51. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Thứ bảy - 08/09/2018 20:29
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN của Nguyễn Hữu Việt* 
 
 

Dẫn nhp

Phật giáo Nam tông Khmer từ ngàn xưa cho đến ngày nay có truyền thống giáo dục tự viện, tc đào tạo Tăng tài tại mỗi chùa, do sư phụ truyn dy lại cho đệ tử từ kiến thc thế, xuất thế cho đến phm hạnh.
Chùa không nhng là nơi tôn nghiêm, ngưng vọng đạo lý Phật Thích Ca Mâu Ni, là trung tâm sinh hoạt văn hóa theo phong tục tập quán cổ truyn, nơi tổ chc các lễ hội ln như Chôl Chnăm Thmây, Sen Đôl ta, Ok om bk…, mà còn truyn dy cho Phật t, dy chữ Pali, dy kinh Phật cho các tăng sinh, dy chữ Khmer cho hc trò.
Trong cộng đng ngưi Khmer ở Nam Bộ, giáo dục trưng chùa đã trở thành tập quán, là chc năng cnh (có lúc) của chùa, nhất là thi kỳ phong kiến trưng chùa là nơi duy nhất cung cấp kiến thc cho đồng bào Khmer.
Tháng 11/1981, Phật giáo Nam tông Khmer (Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ) là mt trong 9 tổ chc, hệ phái thành viên sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Từ đó, Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ nói riêng bước vào giai đoạn mi, hội nhập sinh hoạt trong đó có giáo dục Pht giáo trong xã hội mới, góp phần xây dựng và bo vệ Tổ quốc.
 
  1. Giáo dục Pht giáo Nam tông Khmer giai đoạn 1982-1992

Từ khi đng dưới ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam, công tác giáo dc Phật giáo Nam tông Khmer đã khi sắc bi sự kin Tnh hội Phật giáo Hậu Giang đã tổ chc 66 lp Pali cho 1.123 vị sư trẻ theo học trong nhng năm 1982-1987, đưc Giáo hội Phật giáo Việt Nam biểu dương tại Đại hội Phật giáo toàn quc kỳ II (Nhim kỳ 1987-1992)(1).
Nhng năm 1987-1992, việc ym trợ cho Phật giáo Nam
tông Khmer mmt trưng Trung cấp Phật học vi chương trình giảng dy và học tập riêng cho hệ phái này là nhu cầu cấp thiết, mặc dù Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã nhắc nhở nhiều lần, nhưng đến 1991 vẫn chưa đưc xúc tiến thc hiện(2).
  1. Giáo dục Pht giáo Nam tông Khmer giai đoạn 1992-2013

Có thể nói, công tác giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer có sự chuyển biến mnh mẽ trong hai thập niên gần đây.
    • Giai đoạn 1992 1997: Chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer c tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, đưc sgiúp đca cnh quyn, Mt trn Tquc, Ban Dân tc ở Trung ương và đa phương, Go hi Pht giáo Vit Nam đã mcác lp Pali và Vini sơ cấp (1.700 tăng sinh), Trung cp (425 tăng sinh), Cao cp Pht học Pali (156 tăng sinh), tng cng gn 2.500 chư ng Khmer theo hc. Các lp này đang hot động có nnếp và đạt hiu qukhquan, góp phn tt đẹp o chương trình giáo dục
tăng ni của Giáo hi(3).
    • Giai đoạn 1997-2002: Đưc sự giúp đỡ của các cơ quan
 
  1.  
  1. Kyếu Đi hội Pht giáo toàn quc kỳ II nhiệm kỳ 1987-1992, Giáo hi Phật giáo Việt Nam xut bản 1992.
  2. Nguyn Đại Đồng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đi hội đến Đại hi, Nxb. Tôn go, 2012
  3. Nguyn Đại Đồng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đi hội đến Đại hi, sđd.
 
lãnh đạo, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, Ban Dân tộc ở Trung ương và đa phương, Giáo hội Pht giáo Việt Nam, chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer ti các tnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, đã mở các lp Vini sơ cấp và Pali. Tại Kiên Giang và Sóc Trăng có 2.500 tăng sinh, lp Cao cp Phật học Pali tại Trà Vinh có 500 tăng sinh, tng cng có 3.000 chư tăng Khmer theo học.
Các lp bổ túc văn hóa được hình thành tại c chùa ở khu vc Đồng bằng sông Cu Long, có hơn 1.000 tăng sinh, học sinh theo học, góp phần tốt đẹp vào chương trình giáo dục tăng ni của Giáo hi(1).
- Giai đoạn 2002-2007: Phật giáo Nam tông Khmer các tnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Vĩnh Long đưc sự giúp đỡ của các cơ quan lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tquốc, Ban Dân tộc ở Trung ương và đa phương, Giáo hội Pht giáo Việt Nam đã mở lp Vini và Pali trung cấp, sơ cấp, Khmer ngữ và bổ túc văn hóa cấp 1, 2, 3, mlp dy Anh văn, tin học cho chư tăng Nam tông Khmer.
Tnh hội Phật giáo Bạc Liêu thành lập Trưng Phật học Bạc Liêu năm 2002 (QĐ 970/QĐUB ngày 14/10/2002). Đây là trưng Pht học duy nhất ở Nam Bộ có dy cả hai chương trình Bắc tông và Nam tông Khmer.

+ Thành phố Cần Thơ: hiện có 3 lp hc Pali sơ cấp, vi 66 tăng sinh theo học.
+ Trà Vinh: qua 5 năm hoạt động, đã tổ chc đưc 266 lp, có 5.055 tăng sinh tham dự.
+ Kiên Giang: lp Pali sơ cấp có 879 hc viên, lp Kinh -



1 Nguyn Đại Đồng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đi hội đến Đại hi, sđd.
 
Luận - Gii có 1.295 học viên, Lp Khmer ngữ có 21.600 học viên.
+ Sóc Trăng: qua 5 năm đào to, có trên 200 tăng sinh tốt nghiệp Trung cấp cả hai hệ văn hóa phổ thông Pali và Khmer ng, có 219 lp Sơ cấp Pali vi 3.185 tăng sinh dự học.
+ Vĩnh Long: có 7/13 chùa Nam tông Khmer tổ chc lp Sơ cấp Pali dành cho chư tăng Nam tông Khmer trong tnh.
+ An Giang: có 3 lp Sơ cấp Pali, vi 104 sư sãi theo học.
+ Bạc Liêu: có 7 lp Sơ cấp Phật học dành cho chư tăng Nam tông Khmer.
+ Cà Mau: có 3 lp Pali, vi 56 sư sãi theo hc.
Ngoài ra, đa s các chùa Nam tông Khmer đều tổ chc dy tiếng dân tộc cho con em đồng bào từ 8 đến 15 tuổi. Việc tổ chc thành công các lp học nêu trên đã góp phần hoàn thin chương trình giáo dục tăng ni của Giáo hi(1).

- Giai đoạn 2007 - 2012: Trưng chùa - nền giáo dục văn hóa của Phật giáo Nam tông Khmer cũng có nhng hạn chế nhất đnh: ni dung giáo dc mt thi mang tính tích cc, nhưng khi xã hội phát triển vi nhng yêu cầu mi, nhiều nội dung lại không đưc điều chnh kp thi. Nm bắt đưc thc tế đó, Phật giáo Nam tông Khmer đưc sự giúp đỡ của các cấp chính quyn và của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tng bưc bổ sung nhng ni dung tích cc trong đào tạo sư sãi của hệ phái và góp phần giáo dục trong đng bào Khmer phù hp vi giai đoạn phát triển mi của đất nưc, nhưng vẫn giữ đưc nét truyền thống mang sắc thái riêng của đồng bào Khmer và hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer. Nhờ vy, công tác Giáo dục Phật giáo Nam



1 Nguyn Đại Đồng, 2012đd.
 
tông Khmer đã đạt đưc nhng thành tu tt đẹp trong nhng năm 2007-2012.
+ Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại thành phCần Thơ: Vi quyết m của toàn thể chư tôn đc Phật giáo Nam tông Khmer, sự quan tâm của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chính phủ và các bộ ngành Trung ương, chính quyền và các ban ngành thành phCần Thơ, quận Ô Môn, sđồng tình ủng hộ của đồng bào Khmer, Học vin Phật giáo Nam tông Khmer đưc thành lập năm 2006, nhm mục đích đào tạo chư tăng Nam tông Khmer có năng lc trình độ, chuyên môn và chuyên sâu cao ở cấp độ cử nhân. Sau khi tốt nghiệp Học viện, chư tăng sẽ trở thành ngưi hu dụng để phục vụ các công tác Phật sự của các cấp Giáo hội từ Trung ương ti đa phương, phục vụ cộng đồng Khmer hiệu quả. Năm 2007, Học viện bắt đầu chiêu sinh: Khóa 1 (2007-2011) có 61 tăng sinh tốt nghiệp cử nhân Phật học: 12,6% đạt loại giỏi, 55,2% đạt loại khá, 32,2% đạt trung bình; 30 tăng sinh theo học khóa II (2011-2015).
+ Từ trưng Trung cấp trở xuống: Đưc sự giúp đỡ của các cơ quan lãnh đạo chính quyền, Mặt trn, Ban Dân tộc ở Trung ương và đa phương; sự hỗ trợ quan tâm của Giáo hi và Ban Trị scác tnh, thành có Phật giáo Nam tông Khmer nCần Thơ, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Hu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, các chùa Phật giáo Nam tông Khmer đã tổ chc hàng trăm lp học cho chư tăng và thanh thiếu niên Khmer tại đa phương như sau: Tiểu học tiếng Khmer tlp 1 đến lp 6: 1418 lp, 32.538 chư tăng, thanh thiếu niên dân tc Khmer; Sơ cấp Pali, Vini, Sơ cấp Phật học có 5839 học viên; 5 trưng Trung cấp Pht học tại các tnh: Sóc Trăng (tại chùa Khleang mở thêm Trưng Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam
 
Bộ vi tng kinh phí trên 28 tỷ đng), Bạc Liêu, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh: 367 học viên; Lp Kinh - Luận - Gii: 1371 học viên.
Đa số các chùa tổ chc dy tiếng Khmer cho con em đồng bào ở độ tuổi 8-15. Vic tổ chc thành công các lớp học nói trên đã góp phần hoàn thin chương trình giáo dc tăng ni của Giáo hội(1).
Ngoài ra, nhiều vị tăng Nam tông Khmer theo học các trưng Cao đẳng, Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Trà Vinh vi các chuyên ngành luật, công nghệ thông tin, Anh ng, báo chí, một s khác đi du học tại các nưc Myanmar, Thái Lan, Ấn Độ, Campuchia, như năm 2010: tnh Trà Vinh có 59 v, Vĩnh Long có 14 v, Sóc Trăng có 5 v, Kiên Giang có 3 v(2)
Trải qua quá trình hội nhập và phát triển, tính đến nay, giáo
dục Phật giáo Nam tông Khmer đã thành lập đưc các trưng từ sơ cấp, trung cấp Phật học đến Học viện Phật giáo Nam tông Khmer chuyên đào tạo các sư Khmer.
Bên cạnh đó, các lp dy tiếng Khmer, Pali, Vini trong chùa vẫn đưc duy trì, hàng năm thu hút đưc hàng nghìn sư sãi, con em đồng bào Khmer theo học; các lp Tiểu học có số học viên lên đến hàng chc ngàn, các lp Sơ cấp Pali, Vi ni có đến hàng ngàn học viên, chưa kể các lp bổ túc văn hóa, các chương trình ánh sáng hè,Nền giáo dục đy hiệu quả này đưc thc hiện tại các trưng và đặc biệt tại các chùa ở Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu…

 
  1. Kỷ yếu Đi hội Phật giáo toàn quc kỳ VII nhiệm kỳ (2012-2017), Nxb. Hải Phòng, 2013.
  2. Lê Khánh, Phật giáo Nam tông Khmer sau 30 m trong ni nhà chung Giáo hi Phật giáo Việt Nam, trong Kỷ yếu Kniệm 30 m thành lp Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981-2011), Nxb. Tôn go, 2012.
 
Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các Tnh hội đã xúc tiến việc in ấn giáo án, giáo tài và kinh sách đọc tụng cho chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer và đồng bào Pht t. Vin ấn kinh sách, tính đến nay đã in ấn và cấp phát đưc 135.000 đầu sách các loại(1). Ban Trsự Tnh hội Phật giáo tnh Kiên Giang trong nhng năm va qua đã quan tâm tạo điu kiện hỗ trợ cho nhập về 27 bộ Tam Tạng Kinh từ Campuchia, nhận của Ban Tôn giáo Chính phủ hỗ trợ 25.510 quyển kinh sách.
Mt điều đáng mng là năm 2013, Hội đồng Trsự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập Phân ban Đặc trách Giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer trc thuộc Ban Giáo dục Tăng ni Trung ương, do Thượng tọa Danh Lung, Phó Trưng ban Giáo dục Tăng ni Trung ương kiêm Trưng Phân ban Giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer(2). Từ nay, công tác giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương ti cấp tnh, cấp huyn.
Bên cạnh nhng thành tu nói trên, có mt thc tế phi tha nhận là trong hthống giáo dục quốc dân, ngưi Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long có tỉ lệ ngưi đi học và trình độ học vấn còn khá thấp so vi mặt bằng chung của cả nưc, cũng như so vi ngưi Việt và ngưi Hoa ở trong vùng.
Điều này ngoài nhng nguyên nhân vlch s, kinh tế, xã hội của ngưi Khmer chi phối, còn liên quan không ít đến tôn giáo truyền thống của họ là Phật giáo Nam tông. Chính tinh thần và tình cảm Phật giáo vô cùng sâu rộng, bền chặt trong tâm thc

 
  1. Lê Khánh, Phật giáo Nam tông Khmer sau 30 m trong ni nhà chung Giáo hi Phật giáo Việt Nam, bđd.
  2. Quyết đnh vthành phn Ban Giáo dc Tăng ni Trung ương Giáo hi Phật giáo Việt Nam nhim k2012-2017, số 228/2013/QĐHĐTS do Hòa thưng Thích TTnh ký ngày 15/7/2013.
 
của cộng đồng và mi ngưi dân Khmer đã vô tình dẫn đến nhng hạn chế khó khăn trong việc phát triển hoạt đng giáo dục-đào tạo ở nhà trường. Họ luôn dành hầu hết tâm sc, của cải và thi gian cho Đức Phật, nhà chùa và các sinh hot tôn giáo, nên ít có sự quan tâm, xem trọng việc học tập. Trong khi đó, với tập quán đi tu, đàn ông Khmer ngay từ bé đã phải vào chùa và tập trung vào việc hc tập kinh kệ, giáo lý thay cho việc đến
trưng học chữ và các kiến thc giáo khoa(1).
Phật giáo Nam tông Khmer hin nay có hthống giáo dục học đưng, phù hp vi sự phát triển theo thi đại của Giáo hội và xã hi. Nhưng trong giảng dy học tập cả 3 cấp học về lưng và chất đều yếu kém so vi nhu cầu phát trin của Giáo hội, xã hội và quốc tế.

Thay cho lời kết


Hiện nay, đất nưc ta đang trên đà tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngưi dân Khmer ở Nam Bộ cũng không nm ngoài làn sóng đó. Họ nhận thc rằng, việc học tiếng phổ thông (tiếng Việt) là cần thiết cho nhp sống mi, cho nền sản xuất công nghiệp để cải thin đi sống vật chất, thay vì trưc đây chỉ chú trọng học tiếng Khmer để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì thế, xu hưng học tập đưc mở rng, ngày càng phát triển. Mặt khác, Đảng và Nhà nưc đã mở ra chính sách nâng cao dân trí cho toàn dân nói chung và quan tâm ưu đãi cho con em ngưi Khmer, nhiu em trở thành học sinh giỏi vào học cao




1 Nguyn Thanh Hải, Ý nghĩa giáo dc ca Phật giáo Nam tông trong cng đồng người Khmer ở đồng bằng sông Cu Long, trong Kỷ yếu Hi thảo khoa hc kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hi Phật giáo Việt Nam và 15 năm hình tnh phát triển Phật giáo tnh Bc Liêu, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2012.
 
đẳng, đại học, nhiều em phấn đấu học cao hơn ly bằng thạc sĩ, tiến sĩ trên mọi lĩnh vc.
Hệ thống giáo dục quốc dân và giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer ti các tnh có cng đồng 2 triệu ngưi Khmer cư trú ở Đồng bằng sông Cu Long có mối quan hệ gắn bó hu cơ, vì có ti 95% số ngưi này theo Phật giáo Nam tông.
Để nâng cao cht lưng giáo dục phổ thông cần tìm ra cách thc tổ chc và phương pháp dy tối ưu, nhất là phương pháp dy song ngữ Khmer - Việt, Việt - Khmer cho con em ngưi Khmer học tốt hơn trong thi gian ti(1).
Đi vi giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer:
  1. Căn cứ vào số lưng chư tăng Nam tông Khmer hiện nay là trên dưi 10.000 ni nên quy hoạch hệ thống trưng Phật học như sau: Bậc Đại học và Cao đẳng, Học viện Phật giáo có 2 lp đào to cử nhân đại học, 2 lp cử nhân cao đng cho toàn vùng. Bậc Trung hc, hiện nay có 5 trưng Trung cấp Phật học tại các tnh An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu. Theo chúng tôi chỉ cần 2 trưng, một trưng đặt tại Kiên Giang chiêu sinh các tnh Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Hậu Giang; một trưng đặt tại Sóc Trăng chiêu sinh các tnh: Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long. Trưng Sơ cấp (Phật học cơ bản) chỉ cần 2-3 trưng là đủ. Lưu ý có kế hoạch đầu tư kinh phí để nâng cao cơ svật chất cho các trưng.
  2. Cần thống nhất chương trình đào tạo Phật học, Pali, Vini Sơ cấp, Trung cấp cho ngưi tu học. Dy mt số nghề cơ bản cho chư tăng Nam tông Khmer trong chùa bi sau một thi gian


1 Trần Thanh n, Truyền thống giáo dc Pht giáo Nam tông Khmer, trong Kyếu Hi thảo Giáo dục Pht giáo Việt Nam: đnh hưng và phát trin, Nxb. Tôn go, 2012.

tu học tại chùa, các vị sư Khmer có thể chọn con đưng xuất tu, trở về vi cuộc sống gia đình, mang nhng hành trang tốt đưc trang bị trong lp chùa để phục vụ xã hi vi vai tcủa một công dân.
  1. Vi Học vin Phật giáo Nam tông Khmer: Ban Giáo dục Tăng ni (Phân ban Đặc trách Giáo dục Nam tông Khmer) cần có kế hoạch cụ thể trong việc hỗ trợ cho giảng viên Khmer soạn giáo án thng nhất để giảng dy ti Học vin, trong đó lưu ý đến đặc thù của tu sĩ Nam tông Khmer. Các tăng sinh này có thể hoàn tục sau khi tốt nghiệp nên việc đào to, bồi dưng nguồn giảng viên Khmer cho Học viện cần chủ đng, có đnh hưng, tránh tình trạng hoạt động Học viện gặp khó khăn, đt quãng
trong việc dy và học do thiếu ging viên(1)./.





























1  Trần Hng Liên, Giáo dc Phật giáo Nam B, trong Kyếu Hội thảo Giáo dục Phật giáo Việt Nam: đnh hưng và phát trin, Nxb. Tôn go, 2012.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây