49. ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ NHÌN TỪ SINH THÁI HỌC PHẬT GIÁO THERAVADA

Thứ bảy - 08/09/2018 20:24
ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ NHÌN TỪ SINH THÁI HỌC PHẬT GIÁO THERAVADA của TS. Phan Anh Tú*
 

 

Dẫn nhp
Mối quan hệ gia con ngưi và môi trưng đã đưc các học giả phương Tây quan tâm tthi kỳ cổ đại. Sử gia Hy Lạp, Herodotus đã ghi lại nhng biến đổi của môi trưng dưi tác động của con ngưi vi quan nim sự can thiệp ở phm vi rộng ln mà con người gây ra đối vi tự nhiên sẽ chịu sự trng phạt của Thưng đế (Phm Hunh Phương, Hng Cầm 2013: 138). Trong nghiên cu văn hóa, môi trưng tự nhiên phải luôn đưc chú trọng vì nó có ảnh hưng chi phối đến quá trình hình thành và phát triển văn hóa của các tc ngưi, góp phần khu biệt văn hóa gia vùng này vi vùng khác. Nhn thy tầm quan trọng của môi trưng trong việc cân bằng sinh thái đi vi đi sống con ngưi, nhng vị lãnh đạo tinh thn của Phật giáo Theravada đã sm chủ trương phát triển dung hòa tôn giáo vi môi trưng tự nhiên. Sự dung hòa này đã góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát trin nền văn hóa đặc sc mang đm nét tôn giáo truyền thống của cư dân Khmer Nam Bộ.






* Khoa Văn hóa hc, Đại hc KHXH&NV, Đại hc Quc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
 

Quan đim sinh thái học Phật giáo của người Khmer Nam Bộ

Sinh thái học tâm linh (Spiritual Ecology) là một chuyên ngành khoa học quan tâm đến mối quan hệ gia tôn giáo, tín ngưng và môi trường, xuất hiện cách đây chmột vài thập k. Đối tưng nghiên cu của các nhà sinh thái học tâm linh thưng là nhng cộng đồng nhỏ, có sự biệt lập tương đối vi thế gii bên ngoài. Nhng cng đồng này vẫn thc hành nhng tín ngưng truyền thống của họ. Từ nhng năm 1990, sinh thái học tâm linh trở thành một hưng tiếp cận mi trong nghiên cu về biến đổi môi trưng. Nó đưc coi là giải pháp đặc bit hiệu quả trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, duy thệ sinh thái bền vng (Phm Hunh Phương, Hoàng Cm 2013, 145).
Thc tế ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế gii đã chng minh vai tcủa tôn giáo, tín ngưng trong việc bảo tồn môi trưng tự nhiên tránh sự tàn phá của con ngưi. Reed L. Wedley và Carol J. Pierce Colfer (2004) đã khảo cu và lt tả vai trò của tín ngưng bản đa trong việc bo tồn các khu rng thiêng ở vùng Tây bán đảo Kalimantan, Indonesia (Phm Hunh Phương, Hoàng Cm 2013, 145). Theo hai tác giả này sự thiêng hóa một số khu rng ở đây có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn các loài động vt, đa dạng sinh học thông qua việc tạo dng các quy ưc cộng đồng trong việc khai thác các nguồn tài nguyên từ rng, cụ thể thông qua săn bắn, hái lưm và canh tác (Phm Hunh Phương, Hoàng Cm 2013, 145).
 
Đối vi cộng đng ngưi Khmer Nam B, sinh thái học Phật giáo Theravada đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trưng tự nhiên xung quanh chùa chiền và đa bàn cư trú của ngưi Khmer. Sinh thái học Phật giáo Theravada da trên nền tảng triết lý của nhà Phật cùng kết hp nhuần nhuyn vi tín ngưng dân gian thông qua vai trò giáo dục cộng đồng của tầng lp sư sãi. Phật giáo Theravada đã sử dụng hình thc thiêng hóa các yếu tmôi trưng liên quan trc đến đi sống của con ngưi và hoạt động sản xuất nông nghiệp bằng nhng nghi thc, truyền thuyết và Phật thoại. Quan nim của Phật giáo Theravada xem môi trưng là ngôi nhà chung cho ssống ca vạn vật và muôn loài, các yếu tố môi trưng như cây cối, đất đai, nguồn nưc và không trung đều do chư thiên cai quản. Việc nghiêm cm lm sát các loài sinh vật và tránh làm bẩn nguồn c là hai trong số nhng quy ưc của Phật giáo Theravada trong khuyến khích ngưi tín đồ bảo vệ môi trưng thiên nhiên. Luật nhân quả (Karma) đã được Phật giáo Theravada áp dụng trong công tác truyền bá tư tưng về lối sống cân bằng gia con ngưi vi các loài vật và môi trưng tự nhiên đã tạo nên sự phát triển bền vng cho nhiều vùng sinh thái xung quanh nhà chùa tại các tnh Trà Vinh và Sóc Trăng. Theo quan đim sinh thái văn hóa (cultural ecology) của nhà nhân học Mỹ Julian Steward sinh thái văn hóa là cách con ngưi sử dụng văn hóa đthích nghi vi môi trưng thiên nhiên cụ thể trong bối cảnh nền văn hóa của họ (Phan Thị Yến Tuyết 2010, 30). Các xã hội có công nghkthuật càng thô
 
sơ thì xã hội càng phthuộc vào tự nhiên. Từ quan đim của Julian Steward, chúng ta có ththy xã hội của ngưi Khmer Nam Bộ không thuộc xã hội công nghệ hiện đại n rất thích hp vi phương thức bo vmôi trưng theo phương thc sinh thái học Phật giáo Theravada. Cthể như nhng yếu thiên nhiên quan trng đối vi đi sống cộng đồng thưng đưc họ thiêng hóa.

Bảo vệ nguồn nước nhìn từ quan đim sinh thái học Phật giáo

Ngưi Khmer là cư dân nông nghiệp trồng lúa nưc nên đối vi họ nước là biểu trưng cho mạch sng thiêng liêng mà thần linh đã ban tặng cho con ngưi. Nưc đưc lưu gitrong các dòng sông, nhng hồ nưc thiêng (Baray) do các rắn thần Naga canh giữ và ban phát cho con ngưi. Naga (Niek trong tiếng Khmer) là linh vật thân cận nhất ca Đc Phật, nó xuất hiện trong suốt cuộc đi hành đạo và nhập diệt của ngài. Hình tưng rắn Naga ba đu đưc ngưi Khmer tin là con vật làm mưa ca thần Phra In (Đế Thích/Indra) trên thiên gii.
Vì xem nưc là nguồn sống thiêng liêng nên ngưi Khmer Nam Bộ chỉ dng nhà sàn trên mặt đất, quy đnh của cộng đng nghiêm cm việc dng nhà hay làm chỗ cư trú trên đầu ngun ca các dòng sông và trên sông rch. Nguyên tc này nhm để tránh việc làm bẩn nguồn nưc sinh hoạt của cng đồng. Ngưi Khmer xem nưc là thiêng liêng nên tục ry nưc chúc phúc trong các nghi lễ của nhà chùa luôn đưc chú trọng
 
nhm cầu mong an lc, thái bình, tai qua nạn khỏi cho Phật t. Trong lễ cúng trăng (Ok Om Bok) hay lmng năm mi (Chol Chnam Thmay), ngưi Phật tử dùng nưc thiêng tm cho sư sãi và ngưi ln tuổi trong gia đình đtạ ơn Tam bảo cũng như tạ ơn đấng sinh thành.
Trong số các nghi thc của lễ cúng trăng (Ok Om Bok) diễn ra vào ngày 15 tháng 10 Âm lch, đồng bào Khmer Nam Bộ luôn tổ chc đua ghe Ngo. Đây cũng là hành động tôn vinh nưc gắn liền vi sự tích về Đc Phật và các long thần Naga canh giữ cõi thy cung. Bên cnh nghi lễ thả đèn gió nhm ý nghĩa tống tiễn mùa mưa và làm sạch không trung, nghi lthả đèn nưc (Loi Phratip) cũng được đồng bào Khmer thc hiện nhm mang ý tạ lỗi vi nguồn nưc vì trong cuộc sống con ngưi đã vô tình m ô uế nguồn nưc. Trong lễ thả đèn gió và đèn nưc nhiều bài tụng đưc ông Acha (pháp sư) đại diện cộng đồng đọc lên thể hiện việc tạ ơn mặt trăng, mt đất, nguồn nưc và cầu mong các vị thần thiên nhiên tha thlỗi lầm của con ngưi (Phan Thị Yến Tuyết 2010, 29).
Sau bài tụng, ngưi dân đưa đèn nưc ra sông, suối, kênh rạch, ao hồ gn chùa rồi thả xuống nưc. Như vy, nghi thc thả đèn nưc phản ánh ý nghĩa nhân văn cao đp của ngưi Khmer Nam B, thể hiện văn hóa ng xử vi ngun nước, việc thiêng hóa ngun nưc góp phần tăng cưng ý thc của ngưi Phật tử trong việc bảo vệ ngun sống của cộng đng.
 

Bảo vệ đt đai nhìn từ quan điểm sinh thái học Phật giáo

Ngưi Khmer quan niệm rằng đt đai xung quanh nhà chùa là đất thiêng, đưc cai quản bi vị nữ thần mẹ đất Thorni Phra. Truyn thuyết mô tả bà là một nữ nhân xinh đẹp có thân thể duyên dáng vi mái tóc dài óng ả biểu trưng cho sông suối trên mặt đất. Bà canh giữ vùng đất thiêng của nhà chùa đưc truyền thuyết kể rằng pháp lc của bà đã bo vệ thành công đắc quả tu hành của Đức Phật qua hành động dùng đôi tay vắt mái c làm thành mt dòng suối cuối trôi lũ âm binh của quỷ vương Mara. Trong 49 ngày thiền đnh để tìm chân lý cu thế, có một lần Đc Phật bị ba ngưi con gái của Mara đến khuyến dụ bng nhan sắc và các vũ điệu dâm ô nên ngài đã nhờ nữ thần Thorni Phra chng quả bằng cách trỏ ngón tay xung đất. Hình tưng nữ thần đất Thorni Phra thưng đưc dng trên ngôi tháp đầu tiên nm đối diện vi chánh đin (Vihara) nhm để canh gác đt đai cho nhà chùa và chng nhận đc quả của Đức Phật như trưng hp điêu khắc tại chùa Campasala (chùa Phưng) thành phố Trà Vinh.
Vì quan nim đất đai của nhà chùa là đất thiêng nên trong cuộc sống người Khmer luôn tránh mọi xâm hại đến đất đai của nhà chùa bằng bất cứ hình thc nào. Ở nhng ngôi chùa có ngưi Khmer sng xung quanh như trưng hp của chùa Quy Nông thuc huyện Châu Thành tnh Trà Vinh. Chúng tôi thy Phật tử khi dng nhà luôn gimột khoảng cách không gian tách biệt vi phần đất của nhà chùa đtrong cuộc sống tránh làm ô ế
 
đến đất thiêng hay gây ồn ào làm ảnh hưng đến cuộc sống tu hành của sư sãi. Ngưi sống quanh chùa luôn tự thân ý thc về vấn đề vệ sinh như không rả rác, xây nhà vệ sinh, xây chuồng gia súc, gia cầm hoặc đào đưng thóat nưc hưng về phần đất của nhà chùa. Họ cũng không bao giờ săn bắt các loại động vật, chim chóc sống trong khuôn viên của vùng đất thiêng. Theo quan nim của Phật tử Khmer nếu làm hại đến đất đai hay săn đuổi thú vật đang cư ngụ quanh chùa thì ngưi sống sẽ gặp phải nhng tai ương trong cuộc đi, còn ngưi chết sẽ không lên đưc cõi Niết Bàn (Niek Phan), tc con ngưi sẽ phi trả giá cho mọi hành động tốt xấu của mình gọi chung là Nghiệp báo (Karma). Tt cả mi hành vi tốt xấu của trong ng xử vi đất đai sẽ đưc nữ thần đất quy chng cũng như Đức Phật cũng nhờ nàng chng quả cho mình khi ngài bị đám con gái của Mara quy phá.
Xuất phát từ quan đim tôn giáo, nên việc bảo vệ đất đai và nhng thành quả của nhà chùa luôn đưc Phật tử xem trọng. Trong quá trình nhiều năm thc đa tại nhng đa phương của tnh Trà Vinh có đông ngưi Khmer sinh sng như huyện Trà Cú, Cầu Kè, Cầu Ngang và Châu Thành, chúng tôi chưa bao giờ chng kiến hay nghe kể về trưng hp một Phật tử Khmer nào đó đã chiếm dụng đất đai của nhà chùa làm chỗ ở như hoàn cnh của một vài ngôi chùa Việt ở các thành phố hay thtrấn trên cả nưc.
 

Bảo vệ cây cối nhìn từ quan đim sinh thái học Phật giáo

Ngoài đt đai, cây cối trong khuôn viên chùa cũng là đối tưng đưc bảo vệ nghiêm ngặt vmặt tâm linh. Xuất phát từ thuyết vũ trụ luận của Phật giáo Theravada xem ngôi chùa là biểu tưng của ngọn Tudi sơn, là trung m của Tam gii, nơi mà Đc Phật đang hnh trì thuyết pháp. Bao quanh ngọn Tudi sơn là khu rng thn Himaphan, dùng làm nơi tu hành lý tưng của 18 vị La Hán (Arhat) và nhng loài linh vật nhiều quyền năng.
Do vy, xung quanh ngôi chùa là cảnh quan của khu rng Himaphan nên phải để cho cây cối mọc tự nhiên hoặc đôi khi các vị sư sãi đã trồng thêm một số loại cây quý cho đẹp mắt hay dùng cho mục đích sau này lấy gỗ trùng tu lại ngôi chùa. Theo quan nim của ngưi Khmer, cây to là nơi ở của thần, nhng siêu linh, Chn và linh hồn ngưi quá cố. Ngưi Khmer theo tục hỏa thiêu, nhng lò thiêu xác dng ngay trong khuôn viên của nhà chùa. Khi thân xác thành tro bụi, linh hồn được tin là sẽ bay lên cư ngụ trên các tán cây, hàng ngày hphải thc dy nghe kinh và hưng phưc từ việc cúng dường chư tăng ở nhng ngưi thân còn sống. Linh hồn ngưi chết không bao giờ dám đến chánh điện vì nơi đó đưc trấn giữ bi Tám vị đại thn linh thần thông quản đại có tên gọi chung là Hộ Thế Bát Phương Thiên (Dikpalaka trong Bà La Môn giáo). Hthế bát phương thiên là n ngưỡng về tám vị thần trấn trị bn phương tám hưng để bảo vệ ngọn Tudi sơn trên thiên gii của Phật giáo Theravada.
 
Bất kmt siêu linh nào dù có pháp lc mnh đến đâu cũng không thể chng nổi uy lc của tám vị thiên vương này. Trong kiến trúc chùa Khmer, Hthế bát phương thiên đưc thể hiện bằng tám trụ giới Sima bao quanh chánh điện, đánh dấu biên gii của cõi thiên giới nơi mà linh hồn không thể đi vào. Như vy, do quan nim tâm linh về chỗ cư trú của linh hồn và nhng thn linh cấp thấp nên Phật tử Khmer đến chùa chyếu vi mục đích thnh pháp của chư tăng, chiêm bái Đc Phật và thư giãn vi cảnh quan môi trưng của nhà chùa, không ai trong số họ dám tàn phá cây cối dù là hành vi bẻ một cành cây hay một đóa hoa. Điều này hoàn toàn khác vi thói quen hái hoa, bẻ cành tại các ngôi chùa và nhng cơ sở tín ngưng của cng đồng ngưi Việt theo tục xin lộc đầu năm ly hên. Chính thói quen này góp phần vào việc tàn phá môi trưng sinh thái xung quanh nhng ngôi chùa Việt tại nhng thành phố ln và thị xã. Có thể nói quan đim tâm linh kết hp vi nhng việc làm thiết thc của Phật giáo Theravada đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trưng cảnh quan, nht là cnh quan xung quanh nhà chùa. Sự tiếp nối của công việc bảo tồn thiên nhiên luôn được duy trì qua nhiều đi sư cả đã tạo dng nên mt cảnh quan vô cùng đẹp mắt ở nhng ngôi chùa Khmer tọa lạc tại thành phố Trà Vinh và Sóc Trăng. Mặc dù nm gia thành phố và phi chu áp lc của công cuộc đô thị hóa, nhưng các chùa Khmer tồn tại như những khu bảo tồn thiên nhiên gia nhng khu phtấp nập đông ngưi. Ý thc tạo dng cảnh quan môi trưng cùng vi việc cấm sát sinh
 
của giáo luật đã làm cho khuôn viên nhà chùa trở thành nơi cư trú lý tưng cho các loài chim, dơi, côn trùng và muôn vật ntrưng hp của chùa Hang tại huyện Châu Thành. Hay sự hoà quyện gia công trình kiến trúc cổ vi môi cảnh tuyệt đẹp của nhng rng cây đại thụ như di tích chùa Angkor Borei Raja (chùa Âng) và chùa Samrong Ek. Xét vmặt di sản, nhng ngôi chùa Khmer mà chúng tôi khảo sát đều đạt đưc nhng tiêu chí theo quy đnh của ngành văn hóa về không gian môi trường, khu vc bảo vệ và đặc trưng kiến trúc của di tích.

Nghệ thuật tạo hình nhìn từ quan đim sinh thái học Phật giáo

Vấn đề tạo dng không gian nghthuật ca các ngôi chùa Phật giáo Theravada luôn đưc chú trọng nhằm giáo dục tín đồ về tình yêu thiên nhiên và vic tôn trng sự sống của muôn loài. Nghthuật tạo hình trong các ngôi chùa Pht giáo Theravada đã thể hiện môi trưng bng các loại hình hoa cỏ, cây cối và muôn thú. Nhng loài cây và hoa được dùng làm vật trang trí xung quanh bờ tưng, hàng rào và trên bệ của các pho tưng Pht Thích Ca như những biểu tưng trưng tồn của Phật giáo. Qua khảo sát năm ngôi chùa Khmer, chúng tôi thấy phổ biến vi các loài hoa như sau: hoa sen biểu trưng cho sự giác ngộ của Đc Phật, hoa Sala biu trưng cho Phật nhập diệt và cây Bồ Đề (Boddhi) biểu trưng cho Phật thành đạo. Tuy chỉ có ba loài hoa và cây nhưng chúng đưc thể hiện cách điệu vi hàng trăm mô típ nghệ thuật khác như thể hiện bằng nghệ thuật điêu khắc, hội
 
họa, thể hiện cùng vi Đc Phật, vi chư thần, trang trí trên thân thể của linh vt, trên btưng, đế tháp, thể hiện đơn lẻ, thể hiện cách điệu vi nhiều biến dạng khác nhau, tất cả tạo nên một bc tranh hoa cỏ vô cùng sinh động bao phủ ngôi chùa. Ngoài ra, đim đặc sắc nhất của nghệ thuật Phật giáo Theravada là kiểu tranh bích họa (Mural painting) đưc vẽ trên chánh điện nhm mô tả cuộc đi hành đạo của Đc Phật, từ lúc ngài đản sinh tại vưn Lâm TNi (Lumpini) cho đến lúc Phật nhập diệt tại rng Sala ở Câu Thi Na (Kusinagara). Các bc vẽ đều mô tả môi trưng tự nhiên nơi Đc Phật đang ôm bát hóa duyên trên con đưng làng đy hoa cỏ hay ngồi thuyết pháp gia nhng rng cây cổ thụ đưc bản đa hóa từ cảnh quan của tnh Trà Vinh như Ao Bà Ôm theo cách hiểu của ngưi Khmer.
Bên cạnh đó, linh vật là loại hình mô tả về ssống của muôn loài và duyên giác ngộ của loài vật trong cõi Tam gii. Nhng linh vật trong chùa Khmer có thchia làm ba loại: linh vật trên không gm đi bàng Krut, tiên nna ngưi na chim Kaynori, thiên nga Hamsa và chim công; linh vật trên mặt đất gm voi thần Airavata, sư tử Simha, khỉ thần Hanuman và Gajasimha là linh vật na voi na sư t; linh vật dưi nưc gm: cá sấu, thy quái Makara và long thần Naga. Nhng linh vật trên đưc tin là đại diện cho muôn loài, chúng tu hành đắc quả nên đưc dng tưng xung quanh nhà chùa đhộ trì Phật pháp. Khi Phật tử đến chùa thưng chm tay vào thân thể chúng rồi xoa lên đầu, thân thể hoc xin dây Càtha có thẻ bài khắc hình ảnh ca
 
chúng để đeo trên csẽ giúp họ tránh bị tà ma làm hại. Các linh vật cũng là vua của muôn loài, của thiên nhiên chúng sẽ bảo vệ cuộc sống của nhng loài vật sống trong khuôn viên hoặc xung quanh nhà chùa nên nhng ai săn bắn sẽ bị chúng trng phạt. Các bc vẽ trên bờ tưng phía sau bàn thPhật trong chánh đin chùa Ông Mẹt cho thy cảnh đa ngục đọa y nhng ngưi khi còn sống đã săn bn nhng loài vật có căn tu hành. Vic mô tả các loài linh vật xung quanh chánh điện của các ngôi chùa Phật giáo Theravada va biu trưng cho tư tưng từ bi xem muôn loài đều có Phật tính va là cách giáo dục ý thc bảo vệ môi trưng, tôn trọng sự sống của loài vật mà Phật giáo cho rằng chúng đều mang đến nhng li ích thiết thc cho cuộc sống của con ngưi như long thần Naga làm mưa cứu nhân độ thế, Krut là mặt tri ban ánh sáng cho con ngưi, voi giúp ngưi chuyên chở và bảo vệ đất đai lãnh thổ mà con ngưi sinh sng, cá sấu đâu lưng kế thành cầu cho nhà sư đi khất thc... Nhng truyền thuyết liên quan đến các loài vật nhm giáo dục Phật tử về tự nhiên luôn mang đến li ích cho con ngưi, ngưc li con ngưi phải thể hiện tình yêu với tự nhiên, yêu thương và tôn trọng ssng ca muôn loài. Nếu con ni tàn phá tự nhiên, săn đuổi tận diệt các loài vật vì mục đích kinh tế họ sẽ nhận lại nhng Nghiệp báo trong kiếp đi hin tại hoặc tương lai.

Kết luận

Môi trường đưc phn ánh qua quan nim tâm linh và Phật thoại đồng thi cũng thể hiện bng nhng việc làm thiết
 
thc để bo vệ cây cối và muôn vật sinh sng trong khuôn viên của các ngôi chùa Phật giáo Theravada và trong phum sóc của cư dân Khmer Nam Bộ. Trong lĩnh vực mỹ thuật, các tác phm trang trí trong chùa luôn thể hiện các chủ đề liên quan đến cnh quan môi trưng như những biểu tưng điêu khắc, tranh vẽ tưng, đưc giải thích bằng nhng truyn thuyết dân gian hay Phật thoại nói về các loài cây cỏ và linh vật. Tất cả nhằm giáo dục cho Phật tử về tình yêu thương muôi loài, tôn trọng tự nhiên và nhng gì thiên nhiên ban tặng cho con ngưi. Phật giáo Theravada luôn nói đến Nghiệp báo (Karma) đang chờ đi nhng ai không tôn trng sự sống của muôn loài trong tự nhiên. Đó cũng là chính phương thức giáo dục sinh thái học tâm linh (Spiritual ecology) để con người sng thin hơn, trách nhim hơn với cộng đng và môi trưng tự nhiên xung quanh họ.



 

I LIU THAM KHẢO

 
  1. Cao Huy Đỉnh (2003), Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ (tác phm được giải thưởng Hồ Chí Minh), KHXH, Hà Nội.
  2. Cao Xuân Ph(1994), “Văn hóa biển Đông Nam Á”, Nghiên cu Đông Nam Á, số 04, Hà Nội.
  3. Chân Nguyên và Nguyn Tường Bách (1999), Tự điển Phật học, Thuận Hóa, Huế.
  4. Châu Đạt Quan (1973), Chân Lạp phong thổ ký (Lê Hương dch), Nguyên Thiu, Sài Gòn.
 
  1. Chevalier Jean (1997), Tự điển biểu tượng văn hóa thế gii, Đà nẵng.
  2. Durant Will (2002), Lch sử văn minh n Độ (Nguyễn Hiến Lê dch), Văn hóa Thông tin.
  3. Fisher Robert. E (2002), Mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo
(Hunh Ngọc Trng dch), Mỹ Thuật.
  1. Geetesh Sharma (2012), Những du vết văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam (Thích Minh Trí dch), Văn hóa Nghthut TP. HCM.
  2. Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, Thanh niên, Sài Gòn
  3. Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Thanh niên, Sài Gòn.
  4. Lương Duy Thứ (cb), Phan Thu Hiền, Phan Nhật Chiêu (1996), Đi cương văn hóa Phương Đông, Giáo dục, Hà Nội.
  5. Mai Ngc Chừ (2001), Văn hóa Đông Nam Á, Đại học Quốc gia Hà Nội
  6. Malleret L. (1959), Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long tập I (L’ Archéologie du delta de Mekong, Volume I), Bản dịch của Vin Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Hà Nội năm 1960.
  7. Malleret L. (1959), Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long, tập II: Văn hóa vật chất ở c o (L’ Archéologie du delta de Mekong, volume II: La civili ation matérielle d c o), Bản dịch của Vin Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Hà Nội năm 1970
  8. Malleret L. (1962), Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long, tập III: Văn hóa vật chất ở c o (L’ Archéologie du delta de Mekong, volume III: La culture d c o), Bản dịch của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Hà Nội năm 1970
  9. Ngô Đc Thnh (1998), “Cái nhìn mới của các nhà nghiên cứu tôn giáo hiện nay, Báo Thể thao văn hóa ngày 11-12.
 
  1. Ngọc Anh (2002), c hình thức thờ cúng của bộ lạc, Văn hóa dân tộc, Hà Ni.
  2. Phm Hunh Phương, Hoàng Cầm  2013. Một số khuynh hướng lý thuyết nghiên cứu văn hóa và các hướng tiếp cn nghiên cứu văn hóa Việt Nam, (đề tài cấp bộ), Viện nghiên cu văn hóa.
  3. Phan Thị Yến Tuyết 2010. “Tâm thức ng xử vi nưc của ngưi Khmer qua lhội Ok Angbok – tiếp cận sinh thái văn hóa”, Tờ tin khoa học – Đi học Trà Vinh số 07, tháng 02 năm 2010.
  4. Phan Thị Yến Tuyết 2012. “Tâm thức ng xử vi biển của ngưi Khmer Nam Bộ qua lễ hội Phưc Biển (Chroi Rumchek) – tiếp cận sinh thái văn hóa”, tạp chí Khoa học xã hi, Vin Phát triển bền vng vùng Nam Bộ, tháng 04 năm 2012.
  5. Phan Anh Tú (2004), “Truyền thuyết về rn Naga trong văn hóa Khơ-me”, Tạp chí Dân tộc và Thi đi, số 71, tháng 10, tr. 02 – 04.
  6. Phan Anh Tú (2005), Hình tượng rắn Naga trong văn hóa Ấn Độ giáo, Tạp chí Dân tộc và Thi đại, số 80 (2), tháng 7, tr. 13 – 16.
  7. Phan Anh Tú (2005), “Nghệ thut điêu khắc cổ Đông Dương, Tạp chí Xưa Nay, số 238, tháng 06, tr. 55 - 60.
  8. Phan Anh Tú (2006), Quan hệ gia sử thi Phả Đeng Nang Ay và truyền thuyết Pháya khăn khác (chúa Cóc) với lễ hội Bun Băng Phay của người Lào, Kyếu Hội thảo văn học Lào tháng 12, Trưng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tr 36 - 42.
 
  1. Phan Anh Tú (2013), Điêu khắc Hộ thế Bát phương thiên (Dikpalaka) từ Ấn Độ đến Đông Nam Á, Tạp chí Khoa học xã hội, số 10 (180).
  2. Reid Anthony (2008), Các vùng đất bên dưới luồng gió thổi” (Ngô Bắc dịch), website: Gio O. org.
  3. Trần Kỳ Phương (2001), Phù điêu Hộ thế bát phương thiên của đế chóp tháp Vân Trạch Hòa và hình tượng Hộ thế bát phương thiên trong điêu khắc Champa”, Tp chí Khoa học và Công nghệ số 3 (33), tr. 84 – 98, Sở KHCN và MT tnh Thừa Thiên Huế.
  4. Trần Quốc Vưng (1989), Tôn giáo và văn hóa”, Báo NCGVN Xuân KT.
  5. Trần Thị Lý (1984), Tượng Đức Phật ngồi trên rắn Naga trong điêu khắc Campuchia”, Tp chí văn hóa dân gian số 03.
  6. Trần Thị Lý (1991), Tượng tròn Campuchia, Văn hóa dân tộc, Hà Ni.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây