47. CẦN BẢO TỒN CÁC LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở KIÊN GIANG

Thứ bảy - 08/09/2018 20:20
CẦN BẢO TỒN CÁC LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở KIÊN GIANG của Lương Thu Trâm*

Người Khmer sinh sng lâu đời ở Đồng bằng sông Cửu Long, xen kẽ với ngưi Kinh, người Hoa, người Chăm trong các phum sóc, đông nhất là ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang. Riêng ở Kiên Giang có khoảng 210 ngàn người, chiếm trên 13% dân số trong tỉnh. Đồng bào chủ yếu sinh sống tập trung ở khu vực quanh 74 ngôi chùa thuộc 13 huyện, th, thành phố. Đồng bào Khmer ở Nam Bộ có nền văn hóa nghệ thuật rt độc đáo. Đặc biệt, đây là một tộc người rt ưa thích múa hát, khi hát bao giờ cũng múa và khi múa bao giờ ng hát. Nhng chùa lớn thường có đội trng, kèn, đàn, có đội ghe ngo... Chùa Khmer là tđim sinh hot n giáo, văn hóa, xã hội của đồng bào.

 
  1. Về âm nhạc, sự hình thành và phát triển ca nhạc của ngưi Khmer ở Nam Bộ có nhng đim giống và khác vi ngưi Khmer ở Camphuchia. Chúng đều xuất phát từ âm nhạc Phật giáo, chu ảnh hưng của văn hóa Ấn Độ, nhưng tại Campuchia âm nhạc kết hp vi vũ điệu cung đình đtrở thành nền ca nhạc truyền thống phát trin rc rỡ mang tính quyn lập. Còn ca nhạc ngưi Khmer ở Nam Bộ cũng xuất phát từ nhạc lễ của Phật giáo, nhưng còn phục vụ dân sinh, mang hơi thvùng sông nưc Cu Long, đưc kết hp vi âm nhạc của ngưi Việt, ngưi Hoa để mang sắc thái riêng đm đà chất Nam Bộ. Âm nhạc của ngưi


* Sở Văn hóa, Thể thao và Du lch tnh Kiên Giang
 
Khmer ở Nam Bộ rất phong phú, liên quan mật thiết đến cuộc sống hằng ngày, thể hiện qua các hình thc hò, hát, đọc, tng… Mỗi biu hin trong đi sng đi thưng của đồng bào cũng đưc thể hiện bằng âm nhạc. Âm nhạc Khmer có tiết tấu sôi nổi, rộn ràng nhưng vn có cái êm du làm nên nhp sống của một cộng đồng làm lúa nưc. Âm nhạc đưc lưu truyền từ đi này sang đi khác, nhưng đa số chỉ bằng con đưng truyền khẩu, mãi cho đến nay vẫn chưa có mt hình thc ghi chép nào vloại hình nghệ thuật này, do vy mi bản nhạc có rất nhiều dị bản.

Theo thống kê của các nhà nghiên cu thì nhạc khí Khmer ở Nam Bộ có khoảng 37 nhạc cụ đưc chia làm 4 nhóm gm: hơi, dây, màng rung và tự thân vang. Bốn nhóm nhạc này tùy vào điều kiện sử dụng, ngưi ta lại tổ chc thành các dàn nhạc khác nhau, chơi trong các hoàn cảnh khác nhau. Nhạc sân khấu là loại cổ nhạc, các bài bản của nó khá hoàn chnh về cu trúc và giai điệu, thưng đưc các nghệ nhân dùng trong các vở diễn ở các sân khấu Rô Băm và Dù Kê, ngoài ra còn đưc sử dụng rộng rãi ở các buổi hòa nhạc, các lễ nghi ở chùa và các đám tiệc ở phum sóc. Còn nhạc dân gian thì lưu hành rng rãi phục vụ các cuộc vui chơi, các hình thc sinh hoạt tập thể, lao động, sản xuất.
  1. Vsân khu, có hai hình thc cơ bản là kch cổ điển Rô Băm và kch hát Dù Kê. Rô Băm là loại hình sân khấu đi từ cung đình ra ngoài nhân dân, còn Dù Kê thì không phải bắt nguồn từ cung đình mà phát tích từ chính mảnh đất Đồng bằng sông Cu Long màu m.

Rô Băm là một loại kch múa cổ điển cung đình, ngoài động tác múa còn dùng li nói, li hát để giải thích các tích tuồng, hành động. Nội dung thường là các tích cổ như vở Rim
 
kê trích từ anh hùng ca Ấn Độ Ramayana, nhất là vTình sử nàng Sita. Thi hoàng kim vào thập niên 60 của thế kỷ XX, hằng năm các đoàn nghệ thuật Rô m thưng đi lưu diễn ở đám làm phưc, các chùa. Đoàn đi diễn đến đâu đều đưc bà con Khmer đa phương hậu đãi lo nơi ăn chốn ở đàng hoàng. Các diễn viên hết lòng đem tài năng nghthuật ra phục vụ công chúng. Nhiều đêm diễn trăng sáng, mưa trái mùa lâm râm, tiếng ếch nhái oang oang khắp đồng và nhy loạn xạ trên sân cỏ, nhưng bà con vẫn nhiệt tình, chăm chú, say mê xem đoàn din hết đêm này đến đêm khác. Được biết, trong quá trình phát triển, nghệ thuật Rô Băm hình thành nhiu lp nghệ sĩ. Nhiu người đã qua đi, nhưng họ vẫn còn đưc ngưi đương thi nhắc nhắc ti và ngưng mộ tài năng. Chùa Rạch Tìa, xã Đnh An, huyện Gò Quao nơi đưc coi là chiếc nôi nuôi dưng nghệ thuật Rô Băm của đồng bào Khmer ở tnh Kiên Giang. Vtrụ trì chùa cho biết: “Đã nhiều năm nay, chùa không còn tổ chc diễn Rô Băm vào nhng dp tết lễ như trưc. Lý do là nhng nghệ nhân già thì thưa tht dần còn lp trẻ biết Rô Băm thì kng có”. Trong ngôi chùa rất giàu truyền thống văn hóa này, chúng tôi bắt gp nhiều loại mặt nạ: chằn, kh, nai, nga, mão vua… do ông sáng tạo nên. Nhưng đã từ lâu, nó trở thành vật lưu niệm chứ không còn đưc sử dụng na. Mc dù rất tâm huyết vi nghệ thuật Rô m, nhưng ông Đào Chuông, Trưng đoàn Nghthuật Khmer tnh Kiên Giang cho biết: Đã my năm nay, Đoàn Nghthuật Khmer Kiên Giang không còn dàn dng và công diễn đưc một trích đoạn Rô Băm nào. Lý do không phải chỉ là vấn đề kinh phí khó khăn. Hiện Đoàn tập trung vào hai loại hình nghthuật là Ca múa nhạc và Dù Kê. Hơn na, đầu tư dàn dựng vô cùng công phu. Lp nghệ nhân điêu luyện ngày càng hiếm vắng. Còn lp
 
trẻ ngày nay lại ít mặn mà vi Rô Băm, bi việc truyền dy và ý thc kế tha thứ nghệ thuật cổ truyn này đã không đưc chú ý đúng mc trong nhiều năm qua. Mà trong vic tuyển chn diễn viên Rô Băm, tiêu chuẩn đầu tiên la chọn là da vào sự ham thích và năng khiếu, rồi mi qua thc tế vi sự hưng dẫn của lp nghệ nhân già. Nhng nghệ sĩ này cũng chỉ là nhng nông dân. Sau nhng đêm biểu diễn, họ lại về làm ruộng ry. Rô Băm là một bộ môn nghệ thuật thuộc di sản văn hóa của đồng bào Khmer. Mặc dù Rô Băm hiện nay chỉ còn đưc ngưi ln ưa thích, vì lp trẻ chỉ thích Dù Kê, bi hình thc này linh hot, gần gũi, gây xúc đng cho khán giả hơn, nhưng người Khmer vn nuôi dưng, bảo tồn Rô Băm là môn nghthuật truyền thống quý giá của dân tộc. Thiết nghĩ, Nhà nưc cn quan tâm htrợ nhiều hơn na cho loại hình nghệ thuật này.

n Dù Kê là một loại hình nghệ thuật có tung tích, có cốt truyện đưc xây dng trên nền nhạc, ca hát đi thoại và các hình thái diễn xuất dân gian. Nghthuật Dù Kê đưc ngưi Khmer rất yêu thích. Đoạn kết kch bản sân khấu Dù Kê thường có hậu, cái thiện thắng cái ác, mang tính giáo dục và nhân văn sâu sc.

Về múa dân gian và diễn xướng tôn giáo, kho tàng múa của người Khmer gm có múa dân gian và múa chuyên nghiệp. Múa Khmer đa dạng về nh thức, phong phú về nội dung, có thể chuyển tải được những tích truyện. Ba điệu múa phổ biến nht là Râm Vông, Lâm Lêu, Sarvan hầu như ngưi Khmer nào cũng biết. Người Khmer có nhiều lễ hội trong năm, mà lễ hội chính là hình thức sinh ra các diễn xướng tôn giáo, khi chỉ có mt người độc diễn, có khi nhiều người cùng tham gia và một điệu hát, hay điệu múa.
 
Ngưi Khmer có nền văn hóa phong phú, đặc biệt là các thể loại âm nhạc và sân khấu dân gian vô ng tinh túy, đặc sắc, là nguồn tài nguyên nhân văn quý, cần đưc trân trọng bảo tồn và phát huy giá tr. Trong Nghị quyết số 23-NQ/T.Ư ngày 16/6/2008 của Bộ Cnh trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới đề ra mc tiêu: “Cn xây dng đề án và cơ chế bảo tồn, truyền bá các loại hình văn học, nghệ thut cổ truyền; có chính sách đặc biệt htrợ sự phát triển của ngôn ng, chữ viết và văn học, nghthut các dân tộc thiu số”.

Xuất phát từ tình hình thc tế ở đa phương, những năm qua, tnh Kiên Giang đã có nhiều nỗ lc trong việc chỉ đạo, quản , đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa tổ chc nhiều hình thc sinh hot văn hóa vùng đồng bào Khmer. Đặc biệt là phát huy vai trò của ngôi chùa và các vị chc sắc tôn giáo trong mọi mặt hoạt động bao gm cả văn nghệ, thể thao lành mạnh nhm bo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, đi sống văn hóa, tinh thần ca đồng bào Khmer trong tnh Kiên Giang hiện nay vẫn còn nhiu khó khăn. Hằng ngày có rt nhiều luồng thông tin sai lệch, xuyên tạc và các văn hóa phẩm độc hại tác động đến đồng bào. Trong khi đó, vốn văn nghệ truyền thống đang có nguy cơ bị mai một. Ví dụ như xã Đnh An, huyện Gò Quao có chùa Rạch Tìa là chiếc nôi nuôi dưng nghệ thuật sân khấu Rô Băm, nhưng đã nhiều năm nay hoạt động biểu diễn này không còn đưc tổ chc vào dp lễ tết như trưc na. Lý do là lp nghệ nhân già thưa tht dần còn lp trẻ thì không đưc truyền dy và cũng không còn mặn mà vi nghthuật Rô Băm.
 
Từ thập nhiên 80 của thế ktrưc, loại hình Dù Kê phát triển khá mạnh ở Kiên Giang, hầu như xã nào cũng có đội văn nghệ biểu diễn. Thế nhưng, nhng năm gần đây, diễn Dù Kê trong tnh Kiên Giang đã bmai một dần. Điển hình như ở xã Đnh Hòa, Gò quao có đội Dù Kê luôn biểu diễn phục vụ đồng bào trong nhng dp lễ hội ln, nhưng sau này lp din viên ln tuổi không còn theo nghiệp đưc na. Trong khi đó, lp thanh thiếu niên trong xã không đưc kế tha, thm chí nói tiếng dân tộc cũng không còn chuẩn như lp ngưi trưc nên không thể hát đưc Dù Kê.

Trưc đây, huyn An Biên có một đội văn nghệ Khmer hoạt động rất hiu qu, nhưng do khó khăn về kinh phí nên đến nay, đội văn nghệ này không còn tồn tại. Còn huyện Gò Quao làm khá tốt phong trào văn nghệ Khmer, nhưng chưa có biện pháp hu hiệu đề lưu giữ đưcb loại hình múa Rô Băm.

Các nghệ nhân ngưi Khmer hiện nay ở Kiên Giang cũng chưa đưc quan tâm htr, nên đi sống gp nhiều khó khăn. Điển hình như nghệ nhân Danh Mỹ ở phưng An Hòa, thành phRạch Giá, là mt trong số ít nghệ nhân Khmer ở Kiên Giang biết m nhạc cụ Khmer. Đây là nghề gia truyn từ 3 đi để lại và anh có thể làm đưc 37 loại nhạc cụ khác nhau. Công việc đòi hỏi sự vt và công phu, nhưng cuộc sống của gia đình anh hết sc khó khăn, vì nhc cụ làm ra không có người mua. Nim mong ưc ln nhất của anh là có một số vốn, mở xưng sản xut nhạc cụ và làm công việc xúc tiền bán hàng để làm ra nhiu nhạc cụ hơn na phục vụ nghệ thuật truyền thống của dân tộc mình và truyền thứ nghề nhiều tâm huyết này cho 2 con trai.

Nhng dẫn chng nêu trên cho thy, việc bo tồn các loi hình văn nghệ truyền thống của đồng bào Khmer ở Kiên Giang đang gặp nhiu khó khăn và còn nhiều việc phải làm. Trong số nhiều giải pháp để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho ngưi Khmer, chúng ta chú ý bảo tồn, điu tra, sưu tm và phát huy vốn văn hóa phi vật thể nói chung và các loại hình văn nghệ truyền thống của đồng bào nói riêng. Thiết nghĩ, chúng ta cần khuyến khích tổ chc nhiều hơn nữa các liên hoan, hội diễn văn nghệ Khmer để khôi phục một số loại hình văn nghệ dân tộc đã và đang bị mai một. Mặt khác, nên đưa vào giáo dục phổ thông nhng kiến thc về văn hóa tộc ngưi; sưu tm, lưu trữ và phổ biến các loại hình nghthuật truyền thống; tăng cưng phát thanh truyn hình bng tiếng dân tc; đầu tư cho các đoàn nghthuật biểu diễn các tiết mục dân tộc, v.vVấn đề cần thiết hiện nay là phải có biện pháp và chính sách htrợ đào tạo bổ sung diễn viên cho Đoàn Nghệ thuật Khmer ca tnh, các đội văn nghệ quần chúng ở các huyện. Nếu có điều kiện, nên khuyến khích xuất bản tp san văn nghệ bằng chữ Khmer và sản xut băng đĩa văn nghệ Khmer để phục vụ ngưi dân.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây