52. VĂN HÓA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRONG VĂN HÓA VÙNG NAM BỘ: TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI

Thứ bảy - 08/09/2018 20:31
VĂN HÓA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRONG VĂN HÓA VÙNG NAM BỘ: TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI

PGS.TS. Phan Thị Hồng Xuân*
Đồng Quang Quân**
Dẫn nhp

Việt Nam là quốc gia đa tộc người, đa văn hóa và đa tôn giáo. Mỗi tộc ngưi đu có những nét văn hóa riêng tạo nên nét thống nhất trong đa dng với văn hóa chung của quốc gia dân tộc Việt Nam. Đối với văn hóa của người Khmer ở Nam B, nét đặc trưng mà chúng tôi muốn nói đến và chia sẻ đó là văn hóa Phật giáo Khmer.

Vùng đất Nam Bộ thuộc hạ lưu sông Mê Kông, sông Vàm Cỏ, sông Đng Nai, tiếp giáp Biển Đông, gồm 19 tỉnh, thành phố. Nam Bộ có đường biên giới trên bộ giáp với Campuchia; có vùng lãnh hải rộng ln, giáp với các nước Philippines, Malaysia, Thái Lan, Campuchia. Dân số toàn vùng hiện nay có trên 30 triệu người, chiếm hơn 1/3 n số cả nước(1). Tộc người Khmer ở Nam Bộ có khong 1,3 triệu người, sinh sống ở các tỉnh, thành Nam Bộ, trong đó tập trung đông nhất ở 9 tnh, thành Tây Nam

Bộ: Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ. Không gian cư trú truyền thống của người Khmer là phum, sóc với lối sống quần cư


* Trường Đại hc Khoa hc Xã hi và Nhân văn, Đại hc Quc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
** Hc viên cao hc Hc viện Chính trị Quc gia Hồ Chí Minh
1 Phlc số liu kèm theo Báo cáo s04-BC/DTTG ngày 09/02/2011, Báo cáo tổng hp số liệu dân tc-tôn giáo năm 2011, ca Vụ Dân tộc-Tôn go, Ban Chđạo Tây Nam Bộ.
 
xung quanh ngôi chùa. Hầu hết đồng bào Khmer theo Phật giáo Nam tông, toàn vùng có 453 ngôi chùa Khmer, với số lượng chư tăng dao động hàng năm trên dưi 9.000 vị(1). Qua quá trình cư trú lâu đời, cùng với sự giao lưu văn hóa, người Khmer đã mở rộng không gian cư trú và sống xen kẽ với các tộc người Kinh, Hoa, Chăm. Chính vì sống xen kẽ với các dân tộc khác nên việc giao lưu tiếp biến văn hóa của người Khmer nơi đây ngày càng diễn ra mnh mẽ hơn trước. Hiện nay, theo thống kê và quan sát
của chúng tôi, người Khmer sinh sng chủ yếu bằng nghề ruộng ry, một số ít theo nghề thủ công, buôn bán hoặc làm các ngành nghề khác như: công nhân, viên chc, giáo viên, nghệ sĩ,… cũng có một số ngưi tham gia vào hệ thng chính trị, quản lý Nhà nước. Nhìn chung, đi sống kinh tế của người Khmer ở Nam Bộ còn khó khăn, trình độ dân trí thấp hơn so với các tộc người Kinh và Hoa trong vùng. Điều này có thể được phân tích và lý giải dưới góc nhìn của Nhân học Văn hóa và ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sng của người Khmer.


Phật giáo Nam tông đến với đồng bào Khmer như một cái duyên. Bởi l, “trước khi Phật giáo du nhập thì đạo Bà La Môn đã được truyền đến Phù Nam. Sau vương triều Phù Nam là vương triều Chân Lp, Phật giáo Bắc tông đi theo các thương gia Ấn Độ đến xứ sở này và Phật giáo Đại thừa – Bắc tông đã một thời thịnh hành ở đây. Song, từ sau thế kỷ XIII-XIV, do một hoàng tử Campuchia truyn bá Phật giáo Nam tông vào mnh đất này. Li thêm sự thất bại của người Khmer trước người Xiêm và sự suy tàn của đế chế Angkor nên người Khmer đã chấp nhận Phật giáo Nam tông nmột tôn giáo cu cánh của mình. Theo

1 Vụ Dân tộc - Tôn go, Ban Chđạo Tây Nam Bộ, Báo cáo tổng hp số liệu n tộc – tôn giáo m 2011.
 
đó, Phật giáo Bắc tông đã nhường chỗ cho Phật giáo Nam tông từ Sri Lanka và Miến Điện truyền xuống với giáo luật chặt chẽ và những bộ kinh nguyên thy cha đựng giáo lý thực hành phù hợp với tộc người này. Cũng kể từ đó, Phật giáo Nam tông được truyền vào người Khmer sinh sống tại đồng bằng Nam Bộ Việt Nam(1). Phật giáo được người Khmer tiếp nhận, cộng hưởng với văn hóa sẵn có của người Khmer, tạo nên một sắc thái văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer để ri quay trở li chi phối mọi mặt
trong đời sống của người Khmer ở Nam Bộ. Trong quá trình thâm nhập và phát trin này của Pht giáo, tư tưởng Phật giáo đã ăn sâu vào tâm thức của người dân Khmer ở Nam B. Văn hóa tôn giáo và văn hóa Khmer tác động qua lại lẫn nhau, quyn chặt vào nhau như một thc thể không thể tách rời, tạo nên một nét văn hóa riêng có của Phật giáo Nam tông Khmer, của tộc người Khmer và của vùng Nam Bộ.

Theo đó, những giá trị văn hóa, những thiết chế văn hóa của Phật giáo Nam tông Khmer không chỉ có ảnh hưng sâu sắc đến nhiều mặt đi sống của người Khmer ở Nam Bộ, mà còn tác động đến văn hóa chung của cả vùng Nam Bộ trên nhiều phương diện, cấp độ khác nhau. Phật giáo Nam tông Khmer có nhiều nét văn hóa đặc sắc, mang bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng trong phm vi bài viết này, chúng tôi chđề cập mt vài nét văn hóa của Phật giáo Nam tông Khmer như: vai trò của ngôi chùa, tục đi tu theo Phật giáo Nam tông Khmer trong mi quan hvi văn hóa vùng Nam Bộ.






1 Nguyn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam B, Nxb. Tôn go, Hà Ni, tr. 62.
 
  1. Vị trí ca ngôi chùa trong đời sống văn hóa tinh thần - xã hội của người Khmer ở Nam Bộ

Nói đến Phật giáo Nam tông Khmer là nói đến chùa, lễ nghi, sư sãi và Phật t. Người Khmer luôn rất tự hào về ngôi chùa của mình. Ngôi chùa không chỉ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, mà còn là trung tâm sinh họat văn hóa của cộng đồng Khmer. “Đây không chỉ là nơi để mọi người bày tỏ lòng thành kính với Đc Phật, mà còn là trung tâm phum, sóc, nơi cộng đồng dân cư tụ họp chung sức cùng nhau gánh vác chia sẻ những
khó khăn trong cuộc sống đời thường(1). Vì vy, ở Nam Bộ có
đến 453 ngôi chùa Pht giáo Nam tông Khmer, với lối kiến trúc độc đáo mang đm nét văn hóa ca Pht giáo Nam tông Khmer, các quần thể chùa đã góp phần làm cho bức tranh văn hóa của vùng đồng bằng Nam Bộ thêm phong phú(2).

Chùa Pht giáo Nam tông Khmer thường tọa lạc trên một khu đất rộng lớn, xung quanh có trồng nhiều loi cây to như dầu, sao, thốt nốt, cây ăn quả... vừa tạo quang cảnh thoáng đãng, mát mẻ, vừa tạo nên khu rừng nhỏ quanh chùa làm tăng thêm vẻ tôn nghiêm, trầm ảo của nhà Phật. Toàn thể ngôi chùa được quan nim là một trái núi. Trong khuôn viên chùa còn có các loại hoa, kiểng trang trí làm tăng thêm vẻ đẹp của cảnh chùa. “Không khí chùa thường tĩnh lặng, trm mặc và hoang dã vào ngày thường; ngược lại, vào ngày lễ hội hoặc những dịp sinh hoạt truyền thống






 
  1.  
  1. Nguyn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam B, Nxb. Tôn giáo, Hà Ni, tr. 91.
  2. Vụ Dân tộc - Tôn go, Ban Chđạo Tây Nam bộ (2011), Báo cáo tổng hp số liệu n tộc - tôn giáo m 2011.
 
thì  không  khí  ở  đây  lại  rất  tưng  bừng,  náo  nhiệt  và  trang trọng(1).

Mỗi ngôi chùa Khmer là một công trình kiến trúc đặc sắc, là sự tập hợp những tinh túy, toàn vẹn của giá trị văn hóa tạo hình, những yếu tố kết chặt hòa quyn vào nhau tạo thành một thể thống nhất có giá trị cao về mặt thm m. Mỗi ngôi chùa Khmer là một tổng thể kiến trúc mang đm màu sắc Pht giáo Nam tông, gần như mi chi tiết (tầng, bậc, hoa văn,...) đều mang ý nghĩa tôn giáo. Chùa bao gm các khu vực chính như: chính điện, Sa la, thư viện, tăng xá, liêu (tp, là nơi tham thin của các vị sư), phòng học, nhà bếp, sân chùa, cột cờ, vườn hoa, cổng, tháp cốt, lò hỏa táng,... Thiết chế quần thể ngôi chùa như trên cho thy, ngôi chùa không chỉ là nơi tu hành của các nhà sư, còn là nơi tổ chc các lễ hội tôn giáo, lễ hội truyn thống của tộc người, là nơi lưu giữ các thư tịch cổ, là nơi đón tiếp khách thp phương, là nơi tổ chc dy học của các chư tăng, con em đồng bào dân tộc; ngoài ra còn là nơi gởi tro ct ca người Khmer khi họ qua đời. Có thể nói, ngôi chùa không chỉ là chỗ dựa tinh thần của đồng bào Khmer trong hiện tại, mà còn là nơi chu toàn cho cuộc sống đời sau của bao thế hệ ngưi Khmer. Chính những điều đó đã làm cho ngôi chùa Khmer khác với ngôi chùa Phật giáo của các dân tộc khác. Người Khmer luôn ý thức về bổn phận của cá nhân đối với việc chăm lo cho ngôi chùa nơi mình sinh sống với nim tin rằng chỉ có một phương cách duy nhất mang lại hạnh phúc cho cuộc đời sau này nếu biết chăm lo toàn tâm toàn ý đối với ni chùa và tham gia các hoạt động ở chùa. Với lối kiến trúc đặc thù, cùng với những li kinh kệ của các vị

1 Nguyn Mạnh Cường (2002), Vài nét vngưi Khmer Nam Bộ, Nxb. Khoa hc xã hi, Hà Ni, tr. 107.
 
sư đã làm cho ngôi chùa Khmer trở thành một không gian thiêng liêng, thóat tục có thể làm cho con người thư giãn, gạt bỏ mệt nhọc đời thường để tận hưởng những giây phút tĩnh lặng cần thiết, để rồi lại tiếp tục lao vào cuộc mưu sinh đy khó khăn, bất trắc một cách lạc quan hơn, như đã được củng cố thêm nim tin trong cuc sống. Do vậy, có thể khẳng định, chùa là biểu tượng đặc trưng cho văn hóa tộc người Khmer. Người Khmer xem ngôi chùa là nơi thiêng liêng, trang trọng, nơi tp trung những gì tinh túy nhất của dân tộc.

Ở những vùng quê xa xôi, hẻo lánh, nơi mà điều kiện kinh tế của bà con Khmer còn khó khăn, nhà ca, công trình xã hội còn thô sơ, ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer ni lên như mt công trình đồ sộ nhất, là trung tâm sinh hoạt văn hóa chung cho cư dân trong vùng, là nim hãnh din không chỉ của đồng bào Khmer mà còn là biểu tượng văn hóa chung cho cả vùng, được cộng đng dân cư tôn kính và bảo quản.

Ở những nơi đô thị, ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer cùng với những công trình của các tôn giáo, các dân tộc khác tạo nên một tổng thể văn hóa đa dạng, phong phú, góp phn làm cho nét đẹp đô thị ngày mt rạng rỡ. Những ngôi chùa ở đô thị còn là nơi bảo bọc cho con em Khmer ở vùng sâu, vùng xa đến đây để học hành hoặc đang trong quá trình tìm việc. Cứ thế, ngôi chùa bảo bọc hết nm người này đến nm ngưi khác. Gn như hu hết con em người Khmer ở các vùng xa xôi lên thành phố đều được cư trú trong các ngôi chùa; được các nhà sư dy bảo, quản lý. Do vy ở chùa, tu chùa đối với người Khmer chính là giy chng nhận có giá trị nhất trong cộng đng và gia đình. Gia đình nào có con gửi học ở chùa đều cảm thy rất an tâm, không sợ sự
 
ảnh hưởng, tiêm nhiễn của cái xấu ngoài xã hội. Si dây kết nối này cứ như thế kéo dài mãi vì sau khi các em học sinh, sinh viên học hành thành đạt, có công việc ổn định, họ sẽ có nghĩa vụ quay trở lại để hỗ trợ, đóng góp xây dựng hoặc dâng cúng vật thực để tạ ơn các sư, tạ ơn ngôi chùa nơi đã từng bảo bọc họ trong những c khó khăn, cần sự che chở, giúp đỡ....

Ngày nay, một số ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer còn được Nhà nước, chính quyn địa phương hỗ trợ về cơ sở vt chất để có thể phát huy thêm chc năng thiết chế văn hóa – xã hội, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, nâng cao cm thụ sáng tạo văn hóa của đồng bào Khmer. Đồng thời, thông qua ngôi chùa và các vị sư làm cầu ni để tuyên truyn, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, từng bước nâng cao đời sng dân trí, nâng cao nhận thức pháp luật cho bà con Khmer, nhất là ở vùng sâu, vùng xa điều kiện tiếp cận văn hóa còn khó khăn.

Có thể thy, đối với người Khmer, tộc người và tôn giáo là hai yếu tố không thể tách rời. Một người Khmer đồng nghĩa với mt tín đồ Phật giáo. Ngôi chùa Khmer không chỉ có chc năng tôn giáo mà còn thực hiện đồng thời nhiều chức năng khác như văn hóa, giáo dục, ckết cộng đồng.

Điều đặc biệt là tính cố kết cộng đồng ở đây không dẫn tới sự tách biệt ra khỏi cng đồng tộc người Kinh chiếm đa số và các tộc người khác. Quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa được diễn ra dưới tác động của chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử đã làm cho quá trình tộc người và các động thái văn hóa ở vùng đất Nam Bộ đi đúng quđo tốt đẹp, tránh được
 
những xung đột từ sự khác biệt văn hóa, tôn giáo đã và đang xy ra ở các nước đa tộc người trong khu vực và trên thế giới. Theo đó, ngôi chùa Phật giáo Khmer trở thành địa điểm du lịch tâm linh lý tưởng để khách thập phương (không phân biệt tôn giáo, tộc người) dừng chân tham quan, chiêm ngưng, tìm hiểu về văn hóa người Khmer ở Nam Bộ. Trong thực tế, đã từ rất lâu hình ảnh ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer không còn là biểu tượng văn hóa xa lạ đối với cư dân ở đồng bằng Nam Bộ nói riêng, người dân Việt Nam nói chung. Không chỉ có ngưi Khmer mới thể hiện sự tôn kính đối với ngôi chùa của mình, mà còn hầu như tất cả người dân nơi đây đu xem ngôi chùa Khmer là chốn linh thiêng về tâm linh; có giá tri mỹ thuật cao về kiến trúc.

Chính nhng nét đặc thù trên mà ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer dưng như chứa đng cả nét đẹp văn hóa vật thể và phi vật thể, làm phong phú thêm nét đẹp văn hóa của vùng Nam Bộ nói riêng và làm đa dạng, đm đà bản sắc văn hóa Việt Nam nói chung.
  1. Ý nghĩa của việc đi tu đối với nam giới Khmer Nam Bộ: truyền thống và biến đổi

Trong Pht giáo Nam tông Khmer, sư sãi mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhà sư là người đại din cho Đc Pht để chng giám những hành động, lòng thành kính của tín đ, là cầu nối giữa tín đồ với Đc Phật. Trong tâm thức đồng bào Khmer ở Nam Bộ, sư i luôn được tôn trọng tuyệt đối. Chính vì thế, vị trí của nhà sư trong cộng đồng rất cao; thực hin vai trò không chỉ nhận sứ mệnh hóa đo mà còn là người hướng dẫn tín đồ về tín ngưỡng, văn hóa, giáo dục,... trong đó vic giáo dục con em
 
đồng bào trong cộng đồng được coi là một nội dung quan trọng. Sư i chính là người thy trong các trường chùa, trực tiếp trang bị kiến thức văn hóa, nghề nghiệp cho con em người Khmer những hành trang trước khi bước vào cuộc sống trưởng thành.

Theo quy đnh ca giáo luật Phật giáo Nam tông Khmer, chỉ có nam gii mi đi tu ở chùa, nữ giới không được xuất gia. Đã là nam giới ngưi Khmer thì hầu như ai cũng phải vào chùa tu một thời gian, việc tu trước hay sau là tùy ở hoàn cảnh từng người, thời gian tu dài hay ngắn là tùy duyên, không có một quy định nào cụ thể về thời gian tu. Theo quan nim của người Khmer, việc ngưi nam giới đi tu là để học lễ nghĩa, học làm người. Họ quan nim người con trai phải đi tu mới có đạo đức, có Phật tính, có hiu biết.

Do quy định này, nên hầu hết thanh thiếu niên, đàn ông Khmer trong thời gian tu ở chùa đu được trang bị triết lý Phật giáo, được sống và hành động theo triết lý nhà Phật. Sau khi xuất tu, họ vẫn sẽ phải tiếp tục sống theo đạo đức Phật giáo, nên xã hội Khmer là một xã hội mà mọi người được dy dỗ cách sống trong môi trường của nim tin và hành động theo triết lý nhà Phật. Người Khmer “khi vừa chào đời mặc nhiên được xem là n đồ của Phật giáo, từ bé đã được cha mẹ giáo dục nếp sống theo triết lý sống của Phật giáo, bởi thế người Khmer con tiếp
cha, đời tiếp đời, sống trong niềm tin theo triết lý Phật giáo(1).
Có lẽ nhờ vy mà tộc người Khmer có được sức đề kháng có thể giữ được tương đối bền vững văn hóa truyền thống trước văn hóa ngoại lai xâm nhập.



1 Nguyễn Mạnh Cưng (2008), Phật giáo Khmer Nam B, Nxb. Tôn go, Hà Ni, tr. 94.
 
Tuy nhiên, trong thời đại hội nhập thế giới và sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, những nét đẹp của văn hóa truyn thống đó cũng đang đứng trước những thách thức. Theo những con số thống kê mà chúng tôi có được(1), những năm gn đây, số lượng các sư đến chùa tu giảm dần theo thời gian, nhiều thanh thiếu niên Khmer không mặn mà với việc vào chùa tu. Điều này cho thy, thế hệ trẻ ngày nay, những người kế thừa di sản văn
hóa truyền thống của dân tộc có xu hướng xa rời truyền thng. Họ nhận thức và hành xử rất khác với các thế hệ trước. Qua tiếp xúc với những thanh niên người Khmer, phân tích vấn đề theo quy luật biện chứng về sự phát triển ca thời đại và các lý thuyết về văn hóa, chúng tôi đã có được những lý giải vì sau họ chọn phương thức sống khác với xã hi truyền thống.

Thứ nhất: Trong bối cnh hội nhập thế giới và sự phát triển của công nghệ thông tin, thế giới gần như nhỏ hơn và theo đó các nền văn hóa đại chúng vi sự hiện đại đã tác động đến thế hệ trẻ (không chỉ riêng gì người Khmer). Họ bắt đầu có sự so sánh với cái truyền thống mang đặc tính tĩnh và ít biến đổi theo thời gian. Theo đó, không ít thanh niên Khmer chn phong cách sống hiện đại; tìm kiếm cơ hội để phát triển tự do cá nhân. Những thanh niên Khmer mà chúng tôi đã tiếp xúc bộc bạch: để tồn ti trong thời đại hiện nay, đòi hỏi phải trang bị nhiều kiến thức và công cụ, kỹ năng làm việc, nhưng nếu vào chùa tu thì sẽ m chm đi quá trình hội nhập của họ và cũng có thể làm cho cơ hội phát triển của họ bị hn chế hơn so với thanh niên các dân tộc khác.



1 Vụ Dân tộc - Tôn go, Ban Chđạo Tây Nam bộ, Báo cáo tổng hp số liệu dân tộc – tôn giáo m 2011, Cần Thơ.
 
Thứ hai: trong thời đại phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ như ngày nay, thanh niên Khmer cũng như hầu hết thanh niên của các dân tộc khác, mong muốn đưc tiếp cận khoa học, kỹ thuật, tiếp cận công nghệ tiên tiến trên thế giới đmmang kiến thức, khám phá thế giới cũng là to cơ hội phát triển bản thân, thăng tiến nghề nghiệp... Chức năng giáo dục trong chùa dường như không đủ trang bị hành trang cho họ đm bảo cuộc sống tốt hơn sau này, đặc bit trong giai đoạn hiện tại buộc phải cạnh tranh, ganh đua để tiến thân.

Thứ ba: dân số ngày mt đông hơn, đất đai không nở ra, chính quyn thực hiện quá trình đô thị hóa, gim đất canh tác nông nghiệp,… trong khi đó nghề nghiệp truyền thống của ngưi Khmer ở Nam Bộ là trồng lúa nước. Không có đất để phát triển kinh tế nông nghiệp, họ phải tìm cách sinh kế khác để đm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình mình. Ở nguyên nhân này, không phải họ không muốn vào chùa tu theo truyền  thống, nhưng do nhu cầu cuộc sống, họ buộc phải có sự lựa theo hướng thích nghi với điu kin mới. Tuy thanh niên Khmer ít vào chùa tu, nhưng điều này không đồng nghĩa là họ đoạn tuyệt với ngôi chùa. Vào những ngày lễ hội tôn giáo, lễ hi truyn thống của dân tộc, họ vẫn vào chùa kính sư, lễ Phật một cách thành kính.

Thứ tư: xã hi ngày càng tiến bộ, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng đy đủ hơn; cuộc sống trần tục (theo quan nim tôn giáo) có quá nhiu cám dỗ. Khi chưa kịp vào chùa tu, họ đã sm tiếp cận và quen dần với lối sống thực dụng, do vy không còn mặn mà, chuyên tâm đến việc tu hành.
 
Hội nhập và phát triển là yêu cầu của thời đại nhưng phát triển theo cách nào, trên nền tng văn hóa – là vốn quý của dân tộc hay phát triển bằng cách phủ nhận sạch trơn vẫn đang là những bài toán đặt ra với các quốc gia đang phát triển và các quốc gia đa tộc người. Trong xu thế và bối cảnh hiện nay, chúng tôi cho rằng, người Khmer đang chu một sự tác động kép: hội nhập quc gia và hội nhập thế giới, đi liền theo nó có cả cơ hội lẫn thách thức. Trong xã hội hiện nay và quá trình đô thị hóa, người Khmer không cmãi co cm trong không gian văn hóa – xã hội truyn thng phum, sóc. Thay đi không gian sinh tồn và phương thức sống sẽ tác động đến bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có việc duy trì các thiết chế văn hóa – giáo dục – xã hội qua ngôi chùa Khmer. Theo chúng tôi, việc cần làm hiện nay là tăng cường giáo dục tinh thần đoàn kết cho thanh thiếu niên Khmer, tuyên truyn chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đm đà bản sắc dân tộc; tạo cơ hội việc làm phù hp với tập quán văn hóa tộc người; nâng cao vai trò của các sư nhm thực hiện các chc năng chính của chùa: dy đạo đức, cố kết tộc người... ; chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, con người,… giúp các chùa Khmer thực hiện tốt các chức năng theo truyền thống trước xu thế thế tục hóa.

Kết luận


Phật giáo Nam tông là tôn giáo chiếm vị trí quan trọng và độc tôn trong đời sng tôn giáo của người Khmer ở Nam Bộ. Trải qua bao thăng trầm, biến đổi của lịch sử, đồng bào Khmer vẫn giữ được bản sắc văn hóa đặc thù của tôn giáo, dân tc mình
 
góp phần làm cho bức tranh văn hóa Nam Bộ của các tộc người nơi đây thêm phong phú và độc đáo. Trong thời đại toàn cầu hóa như ngày nay, văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa các dân tộc nói riêng, trong đó có văn hóa truyền thống Khmer đang đứng trước những thách thc lớn, nguy cơ mất văn hóa… đã được nhận định trong các văn kiện Đại hội Đảng. Qua bài viết này, chúng tôi muốn góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị văn hóa Phật giáo tốt đp làm nên nét đc sắc ca văn hóa Nam Bộ nói chung và văn hóa của người Khmer ở Nam Bộ nói riêng cũng như những nguyên nhân có thể là nguy cơ và tác nhân dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức của thanh niên Khmer Nam Bộ ngày nay về vai trò của ngôi chùa trong xã hội hiện đại. Để ngôi chùa vẫn có thể là trung tâm văn hóa – giáo dục tích cc của người Khmer ở Nam Bộ trong giai đoạn phát triển mới, cần có sự nhận thức đúng đắn, khách quan và khoa học cũng như phối hợp thực hiện từ nhiều phía.


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
  1. Phan An (2003), Văn hóa các dân tộc ít người ở Đồng bằng sông Cửu Long trong sự phát triển bền vng, TP. Hồ CMinh.
  2. Nguyễn Mạnh Cường (2002), Vài nét về người Khmer Nam Bộ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Ni.
  3. Nguyễn Mạnh Cưng (2008), Phật giáo Khmer Nam B, Nxb.
Tôn giáo, Hà Nội.
  1. Phm Thị Phương Hạnh chủ biên (2012), Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Chính trQuốc gia, Hà Ni.
 
  1. Kyếu hội thảo khoa học: Xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc Khmer Nam B, TP. Hồ Chí Minh.
  2. Hunh Thanh Quang (2011), Giá trị văn hóa Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long (sách tham kho), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  3. Vụ Dân tộc - Tôn giáo, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ (2011), Báo cáo tổng hợp số liệu dân tộc – n giáo năm 2011.
  1.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây