trở nên vô nghĩa, niềm tin tôn giáo giúp cho con người khó bị rơi vào tuyệt vọng hơn. Một số tôn giáo còn cung cấp cho con người những biện pháp cầu nguyện, cúng bái thần linh với niềm tin rằng những việc làm như vậy sẽ giúp cải thiện được tình hình”. Ở đây, chức năng này của tôn giáo không chỉ dừng lại ở sự giúp đỡ con người bằng các liệu pháp tinh thần như cúng bái, cầu nguyện, tin tưởng,… mà còn biểu hiện thông qua những hành động mang tính thực tiễn, nổi bật là sự hỗ trợ vật chất của các tôn giáo trong hoạt động hành đạo. Không chỉ có Phật giáo, các tôn giáo lớn trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng thể hiện rõ nét điều này. 
2. Đến hoạt động từ thiện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay
Giáo hội Phật giáo Việt Nam suốt 37 năm qua kể từ ngày thành lập đã lãnh đạo và tổ chức tất cả các hoạt động Phật sự của khoảng 30.000 Tăng ni trong 15.000 Tự viện và 12 triệu Phật tử trong cả nước. Bên cạnh Giáo hội trung ương, có 44 tỉnh, thành hội Phật giáo. Hội đồng Trị sự Giáo hội Trung ương gồm 9 ban ngành viện chăm lo những mặt hoạt động khác nhau: đó là các ban ngành Tăng sự, Giáo dục Tăng Ni, Hoằng Pháp, Văn hoá, Nghi lễ, Hướng dẫn Phật tử, Kinh tế nhà chùa, Từ thiện xã hội, Phật giáo quốc tế và Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam. Mỗi ban ngành đều có nhân sự và trụ sở tại mỗi tỉnh thành. Ba Học viện Phật giáo Việt Nam và 26 trường Cơ bản Phật học cùng nhiều khoá chuyên môn ngắn hạn hay dài hạn, đang đảm nhiệm việc giáo dục và đào tạo Tăng ni. Trên cả nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã xây dựng 25 bệnh viện miễn phí, 655 phòng phát thuốc, 196 lớp học tình thương cho trẻ em đường phố, 116 nhà từ thiện. Số sách báo Phật giáo đủ loại đang tăng dần mỗi năm… Bằng tinh thần từ bi cứu khổ của Phật giáo và đạo lý “bầu ơi thương lấy bí cùng” của dân tộc Việt Nam, các Tăng ni, Phật tử cả nước đã nỗ lực: cứu trợ đồng bào các tỉnh miền Bắc, miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long bị lũ lụt tàn phá; thăm và tặng quà cho đồng bào dân tộc các tỉnh Tây Nguyên,
Tây Bắc; cứu trợ những nạn nhân sóng thần ở Đông Nam Á, động đất tại Nhật Bản, Nêpan; ủng hộ nhân dân Cuba anh em;…; xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương; ủng hộ chiến sĩ biên phòng, hải đảo; thăm viếng thương bệnh binh và bệnh nhân nghèo khó tại các bệnh viện, trại tâm thần, nhà dưỡng lão; chữa trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS; xây giếng, mổ mắt, tặng xe lăn và xe đạp, tặng học bổng cho người nghèo; xây cầu bê tông, đắp đường giao thông nông thôn; hiến máu nhân đạo, đóng góp quỹ vì người nghèo, học sinh hiếu học, giúp phụ nữ nghèo vượt khó; mổ chữa trị bệnh tim cho nhiều cháu bé; phát quà Tết, quà Trung thu cho các cháu thiếu nhi; cung cấp bữa ăn từ thiện cho bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện, phòng khám đa khoa…). Trong 30 năm (1981 - 2011) hoạt động từ thiện thu được kết quả to lớn, ước đạt 2.020 tỉ đồng. 
Phật tử ở khắp các địa phương đều tích cực tuyên truyền xây dựng đời sống kinh tế, phát triển lâu dài. Các Tăng ni, Phật tử động viên nhân dân đoàn kết giúp đỡ nhau. Ở nhiều nơi, bà con Phật tử có các chương trình tương trợ lao động, hùn vốn, giúp đỡ nhau trong sản xuất. Phật giáo đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội có những thay đổi nhất định, không ít trường hợp người dân thoát nghèo, trong đó có một bộ phận vươn lên làm ăn no đủ. Trong hoạt động từ thiện, ngày càng xuất hiện nhiều chùa tiêu biểu như chùa Diệu Giác tọa lạc ở số 6/10 đường Trần Não, phường Bình An, quận 2, Tp. Hồ Chí Minh có số trẻ thiếu may mắn được đưa về nuôi dạy tại nhà tình thương của Chùa là 166 cháu, trong đó có 53 nam và 63 nữ. Tất cả các cháu đều được tới trường học. Chùa Lâm
Quang tọa lạc tại số 301 bến Bình Đông, phường 14, quận 8, Tp. Hồ Chí Minh nhận tất cả các cụ già là nữ (tuổi từ 55 - 80), không người thân, đặc biệt là những cụ bị bệnh tật. Trong 17 năm qua đã có 115 cụ sống tại chùa…
Thông qua các hình thức từ thiện xã hội, Phật giáo kết nối với nhiều tổ chức, cá nhân tham gia ủng hộ, tạo nên tính liên kết xã hội rộng rãi. Ý nghĩa của điều này là khơi dậy lòng nhân ái, phát huy giá trị nhân bản, hình thành lối sống cao đẹp trong nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Trong giai đoạn 2002 - 2009, phòng khám đa khoa từ thiện Long Bửu đã khám và phát thuốc miễn phí cho 200.000 bệnh nhân nghèo, không chỉ trong tỉnh Bình Dương mà còn ở nhiều tỉnh thành khác. Trong 5 năm qua, Phòng này đã khám, điều trị, cấp thuốc miễn phí cho nhiều đối tượng xã hội, tặng trang thiết bị cho cơ sở y tế ở các địa phương nghèo với tổng giá trị trên 8,5 tỷ đồng. 
Như vậy, những hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo mang đến cho con người sự hỗ trợ vật chất trong lúc cần thiết, đồng thời cũng là một niềm an ủi tinh thần lớn lao cho những ai được tiếp cận, thụ hưởng. Cùng với nhà nước và các tổ chức khác trong các hoạt động từ thiện xã hội, giáo hội Phật giáo Việt Nam đã hỗ trợ người dân, góp phần lớn cho việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội của nước ta. Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động an sinh xã hội: An sinh xã hội và phúc lợi xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường, vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội không chỉ là bảo vệ quyền của mỗi người dân như đã nêu trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, mà còn là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, mức độ, quy mô, phạm vi an sinh xã hội và phúc lợi xã hội của các nước có sự khác nhau, tuỳ thuộc vào quan niệm, chế độ chính trị - xã hội, trình độ phát triển và chính sách của mỗi quốc gia. Những hoạt động hành thiện, giúp người, cứu đời của Phật giáo Việt Nam mang một ý nghĩa quan trọng, góp phần cùng nhau nỗ lực thực hiện an sinh, phúc lợi xã hội vì sự phát triển cộng đồng, thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa đạo với đời, phản ánh rõ nét chức năng xã hội của Phật giáo. 
Việt Nam đã đạt được những thành tựu về kinh tế - xã hội đáng ghi nhận. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn một số vấn đề xã hội đang nổi cộm như tình trạng nghèo đói và kết quả giảm nghèo chưa bền vững. Đời sống người nông dân còn rất bấp bênh, xã hội nông thôn Việt Nam còn nhiều khó khăn và buộc phải có chính sách giải quyết thỏa đáng, căn cơ từ đói nghèo cho đến giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, môi trường,… Tình trạng ô nhiễm môi trường khá nặng nề làm thiệt hại sản xuất, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Các cơn bão hằng năm đổ bộ vào nước ta, đặc biệt ở miền Trung, ngày càng dữ dội và tàn phá nặng nề. Những vấn đề xã hội trên và nhiều vấn đề khác nữa đang là những trở ngại cho quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. Giải quyết những vấn đề này không phải là chuyện đơn giản, không hẳn là công việc của nhà nước mà còn cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội. Vì vậy, Phật giáo Việt Nam với tư cách là một tổ chức xã hội sẽ là lực lượng quan trọng để góp phần giải quyết hiệu quả những vấn đề xã hội đang đặt ra, từ đó mang lại cuộc sống bớt ưu phiền hơn cho những người không may bất hạnh và khốn khó trong xã hội. 
Với tinh thần từ bi, cứu khổ cứu nạn những tăng ni, Phật tử ở nước ta đã và đang nỗ lực không ngừng góp phần khắc phục những vấn đề xã hội nóng bỏng hiện nay. Để làm được điều này, thứ nhất, rất cần phải nâng cao nhận thức về công tác từ thiện. Hoạt động từ thiện thường được nhiều người hiểu một cách đơn giản là đem quà cứu trợ đến cho người nghèo, hoặc người dân gặp thiên tai mà chưa đem lại sự thay đổi tận gốc rễ. Vì vậy, cần phải xây dựng nhiều hình thức từ thiện giúp người dân khắc phục tư tưởng thụ động, chờ đợi được nhận quà như khuyến khích người dân tham gia sản xuất nhằm có vốn tích lũy, giúp nhau sản xuất, làm ăn kinh tế. Thứ hai, xây dựng các chương trình, kế hoạch dài hạn và ngắn hạn trong hoạt động từ thiện tránh tình trạng “mạnh ai nấy làm” hoặc thụ động chờ đợi, tất cả cũng chỉ nhằm huy động tối đa sức mạnh của tập thể tăng, ni, Phật tử. Thứ ba, cần có hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ làm công tác từ thiện xã hội. Các tăng, ni, Phật tử và cơ sở làm công tác từ thiện xã hội phải được đào tạo nghiệp vụ. Đặc biệt, Giáo hội cũng cần quy hoạch đào tạo nhân sự cho ngành từ thiện để người làm công việc này có kiến thức chuyên môn về công tác xã hội, công tác quản lý, để họ đề ra dự án có căn cứ, có tính thuyết phục và thiết thực phục vụ lợi ích của Phật giáo và dân nghèo.
Qua những việc làm nghĩa tình, chúng ta nhất định sẽ gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp trong việc hóa giải những đắng cay, xóa nhòa ranh giới giàu - nghèo, sang - hèn; thực hiện công bằng dân chủ, văn minh. Với phương châm “Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc”, trải qua 37 năm thành lập với truyền thống “hộ quốc an dân”, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã luôn đồng hành với những thăng trầm của đất nước. Tôn chỉ của Phật giáo là “Phật Pháp bất ly thế gian giác”. Từ thiện chỉ là một trong muôn việc mà Phật giáo đóng góp cho cộng đồng để chung sức nâng cao mức sống người dân, phát triển giáo dục, văn hoá, điều kiện giao thông, xây dựng nông thôn mới mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra.
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. K.Sri.Dhamananda (2006), Chúng ta phải làm gì trước những tệ nạn xã hội, Thích Tâm Quang dịch, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
  2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2002), Kinh Dược Sư bổn nguyện công đức (âm-nghĩa), Thích Huyền Dung dịch, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
  3. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2008), Kinh Diệu pháp Liên Hoa, Thích Trí Tịnh dịch, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
  4. Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Hội đồng Trị sự (2012), Kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 - 2011), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội. 
  5. Trần Hồng Liên (2010), Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tp. HCM.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây