50. ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER CHO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRI N ĐẤT NƯỚC BỀN VỮNG

Thứ bảy - 08/09/2018 20:27
ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER CHO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRI N ĐẤT NƯỚC BỀN VỮNG của Giác Minh Tường*

Dẫn khởi

Phật giáo Nam tông đã có mt ở Đồng bng sông Cu Long từ khoảng thế kỷ IV. Đến thế kỷ XIX, đại bộ phận các phum (xóm), sróc (nhiều xóm hợp thành) ca ngưi Khmer đều có chùa thờ Phật. Tính đến tháng 6/2010, Phật giáo Nam tông Khmer đã có 452 ngôi chùa vi 8.574 vị sư (=19,3% tổng số sư trong cả nưc)(1), tập trung chủ yếu ở 9 tỉnh (thành phố) Đồng bằng sông Cu Long (Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau)(2).“Kon-lênh-na- mean-Khmer, Kon-lênh-nưng-mean-wuat” (Nơi nào có ngưi Khmer, nơi đó có chùa). Câu nói đưc lưu truyn từ lâu đi trong đi sng đồng bào Khmer đã nói lên sự gắn bó mật thiết gia ngôi chùa đối vi ngưi dân, hay nói một cách chuẩn xác hơn là sự gn bó gia Phật giáo đối vi đồng bào Khmer. Vi
mt vị trí vô cùng vững chắc cũng như ảnh hưởng sâu đm trong tâm thức đng bào Khmer, Phật giáo Nam tông Khmer tác đng sâu sắc đến mọi mt đời sống văn hóa – xã hội của người Khmer. Đạo đức, lối sống, văn hóa, tư tưởng của Phật giáo Nam tông hiện hữu trong từng suy nghĩ, hành động của mỗi cá nhân cũng như cộng đồng Khmer. Tất cả trở nên gần gũi, quen thuộc



* Ban Thông tin Truyn thông Giáo hi Phật giáo Việt Nam.
  1. Báo cáo sơ kết công tác Phật sự 6 tháng đầu năm 2010 ca Giáo hi Phật giáo Việt Nam.
  2. Minh Nga, Gii thiệu sơ lưc về Phật giáo Nam tông Khmer,http://btgcp.gov.vn.
 
và hết sức tự nhiên, thấm đm, soi sáng mỗi người Khmer trong suốt ccuộc đời, tkhi sinh ra cho đến c mt đi.

Vi mối quan hệ chặt chẽ và nhng thành quthiết thc trong hiện tại cũng như trong quá khứ đưc lch sử ghi nhận của Phật giáo Nam tông Khmer, trong bài viết y, chúng tôi trình bày nhng đóng góp của Phật giáo Nam tông Khmer qua 2 cuộc chiến chống thc dân Pháp và đế quốc M, cũng như những đóng góp tích cc ca Phật giáo Nam tông Khmer trong sự nghiệp xây dng và phát triển đất nưc từ sau ngày thống nhất nưc nhà. Qua việc trình bày nhng đóng góp tích cc trên, chúng tôi phân tích sng dụng li Phật dy mt cách hp lý, trí tuệ của chư tăng và Phật tử Nam tông Khmer dù là thi chiến hay thi bình để cho thy sự gn kết chặt chẽ gia đạo pháp và dân tộc trong quá trình bảo vệ đất nưc, thiết lập khối đại đoàn kết toàn n tộc, xây dng và phát trin đất nưc.
  1. Vài nét về quá trình đấu tranh giành đc lập của Phật giáo Nam tông Khmer qua hai cuộc chiến chống thực dân - đế quốc
Lch sử Việt Nam nói chung và lch sử miền Nam nói riêng từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế 20 đu chìm trong nhng tháng ngày chiến tranh khốc liệt. Trong nhng ngày tháng y, tinh thần và hành động đấu tranh giành quyền tự do, hạnh phúc của ngưi Khmer tại min Tây Nam Bộ đã cho thy đóng góp không nhỏ. Trong bi cảnh đó, chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer nêu cao tinh thần Từ bi và Trí tuệ của Đc Pht, tinh thần: Mahā Pariccāga (Đại thí: thí con, thí vợ, thí máu, thí thân, thí mạng), của Đc Phật khi Ngài còn là Bồ tát, thông qua nhng hành động cụ thể góp phần đấu tranh kêu gọi thc dân, đế quốc tháo bỏ ách thống tr, đàn áp; trlại đi sống thanh bình, hạnh phúc cho nhân
 
dân. Có thể nói, thuận theo nhng thăng trm ca lch sử đấu tranh dân tộc cn đại, Phật giáo Nam tông Khmer luôn gn liền trách nhim của mình đối vi đất nưc, đối vi dân tộc. Ách đô hộ, áp bc càng đè nng bao nhiêu, chư tăng, Phật tử Khmer thể hiện lòng yêu nưc trên tinh thân li dy của Đc Phật bằng nhng hành động cthể và thiết thc vào cuc sống tu hành by nhiêu.
Vào thi kháng chiến chống Pháp, trưc cảnh đất nưc lâm nguy, ngưi dân đói khổ, bệnh tật mà phải gánh gồng ách thống tr, chư vị tôn đc như HT. Tăng Phố, HT. Tăng Hô… đã xả thân cùng vi đng bào Pht tử đấu tranh giành lại ruộng đt, lúa thóc để nuôi nhng ngưi còn lại giữ gìn phum sróc đồng thi cố gắng tu tập giữ gìn ngôi Tam Bo để đim ta tâm linh đạo đc của ngưi dân không bị mai mt.
HT. Tăng Phố (tc Trn Phố), cùng vi Pht t, Ban Quản trị chùa Láng Cát chng Pháp và điền chcưp đất, phá chùa. Đến tháng 6 m 1894, mật thám Pháp bắt Hoà thưng đày ra Côn Đảo cùng 22 Pht t, Ban Quản trị chùa Láng Cát, Kiên Giang. Tuy nhiên, không vì vy mà tinh thn đấu tranh bdập tắt. HT. Tăng Hô là thị giả thân cận tiếp tục sự nghiệp của HT. Tăng Phố. Mật thám Pháp truy bắt, HT. Tăng Hô lánh về chùa Cù Là Cũ, huyn Châu Thành, tnh Kiên Giang. Sau đó, Hoà thưng về chùa Giồng Cấm, thuộc tnh Hu Giang ngày nay đtiếp tục duy trì sự nghiệp tranh đấu quyn tự do, độc lập. Cm nhận đưc tm lòng yêu nưc và nhng đóng góp thiết thc của Ngài, tổ chc Việt Minh giao cho Hoà thưng làm Chtch Hội đồng Kluật Sư sãi khu Tây Nam Bộ (tiền thân của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc) và là Phó Chtch Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ. Sau khi HT. Tăng Hô viên tch, HT. Tăng
 
Nê là hc trò tiếp tục sự nghip và giữ chc vụ của cố hoà thưng để lại. Cùng thi gian này, HT. Sơn Vọng ở chùa Giồng Chuối, tnh Trà Vinh đưc bầu vào chc Phó Chủ tch y ban Trung ương Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Chtch y ban Bảo vệ Hoà bình Thế gii và cố vấn y ban Mặt trận Dân tộc Giải png khu Tây Nam B.
Ngoài chư vị tôn đc trụ lại miền Nam lãnh đạo cả về mặt ý chí và tinh thần cho cuộc đấu tranh, một số chư tăng trẻ lên đưng tập kết ra Bắc hy vọng tìm đưc hạnh phúc cho dân tộc, cho chư tăng, Pht t, tìm đưc sự bình yên cho phum sróc, cho quê hương, tiêu biu như: Đại đc Danh Chương ở Kiên Giang; Đại đc Châu Ngọc Ánh, Phó Trtrì chùa Soay Xiêm Cũ, tnh Trà Vinh; Đại đc Sơn Wan Na Ri ở Vĩnh Châu, Sóc Trăng, Phó Trụ trì chùa Hoà Bình, tnh Bạc Liêu ngày nay; Đại đc Lý Xô ở Bạc Liêu; Đại đc Trn Trí ở Trà Vinh.
Sau ngày thực dân Pháp về nước, đế quốc Mỹ nhy vào cai trmiền Nam Việt Nam, Phật giáo nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng chưa hưởng thanh bình được bao nhiêu lại bị rơi vào hoàn cảnh chiến tranh, loạn lạc mới. Nông thôn và thành thị thường bị chia cắt. Có những buổi, chư tăng đang giảng giải kinh pháp cho Pht từ thì bị nhiều bom đn oanh tạc. Đôi lúc đang hoằng pháp, sinh hoạt lễ hội thì phải xung hm tránh đạn. Nhiều chư tăng bị bắt đi lính. m 1964, Pht giáo Khmer Nam Bộ thành lập Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc khu Tây Nam Bộ do HT Thạch Som làm Hội trưng. Tiếp sau đó là các tnh đồng bằng sông Cu Long ln lưt thành lập, hot động. Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước là nơi quy tụ sư sãi, đồng bào, Phật tử Khmer nêu cao tinh thần yêu nưc, đấu tranh đòi độc lập dân tộc, chống lại mi sự xâm phm tự do tôn giáo. Sau mùa hè đỏ lửa năm
 
1972, miền Nam Việt Nam lúc nào cũng sôi sục khói lửa bom đạn, chùa chiền, phum sróc hoang tàn, vắng lng. Để có đủ quân số, Mỹ - Nguỵ không những bắt con em Pht tử đi lính mà còn bắt chư tăng phải cởi y gởi lại với Đức Phật rồi theo chúng cm súng, giết hại nhân n vô tội.
Chư tăng không cam chịu cảnh đau thương, ly tán; gia đình Phật tử khổ sở vì người thì mất chồng, ngưi thì mất vợ, ngưi thì mất cha lẫn mẹ, còn phum sróc thì điều hiu, có những chùa lúc nào cũng có tiếng kinh cầu siêu, bầu trời khói bom đạn hoà lẫn với khói hoả táng nạn nhân… Khi bị dn vào bước đường cùng người ta lại càng mnh mẽ. Noi theo gương hạnh tu tp các Paramita trong các kiếp quá khứ của đức Phật, chư tăng, Phật tử chấp nhận hy sinh xương máu, không ssúng đạn đấu tranh bằng phương pháp bất bạo động, cùng nhau đoàn kết thành một khối dưới ngọn cờ lục sắc lên đường biểu tình đòi M-Ngu thả chư tăng và con em Phật t, không được lc soát bắn phá chùa chiền, bắt con em Phật tử và chư tăng đi lính, phải tôn trng phong tục tập quán, tôn trọng tiếng nói chữ viết, tôn trọng tự do tôn giáo.
Cuộc biểu tình kéo dài và lan rộng hầu hết các tỉnh Nam Bộ. Đỉnh cao là ngày 10 tháng 6 năm 1974, tại tỉnh Kiên Giang (Rạch Giá), với sự vận động và dẫn đầu của chư tăng, chư tăng Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước, hơn 2.000 sư sãi, Phật tử Khmer và một số đồng bào người Kinh, người Hoa tham gia biểu tình, bất chấp nắng mưa, bom đạn, hay km gai.
“Hồi y, chư tăng cao hạ, trung hạ, chư tăng già trẻ không ai nhắc ai, khlum vàng, đeo dèm, cm dù, cm micrô phát thanh, cầm băng rôn biểu ng: “Phải trả tự do cho các vị sư bị bắt đi quân dịch”, “chm dứt bắn phá chùa chin, bắt sư sãi đi lính, giết
 
hại đồng bào vô tội”, “Lập lại hoà bình, chm dứt chiến tranh phi nghĩa”, Tôn trọng tự do - tín ngưỡng, chng chính sách ngu dân, đồng hóa dân tc” và “phải thực hiện nhân quyền và bình đẳng mọi mặt”; giới tử, học sinh thì sách nưc, cm dép, Phật tử người sách túi chanh, người sách nước, cầm cây, người đi chợ, người đi rung cũng gia nhập đoàn biểu tình, người dân hai bên đường người thì dâng nước, người thì tham gia cùng đoàn chật kín đường lộ. Còn tín nữ, Phật tử lớn tuổi không ai nhắc ai, người thì bơi xuồng, chèo ghe đem cơm nưc, canh rau muống, rau ngổ, kho mm, thuốc men từ các chùa nông thôn để dâng chư
tăng và Pht tử đoàn biểu tình…”(1).

Trong cuộc biểu tình bảo vệ Phật pháp, bảo vệ dân tc và bảo vệ chính nghĩa này đã có 4 vị đi đức hy sinh là: m Hùng, Danh Hoi, Danh Tấp, Danh Hom và 32 vị bị thương, các vị đã hành theo hạnh Bồ tát để đổi ly sự an vui cho nhân loại, sự bình yên cho đất nưc, đổi lấy sự trường tồn cho Phật pháp.
Để phi tang, Mỹ ngy đã cướp ly thi hài ca 4 vị đưa về nhà xác tỉnh Rạch Giá, đem bỏ xung biển, cho mặt bộ đồ đen, đặt 4 khẩu súng bên 4 thi hài, lãnh đo đoàn biểu tình đấu tranh mãi mới đem được thi hài của 4 vị về làm tang lễ.
Lễ tang của 4 vị sư diễn ra trong my ngày đêm lúc đất nưc vẵn còn khói la chiến tranh, thông tin truyền thông còn nghèo nàn, nhưng hàng chục ngàn lưt tăng ni, Phật tử Khmer - Kinh - Hoa trong và ngoài tnh đến hộ nim.







1 TT. ThS. Danh Lung, Tinh thần ngày 10/6/1974 ca Pht giáo Nam tông Khmer,
http://www.phattuvietnam.net.
 
  1. Tinh thần bất bạo động Phật giáo thể hiện đm nét qua hai cuộc đấu tranh
Tinh thần đấu tranh bt bạo động (ahimsa) ca Phật giáo là sự đấu tranh không da trên chủ trương tư li, không phát xuất từ tâm tham lam, mong muốn chiếm đoạt; không da trên lòng hận thù, ly oán báo oán, mà da trên cơ sly tình thương xoá bỏ hận thù. Nguyên tắc bất bạo đng của Phật giáo không phải là ssợ hãi mà chính là biểu hin của sự dũng cảm, của lòng từ bi và của tình yêu hoà bình. Chiến tranh nào cũng đem đến đau khổ vô lưng vô bn. Chiến thắng sanh thù oán, bại trận nếm khổ đau. Cho nên phương pháp hay nhất là không không dùng bạo động, vũ lc, súng gươm để giải quyết các xung đột, mà phải tìm mi phương tin nhu hòa nhưng thuyết phc, bất hại để chm dt c cuộc chiến, các cuộc xung đột.
Bằng trí tuệ, hiu rõ li dy của Đc Phật, chư tôn đc Nam tông Khmer thy rõ đưc nguyên nhân của nhng cuộc chiến đu phát xut từ lòng tham của thc dân, đế quốc. Quý ngài cũng hiểu rõ đưc hậu quả sẽ ra sao nếu chọn hình thc đấu tranh vũ trang, đấu tranh hoặc kháng cmột cách thiếu trí tuệ. Bằng lòng từ bi của ngưi con Phật, quý ngài đau xót khi thy nhân dân rơi vào cảnh đói khổ, chết chóc, lm than. Lòng yêu nưc, lòng mến mđạo pháp không cho phép quý ngài đim nhiên tọa thị trong khi phum sróc ngày càng xơ xác, chùa chin ngày càng bị phá hy.
Kết tinh từ trí tuệ và lòng từ bi, quý ngài chọn con đưng đấu tranh bất bạo động mà Đc Phật đã truyn dy đưc ghi chép lại trong kinh đin. Bằng uy tín và đức độ của bậc xuất gia, quý ngài khuyên bảo các Phật tử cùng đoàn kết lại một khối, thống nhất ý chí và hành động; không nên hành động một cách
 
tự phát và lẻ tẻ bằng vũ trang vì nếu đấu tranh như vy thit hại chỉ thuc về ngưi dân mà thôi. Có thể nói, đóng góp của ctăng và Phật tử Namng Khmer vô cùng to ln. Đầu tiên chỉ là nhng khối đoàn kết ở phum sróc sau đó rng ra là cmột Hội đồng Sư sãi, tiếp đó là Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc. Chính các tăng sĩ là một chất keo gắn kết cc kỳ bền chặt kết dính ngưi dân Khmer thành một khối. Trong khi thiếu thốn về con ngưi, về võ trang, võ b, vtiền bạc, thuốc thang… thì đấu tranh bằng phương pháp biểu tình lại là một vũ khí tuy vô hại nhưng lại mang đến kết quả vô cùng to ln. Nó không chỉ đánh vào tâm lý quân thù mà còn tạo đưc tiếng vang thu hút sự ủng hộ của nhng ngưi bên ngoài cuộc chiến.
Nhng cuộc đấu tranh do chư tăng và Phật tử Nam tông Khmer y, nào có phải phát xuất từ lòng tham, từ tư li của riêng ai, cũng đâu hề tham muôn chiếm hu một thứ gì. Tất cả chỉ vì công bằng, chỉ để ly lại sự thanh bình, m no, tự do, độc lp vốn của của xứ smiền Tây Nam Bộ nơi đồng bào Khmer cùng ngưi Kinh, ngưi Hoa đang sinh sống. Cuc đấu tranh vẫn biết là xuất phát một phần từ lòng căm phẫn quân thù nhưng thấm đm tinh thần từ bi ca Phật dy, hình thc đấu tranh không hthy sự xuất hiện của súng ống, gươm đao. Dùng tbi diệt hận thù cho nên cuộc đấu tranh tuy quy mô, rộng khắp nhưng không hề xâm hại đến tính mạng của kẻ thù. Qua đó có ththy, tinh thần của bất bạo động Phật giáo thm đm trong suy nghĩ và hành động của chư tăng cũng như Phật tử Khmer.
Trên thc tế, cho dù có nhiều thi đim bị đàn áp một cách dã man, nhưng phương thc đấu tranh bất bạo động luôn đưc chư tăng và Phật tử Nam tông Khmer áp dng một cách tương đối triệt để, không nhng thể hiện qua micro phát thanh, bng
 
băng rôn biểu ngữ vi phía chính quyền, mà còn bằng nhng cuộc biểu tình. Có thể nói, trong một hoàn cnh lch sử chính trị xã hội min Nam đương thi nvy, vi một tinh thn giáo lý và cả thc lc của Phật giáo Nam tông như vy, thì vic Pht giáo Nam tông áp dng phương thức đấu tranh bất bạo động là mt đim thích hp và dễ hiểu. Kết quả thc tiễn của phương thc đấu tranh này đạt đưc là rất đáng kể. Hnh Bố thí của Phật giáo gm các hình thc: Tài thí (hay bố thí Tài) là bố thí tài vật như nhà ca, tiền bạc, quần áo, của cải, vật chất. Pháp thí (hay bố thí Pháp) là btPhật pháp, nghĩa là giáo dục Phật pháp cho ngưi khác, cho ngưi khác nhng li nói tốt đẹp và có ích li. Úy thí (hay bố thí Vô Úy) là làm cho ngưi khác thóat khi sợ hãi, đưc an tâm. Trong các hình thc bố thí nêu trên, thì Pháp thí và Vô Uý thí cao cấp hơn Tài thí. Có thể nói, ba khía cạnh của hạnh Bố thí đã đều được thể hiện đầy đủ và cụ thể qua cuộc đấu tranh.
Mt đim sáng phát xuất từ trí tuệ của chư tôn đc Nam tông Khmer na là trong quá trình đấu tranh, quý ngài đã nhận đnh đưc đúng con đưng giải phóng dân tộc, thy rõ tương lai của con đưng giải phóng đất nưc của Mặt trận Giải phóng min Nam (thời thc dân Pháp), đưng lối xây dng nưc nhà theo mô hình Chủ nghĩa xã hội; thy rõ đưc tài trí và đức độ của Chủ tch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ dân tc. Chính vì thế, các khối đoàn kết từ phum sróc, sau đó là Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc đã có được mối liên kết với các tổ chc yêu nưc từ phía Mặt trận Giải phóng min Nam. Đng thi, việc cho phép chư tăng và Phật tử Khmer ra Bc tập kết, học tp càng cho thy sự sáng sut khi nhận đnh ra con đưng xán lạn để giải phóng dân tộc của chư tăng và Phật tử Nam tông Khmer. Con đưng đó là
 
con đưng do Bác Hồ vạch ra và mô hình nhà nưc xã hội chủ nghĩa mà miền Bắc đang xây dựng; chỉ có đưng lối và chính sách sáng suốt của Đng mi có thể làm nên mt cuộc thay đổi hoàn toàn cục diện đất nưc. Qua đây, tinh thần từ bi và trí tuệ của chư tăng và Phật tử Nam tông Khmer lại đưc biểu hiện qua tinh thần hộ quốc, an dân. Hộ quốc bằng cách gi chư tăng cùng con em đi ra Bắc học tập, bằng sự đoàn kết thống nhất hành động, đấu tranh vi Mặt trận Giải phóng Dân tộc tại miền Nam. An dân bằng cách đánh động và tâm thc ca người Phật t, nối kết tinh thần, thng nhất ý chí và hành động da trên tinh thần bất bạo động nhm bo toàn tài sản và tính mng của ngưi dân góp phần không nhỏ cho sự thắng li của toàn dân tộc trưc hai đại cưng quc trên thế gii.
  1. Hoạt động yêu nưc, xây dựng khối đoàn kết dân tộc sau ngày đất nước thng nhất đến nay
Sau năm 1975, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ vẫn tiếp tục hoạt động, từ đấu tranh giành hòa bình chuyn sang tham gia khắc phc hậu quả chiến tranh, kiến thiết nước nhà. Đến năm 1980, ủng hộ chủ trương chung của lãnh đạo các tổ chc, hệ phái Phật giáo trong cả nước cũng như thể theo ý nguyện của đông đảo Tăng ni, Phật tử trong cả nước, đại diện Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ đã tham gia Ban Vận động Thống nht Phật giáo trong cả nước. Đến tháng 11/1981, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ do Hòa thượng Dương Nhơn làm trưởng đoàn cùng với 8 tổ chc, hệ phái Phật giáo đã thng nhất thành lập một tổ chc chung đại diện cho Tăng ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam ở trong và ngoài nước, ly tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
 
30 năm trong lòng Giáo hội, hòa chung với dòng chy lịch sử Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Nam tông Khmer tiếp tục đóng góp xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đất nước Việt Nam vững mạnh và trường tồn, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Khmer, góp phần làm phong phú văn hóa Việt Nam, thực hiện tốt tiêu chí “Đo pháp – Dân tộc – Chnghĩa xã hội.
    1. Từ thin xã hội

Lòng từ bi và công hạnh Paramita đầu tiên là Bthí (Dàna) đưc chư tăng và Phật tử Phật giáo Nam tông Khmer thể hiện cụ thể. Chùa Khmer là nơi cưu mang trẻ nhỏ côi cút, hoặc con nhà nghèo đưc ăn và học ch; là nơi giúp đỡ ngưi già neo đơn. Ti các chùa Nam tông Khmer còn mở các lớp đào tạo nghề như điêu khắc, thủ công mỹ nghệ… tạo điều kin học và làm việc cho nhiều gia đình Pht tử và nhân dân nhờ đó kinh tế đồng bào Khmer đã được ci thin, số hộ gia đình có mức sống trung bình, khá ngày càng gia tăng. Chùa chin, chư tăng gắn chặt vi cuộc sống của ngưi dân thông qua các hoạt động Phật sự nhập thế tích cc. Thêm vào đó, chư tăng và Phật tử tích cc tham gia các công tác Phật sự như: xây dựng cuộc sng mới, các hoạt động xã hội, từ thiện, tương trợ lẫn nhau, giúp xóa đói gim nghèo, xây cầu làm đưng, cung cấp giếng nước sạch, vận động thành lập quỹ khuyến học, cu trợ đồng bào bị thiên tai, hỗ trợ đồng bào nghèo... Slưng và chất lưng giá trị vật chất quyên góp, ủng hộ qua các năm ngày càng đưc cao hơn như: Phật giáo Nam tông Khmer tnh Trà Vinh năm 2009 quyên góp và ủng hộ đưc hơn 1,6 tỷ đồng, 978 giạ gạo, 29.630 tập viết, 33.878 cây bút, còn năm 2010 quyên góp và ủng hộ đưc gần 2 tỷ đồng, 1012 giạ gạo, 327.565 tp viết, 44.878 cây bút. Từ năm 2008 đến 2010, Phật giáo Nam tông Khmer tnh Kiên Giang quyên góp và
 
ủng hộ dưc trên 4,5 tỷ đồng, Phật giáo Nam tông Khmer tnh Vĩnh Long quyên góp và ủng hộ đưc 10 giếng nưc ngm, 60.570kg gạo, 30.800 tập viết, 5.600 gói mì, 2.700 bộ quần áo, 250 cái màn, thuốc cha bệnh trị giá trên 10 triệu đồng(1).
    1. Giáo dục

Bên cạnh công tác từ thiện xã hội, tại các chùa Nam tông Khmer còn mở các lp phổ cập dy văn hóa, thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, đậm đà bản sc dân tộc, tham gia tích cc vào các phong trào thi đua yêu nưc. Phát huy truyền thống giáo dục Phật giáo đã có từ lâu đi, từ năm 1975 tới nay, chư tăng Nam tông Khmer đã có nhiều hoạt động tích cc đưa giáo lý, đạo đức, văn hóa Phật giáo vào cuc sống góp phn ổn định sinh hoạt Phật giáo, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Các vị sư Nam tông Khmer gương mẫu vận động nhân dân, bà con Phật tử tương trợ, giúp đỡ nhau nhm xóa mù ch. Các lớp tiếng Việt
– Khmer đã được mở ra tại nhiều chùa tạo điều kiện cho hàng chục ngàn con em đồng bào Khmer có hoàn cảnh khó khăn đến theo học. Trong dịp hè, các em còn có cơ hội tham gia học các lớp sơ cấp Pali, Vini sơ cấp giáo lý. Các lớp học kể trên thu hút hàng ngàn học viên là chư tăng và con em đồng bào Khmer. Hoạt đng giáo dc, dy nghề đy hiệu năng này đưc thc hin tại các trưng và đặc biệt tại các chùa ở Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu,… Các chùa Nam tông Khmer cũng đã tổ chc hàng trăm lớp học cho chư tăng và thanh thiếu niên đồng bào Khmer tại địa phương như: Tiểu học Khmer ngữ từ lớp 1 đến lớp 6: 1.418 lớp, 32.538 chư tăng, thanh thiếu niên đồng bào Khmer. Sơ cp Pali, Vini,




1 Lê Khánh, Phật giáo Nam tông Khmer sau 30 m trong ni nhà chung Giáo hi Phật giáo Việt Nam, http://btgcp.gov.vn.
 
Sơ cấp Phật học: Có 5.839 học viên. Trung cp Phật học: Có 367 học viên. Lớp Kinh, Luận, Luật: Có 1.371 học viên(1).
Theo quan nim của người Khmer, người con trai nào cũng cần phải qua tu hành một thời gian để trau dồi đạo hạnh, trang bị tri thức và cách sng làm người. Người đã trải qua thời gian tu hành ở chùa được cộng đồng người Khmer nhìn nhận và đánh giá cao, mới dễ lp gia đình và dễ được tiếp nhận làm các công việc xã hội. Đây cũng là hình thức giáo dục đạo đức đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Phm chất, nhân phm một người thanh niên Khmer được công nhn, xác chng thông qua đạo đức theo lời Phật dy. Lời Pht dy đã được chư Tăng Khmer khéo léo giáo hóa, làm cho thm nhuần trong đời sống tinh thần của người dân tạo nên một truyền thống, một nét đp văn hóa, giáo dục đặc sắc.
    1. Xây dng khi đi đoàn kết

Nếu thời chiến, hoạt động nhm xây dựng khối đại đoàn kết dân tc, tiếp cận với Đảng được thông qua việc gửi chư tăng và con em Phật tử Khmer đi tập kết ra Bắc hoặc tham gia, hỗ trợ Mặt trận Giải phóng Miền Nam; thì thời bình, được thể hiện qua việc sống, học tập và hành động theo tm gương, đạo đức Hồ Chí Minh ca không ít tăng sĩ Phật giáo Nam tông Khmer. Không dừng lại ở cá nhân, một số chư tăng còn đem tm gương đạo đức Hồ Chí Minh giới thiệu đến đông đảo Phật tử trong phum sróc cùng nhau học tập và noi theo. Sau khi tiếp thu các chủ trương, chính sách mi của Đảng, Nhà c hay các chuyên đề mi về tiếp tục học tập và làm theo tm gương đạo đc Hồ Chí Minh, chư tăng lồng ghép vào tuyên truyn trong nhng buổi thuyết pháp vào ngày rm và ba mươi hng tháng. Qua một
 
thi gian học tập, chư tăng và Phật tử đã nhận thc rõ hơn về nhng tm gương đạo đc của Bác Hồ, mt tm gương vĩ đại, nên Phật tử dần noi theo. Ttấm gương đó, chư tăng và Phật tử rút ra bài học thc tế áp dụng trong đi sống hằng ngày mình. Từ đó mà mỗi ngưi biết trân trọng hơn nhng sản phm mà bn thân mình đã làm ra, biết tiết kim thi gian tập trung cho lao động sản xuất, tiết kim trong chi tiêu một cách đúng lúc, đúng mc, không còn ỷ lại chính sách trông chờ ca trên hay luôn biết sống tiết kim để chăm lo cho con em học hành, giúp đỡ ngưi nghèo. Đặc biệt, công tác giữ vững ổn định chính trị xã hội, đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, to nên một khu vực an ninh tốt, phát trin đời sống, đoàn kết giữa đồng bào Khmer với đồng bào Kinh và Hoa.
Tiêu biểu cho tm gương học tập và làm theo đạo đc Hồ Chí Minh có Đại đc Danh Nâng (trụ trì chùa Thứ Năm, Tnh Biên, An Giang) đã đưc nhiều bằng khen, giy khen của Trung ương, tnh, huyện về các thành tích, trong đó có bằng khen của Tnh y về Học tập và làm theo tm gương, đạo đc Hồ C
Minh(1). Thưng tọa Kim Chát (trụ trì chùa Phù Ly II, Đông
Bình, Bình Minh, Vĩnh Long) đã tổ chc và vận động khoảng 40 ngưi, trong đó có chư tăng, Ban Quản trị chùa và đồng bào Phật tử thành một lớp học tập và làm theo tm gương đạo đc của Chủ tch  Hồ Chí Minh. Thi gian  học đu đặn 2  lần trong tháng(2).
Nhiều năm qua, không ít các lễ cu siêu cho anh linh liệt sĩ, đồng bào tử nạn trong chiến tranh, trong thiên tai bệnh tật vào các cuộc lễ lớn tại các các chùa và các nghĩa trang trong vùng




1 Lê Sen, Nguyện học theo Bác trên c đưng hành đo, http://dangcongsan.vn. 2 Nguyn San, Sư sãi và đng o Khmer Phù Ly, Vĩnh Long học tp và làm theo tm gương đo đc Hồ Chí Minh, http://www.cpv.org.vn.

Đồng bng sông Cửu Long. Sư sãi và đng bào Phật tử tiếp tục phát huy tinh thn yêu nước, phụng đạo giúp đời như lịch sử đã từng ghi nhn. Thời kỳ nào cũng có các nhà sư giúp đời, hộ quốc an dân, tiếp tục đy mạnh sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh”, không ngừng nỗ lực tu dưỡng trí huệ và đo đức, ra sức thực hiện nghĩa vụ công dân, khắc phục những mặt hạn chế trong việc đo, việc đời, đề cao tinh thần hòa hợp của Phật giáo, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết n giáo, vì mc tiêu thiết lập Niết Bàn nhân gian.

Thay lời kết

Như vy, có thể nói, những đóng góp xuyên suốt của chư tăng và Phật tử Nam tông Khmer được nêu trên cho thy rõ tinh thần nhập thế của Phật giáo, tăng cường sự gắn kết giữa đạo với đời, khẳng định vị thế của một tôn giáo có truyền thống yêu nước, có bề dày lịch sử và luôn gắn bó đồng hành cùng dân tộc. Chư tăng Nam tông Khmer đã ứng dụng lời dy của Đc Phật tùy thời, tùy duyên đem ánh sáng Phật pháp đến với đồng bào không chỉ trên khái nim mà còn cụ thể qua hành động. Giáo lý từ bi và trí tuệ hội đủ trong suy nghĩ và hành động của chư tăng và Phật tử Nam tông Khmer. Nhờ đó không chỉ góp phần làm cho đạo pháp ngày càng phát trin mà còn làm cho đất nước ngày một hưng thịnh.
 

I LIU THAM KHẢO

 
  1. Báo o sơ kết công tác Pht sự 6 tháng đu năm 2010 ca Giáo hi Pht giáo Vit Nam.
  2. Tài liệu Ban Tôn giáo Chính ph, http://btgcp.gov.vn.
  3. TT. ThS. Danh Lung, Tinh thần ngày 10/6/1974 của Pht giáo Nam tông Khmer.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây