44. TÍNH ĐẶC THÙ CỦA GIÁO DỤC - VĂN HÓA PHẬT GIÁO NAM TÔNG TRONG ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO KHMER Ở TÂY NAM BỘ VỚI VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI BỀN VỮNG

Thứ bảy - 08/09/2018 20:12
TÍNH ĐẶC THÙ CỦA GIÁO DỤC - VĂN HÓA PHẬT GIÁO NAM TÔNG TRONG ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO KHMER Ở TÂY NAM BỘ VỚI VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI BỀN VỮNG của TT. Thích Huệ Thông
 

 

Phật giáo Nam Tông Khmer ngày nay, vi tên gọi trưc đây là Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc Tây Nam Bộ, là một trong chín thành viên sáng lập ca Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong quá trình hình thành và phát triển, Phật giáo Nam tông Khmer đã gặt hái đưc nhiều thành quả tốt đp, góp phần không nhỏ vào công cuộc hoằng pháp độ sanh, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dng và phát triển đất nưc.

Trải qua hơn 33 năm không ngng phát triển, Phật giáo Nam tông Khmer ngày càng khẳng định vị trí của mình, khi cùng vi các thành viên trong giáo hội thc hiện tốt phương châm “Đạo pháp - Dân tc - Chủ nghĩa Xã hội, góp phần đáng kể vào nhng thành tu kinh tế, văn hóa, xã hội tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt, Phật giáo Nam tông Khmer không chthể hiện trọn vẹn vai trò gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, mà còn góp phần to ln trong việc bảo tồn bn sắc và các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer, làm phong phú thêm truyn thống văn hóa đm đà bản sc dân tộc, góp phần thiết chặt mi liên hệ gắn bó, tăng cưng sự hiểu biết, tương thân tương tr, sẻ chia đùm bọc trong đi sống cộng đồng bà con Khmer - Việt tại các tỉnh biên gii Tây Nam của Tổ quc.
  1. Tính đặc thù trong giáo dục và văn hóa
 
    1. Nhng n t đặc thù của Phật giáo Nam tông Khmer
 
Phật giáo Nam tông Khmer là nhân chng sống động của lch sự về quá trình phn chia hệ phái Phật giáo sau khi Đc Phật nhập Niết Bàn đưc 100 năm. Sau khi du nhập vào Đồng bằng sông Cu Long từ phái Thưng Tọa Bộ, do sự tương đồng về đa lý và lch s, văn hóa và dân tộc của ngưi Khmer vi các nưc Phật giáo Nam tông láng giềng như Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar mà Phật giáo Nam tông đưc lan truyền, bén rễ một cách tự nhiên, sâu sắc trong tâm thc văn hóa cộng đồng ngưi Khmer ở Việt Nam. Đồng bào Khmer được phân bố trong 13 tnh thành của Nam Bộ là An Giang, Bạc Liêu, Bình Phưc, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tây Ninh, Trà Vinh,Vĩnh Long, Bà Ra-Vũng Tàu có khoảng 2 triệu ngưi, trong đó có đến 95% dân sxem Phật giáo Nam tông là tôn giáo chính thng. Pht giáo Nam tông Khmer hiện nay có 453 ngôi chùa ln nhỏ đưc xây dng từ rất u đi.

Có thể nói, đi sống thưng nhật của đồng bào Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer không thtách ri. c vị sư có vtrí và ảnh hưng rất ln. Nhà sư được coi là đại diện cho Đức Phật để truyền dy và giáo hóa chúng sinh. Bi vy, họ luôn là ngưi thy đưc tôn kính và tin tưng. Các vị sư đến chùa tu đều là con em của đng bào Khmer, chùa là nơi tu hành của sư sãi, là nơi làm lễ ca đng bào, là nơi giáo dục đào tạo dy ch, dy nghề cho con em của đng bào, là trung tâm văn hóa của dân tộc, là bảo tàng lưu giữ các hiện vật từ đồ thờ tế t, điêu khắc, trm trổ, ghe ngo (để dùng đua trong các lễ hội dân gian)… đồng thi cũng là nơi thờ cúng nhng người thân của đồng bào Khmer sau khi mt. Sinh hoạt trong gia đình, cộng đồng phum, sóc của ngưi Khmer đa phần đều gắn vi Phật giáo. Các công việc của gia đình cũng như sinh hoạt văn hóa, lễ hội của cộng đồng đều
 
có sự tham dự của các vị sư. Đại bộ phận các ngôi chùa Khmer đã trở thành nơi hội tụ, đim đến và là nơi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng làng xã Khmer ở Việt Nam.
    1. Tư tưng Đức Phật là nền tảng giáo dc ca người Khmer

Nói đến tinh thn giáo dục của Phật giáo Nam tông Khmer, tc là nói đến mối liên hệ mt thiết gia nhà sư, ngôi chùa và tín tâm của Phật t. Đồng thi nói đến mối liên hệ không thể tách ri nhau gia đi sống đạo pháp và đi sng hằng ngày của ngưi dân sinh sống trong phum sóc, làng xã. Điều thú vị mà chúng ta có thể cm nhận, đó là tất cả sư sãi tu ở chùa Phật giáo Nam tông Khmer hầu hết là con em của đồng bào Khmer. Khi họ bắt đầu trở thành nhà sư, hliền nhận đưc sự tôn kính của nhng ngưi thân, tuy nhiên gia họ và nhng ngưi thân vẫn không có khoảng cách nào tách biệt. Ngưc lại, họ còn gần gũi nhau để học tập giáo lý cùng nhng điều cần thiết khác trong đi sống. Tuy nhiên, nói đến vai trò giáo dục của Phật giáo Nam tông Khmer, điều đu tiên bắt buộc phải đề cp đến, đó chính là ngôi chùa. Bi ngoài chc năng phc vụ tu hành cho chư tăng, đáp ng nhu cầu tôn giáo cho tín đồ và chc năng của một trung m n a, mái chùa n có chức năng giáo dục rất sâu sắc.

Nghiên cu về sinh hoạt của ngưi dân Khmer, chúng ta thy rằng, chư tăng của Phật giáo Nam tông Khmer và tín đồ luôn gắn bó chặt chẽ vi nhau, hỗ tương giúp đỡ nhau trong tu hành và cả trong đi sống thưng nhật. Theo nếp nghĩ của đồng bào Khmer ở Nam Bộ, thì chư tăng dù trẻ tuổi hay cao niên cũng đều đại diện cho Đức Phật để giáo hóa chúng sinh, do vy tín đồ luôn tôn kính chư tăng một cách tuyt đối. Vị trí và vai trò của
 
chư tăng trong lĩnh vực giáo dục ảnh hưng sâu rộng từ đi sống tâm linh đến đời sống gia đình và xã hội, điều này đã tạo nên hiệu quả giáo dục toàn diện, tính cộng hưng rất cao này đã tạo nên bản sắc văn hóa mang đm dấu n Phật giáo Nam tông Khmer, không thlẫn lộn vi bất ktchc tôn giáo nào trên thế gii. Bi Phật giáo Nam tông Khmer đưc xã hội hóa một cách nhân bản và tuyệt vi! Điều này còn đưc thể hiện chân thc qua quy đnh mang tính khế ưc xã hội của đồng bào Khmer thì các bé trai cần phải vào chùa tu học (không cố đnh về thi gian), một phn để báo hiếu cha mẹ, nhng ngưi sinh thành dưng dục, phần quan trọng na là ghi nhận sự tôi luyện, tu học toàn diện trong môi trưng chùa trưc khi đưc cộng đồng coi là mt ngưi đàn ông trưng thành.

Có lẽ do vy mà nhng nội dung giáo dục về đạo đc mà sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer truyn đạt đến đệ tử của mình (nhng ngưi sau này khi hoàn tục đưc xem là hạt giống lành mnh và hu ích cho gia đình xã hội) đa phần là nhng kiến thc căn bản về trách nhim bổn phận của ngưi con đối vi tổ tiên, ông bà, cha mẹ, vợ con… rất cụ thể cho tng vai trò mà ngưi đàn ông đm nhận trong mối quan hệ gia đình. Chẳng hn khi dy về bổn phn của con đối với cha mẹ, thì quý sư ng dụng Kinh Thi Ca La Việt (Sigāla sutta) mà trên 2.550 năm trưc, Đc Phật dy rất kvề “Năm bổn phận căn bản của cha mđối vi con cái” như: “Ngăn nga con khỏi nhng điều bất thin. Khuyến khích, động viên con làm nhng điều lành. Cho con học nghề nghiệp. Hưng con đến một cuộc hôn nhân thích hp. Trao truyền sản nghiệp (vt chất và nhng giá trị văn hóa truyền
 
thống) cho con một cách đúng lúc(1). Ngưc lại, bổn phận làm con thì cần phải biết ơn cha mẹ, tự có trách nhim vi chính mình và vi cha mẹ, thông qua năm điu căn bản mà Đc Phật cũng đã dy trong Kinh Thi Ca La Vit: “Cha mđã nuôi dưng ta, ta phải nâng đcha mẹ. Ta phải thay cha mẹ chu toàn bổn phận. Ta phải giữ truyền thống gia đình. Ta phải xng đáng là ngưi tha kế. Ta phi làm phưc để hồi hưng công đức đến cha mẹ”. Đặc biệt, chư tăng cũng dy rất kỹ cho hàng đtử về bổn phận của một ngưi con trai chân chính đối vi gia đình tương lai của mình, bằng nhng li thiết thc trong bài kinh Điềm Lành (Mangala sutta) như: “Htrợ cha mẹ trong tuổi già hay khi đau m; là trụ cột của vợ và con; hành nghề nghiệp
lương thiện; đó là hạnh phúc cao thượng”(2).



Bên cạnh đó, ngoài việc hằng ngày học chữ Pali để đọc kinh, ngưi đã xuất gia còn phải học thuộc lòng nhng bài khóa ghi trong sách lá thốt nốt, như: sách Giáo Hun Ca (Satra Chbắp Crom) dy về lễ nghĩa, phép tắc, lễ độ, kính trên nhưng dưi, cách đối nhân xthế trong đi sống xã hội. Nội dung sách này ghi lại nhng lời răn dy của tổ tiên, ông bà về bổn phận làm con phải biết lễ nghĩa, biết công ơn dưng nuôi cha mẹ; sách Luật Tổ Tiên (Chbắp Mê đa) hay sách Luật đnh (Chbắp Tê va đa) cung cấp kiến thc về nhng huyền thoại, Phật thoại; sách Quy đnh đức hạnh của nam gii (Chbắp Prốts), sách Quy đnh đức hạnh của nữ giới (Chbắp Srey), sách Kinh nghim sản xuất nghề nông làm ruộng (Chbp Kê kal), sách Học gương Đức Phật (Chbắp Balắts Senna Vông) có nội dung ly gương đc độ của Pht mà phê phán nhng hành vi sai trái của con ngưi để tu dưng tâm
  1. Trưng Bộ Kinh, bài kinh Ca Thi La Việt.
  2. Tiểu Bộ Kinh, bài kinh Đim Lành.
 
tính… Ngưi Khmer quan nim, nn tảng phúc lạc trong đi sống con người phải bắt đầu từ đạo đc gia đình, thông qua nhng việc làm thể hin bổn phận trách nhim cụ thể trong mối quan hệ gia đình và xã hội. Do vy trong chuỗi thi gian đưc xuất gia vào chùa tu hành, chính là quá trình chuẩn bị làm con, làm chồng, làm cha, nói chung là làm ngưi rất căn bản của tín đồ Phật giáo Nam tông Khmer.

Chính nguyên nhân này, mà lâu nay, ngôi chùa cũng chính là ngôi trưng dy nhân cách, tri thc, đạo đc đầu tiên cho thanh, thiếu niên Khmer ở Nam B. Điều này không chđáp ng nhu cầu đưc giáo dục của đại bộ phận thanh thiếu niên trong đi sống xã hội ngưi Khmer, mà nó còn lưu gimột nét thuần phong mtục vô cùng trân quý trong thi đi văn minh vật chất đang lấn dần các giá trị văn hóa tinh thần. Ngoài chc năng giáo dục đạo đc, hoàn thiện nhân cách cho thế hệ trẻ, trong nhiều năm qua, tại các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer ở Đng bằng sông Cu Long, các vị sư sãi còn tổ chc dy chữ Việt, chữ Khmer, chữ Pali, truyn đạt kiến thc phổ thông, dy múa hát, nhạc ngũ âm; nhờ đó mà lưu giữ đưc các loại hình văn hóa nghệ thuật truyn thống của dân tộc. Như vy, rõ ràng là truyền thống giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long đã góp phn hình thành bản sắc văn hóa dân tc.

Theo truyền thống, Phật giáo Nam tông Khmer không thu nhận ngưi nữ xuất gia. Tuy nhiên, thông qua nếp sống và tư tưng ca nhng ngưi đàn ông trong gia đình, vốn là nhng ngưi đã tng xut gia, tng đưc nhà ca giáo dục ngay tthi trai trẻ, nên phnữ Khmer sm chu ảnh hưng và dễ dàng huân tập nền giáo dục đạo đc nhân bản của Phật giáo từ ngưi
 
thân của mình. Hơn nữa, thông qua các buổi thuyết giảng giáo lý của chư tăng, nhân các lễ hội truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer diễn ra hng năm, như LPhật đản; Lễ Dâng y; nghi thc dâng cúng vật phẩm cho chư tăng; Lễ Chol Chnam Thmay (giống Tết Nguyên Đán của người Kinh); Lễ Đôn ta (lễ cúng ông bà); Lễ cúng Trăng(1), phụ nữ Khmer nhờ đó đưc trang bị thêm nhiu kiến thc về gia đình, về nuôi dy con cái, về cách thể hiện bn phận và trách nhim đối vi cha mẹ cũng như
chồng con trên nền tng Kinh Ca Thi La Việt và các kinh tng Pali khác… Tính truyền tha và cách nhân rộng theo lối tu truyền thống này đã giúp cho slưng tu sĩ Phật giáo Nam tông Khmer lúc nào cũng đông. Bng chng là trong tổng số trên
30.000 tu sĩ Phật giáo của cả nước thì có đến 10.000 tu sĩ Phật giáo Nam tông Khmer, trong khi s lưng chùa chiền tự viện lẫn am cốc của Pht giáo Bắc tông lớn hơn chùa Phật giáo Nam tông Khmer gấp nhiều lần. Qua đó, chúng ta thy rằng, đây cũng là nét đặc thù trong cách tổ chc và huy động nguồn lc kế tha mt cách tự nhiên theo truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer.

Ngoài vai trò của mt vị thy truyền bá Phật pháp, hầu hết các nhà sư Nam tông Khmer còn là nhng vthy dy văn hóa cho tín đồ. Do làm thầy cùng mt lúc cả hai phương diện đi lẫn đạo, nhất là các nhà sư Phật giáo Nam tông Khmer đều rất chú trọng việc thể hiện đạo đc bản thân để làm gương cho xã hội, vì vy mà hình nh ngưi tu sĩ Nam tông luôn đưc tín đồ hết lòng tin tưng và kính trọng. Mặt khác, ở Phật giáo Nam tông Khmer hầu như không có tình trạng tu sĩ giả, vì gii tu sĩ Phật giáo Nam
 
tông đều là con em ca đồng bào Khmer, tt cả đều ở chùa và đều đặt dưi sự quản lý của chùa, của Giáo hội rất nghiêm túc. Có thể nói, nhng ưu đim rất ấn tưng này hầu như không có hoặc rất hiếm gặp trong các tổ chc tôn giáo khác.

Phật giáo Nam tông Khmer từ ngàn xưa cho đến ngày nay đều có truyền thống giáo dục tự viện, tc đào tạo Tăng tài tại mi chùa, do vthy truyn dy li cho đệ ttừ kiến thc thế gian cho đến xuất thế, từ nhân cách đạo đc cho đến phm hạnh của ngưi xuất gia. Tuy nhiên, trong hai thập niên gn đây, Phật giáo Nam tông Khmer tại Đồng bằng sông Cu Long đã đưc phép mtrưng đào to Tăng tài. Từ đó các trưng lp Phật hc ra đi đáp ng nhu cu học Phật và hoằng pháp độ sanh trong giai đoạn mi. Cthể, ở cấp Đại học có Học viện Pht giáo Nam tông Khmer tại quận Ô Môn, thành phCần Thơ, hiện có gần 70 Tăng sinh theo học. Cấp Trung học có năm Trường Trung cấp Phật học tại các tnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh; hiện có trên 800 tăng sinh. Hệ Sơ cấp và Trung cấp Pali, Vini có trên 200 lp đưc mở ngay tại các chùa Phật giáo Nam tông Khmer trong sáu tnh Đồng bng sông Cu Long, ưc khoảng trên 3.000 tăng sinh theo học. Năm 2011, Học viện Phật giáo Nam tông Khmer đã cấp bằng tốt nghiệp Cử nhân Phật học khóa I, niên khóa 2007 - 2011, cho 62 tăng sinh và khai
giảng Khóa II, niên khóa 2011 - 2015(1).

Nhng con số này minh chng rằng, bên cnh yếu tố giáo dục truyn thống thì phương cách giáo dục theo xu thế thi đại
 
cũng đưc Phật giáo Nam tông Khmer hưởng ng và quan tâm đầu tư đúng mc.
    1. Văn hóa lễ hội ca Phật giáo Nam tông Khmer

Có thể nói, con đưng thể hiện văn hóa thm mỹ của Phật giáo Nam tông là lối hoạt động nhm đánh thc con ngưi ra khỏi nhng giấc mơ huyn hoặc, ra khi bc tưng vô minh tăm tối. Chính vì thế, nhng hoạt đng lễ hội, vui chơi mục đích là hưng đến Chân-Thin-Mcủa triết lý và mc đích đưa Bi - Trí vào đi của Phật giáo vào lòng dân chúng. Ngoài ra, tín đồ và tu sPhật giáo Nam tông có một quan nim hết sc đặc biệt và vô cùng ý nghĩa qua các lễ hội.

Ngôi chùa là trung tâm sinh hot tôn giáo và văn hóa của cộng đồng Khmer, bi có sự gắn kết bao đi từ nhiều thế hệ; ngoài việc chư tăng ở chùa hưng dẫn cho đồng bào Phật tử thc hiện chánh pháp, chấp hành kỷ cương phép nưc, còn phải quan tâm đến việc kế tha và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thc hiện các quy đnh về lễ hội. Trong mt năm, đồng bào Khmer vùng Đng bằng sông Cu Long có khoảng 15 lễ hội thu hút sự tham gia của toàn thcộng đồng, thì trong số đó có ti 10 lễ hội có nguồn gốc từ Phật giáo và do sư sãi Phật giáo đng ra tổ chc trong khuôn viên các chùa, vi sự tham gia của toàn thể cộng đồng. Trong 5 lễ hội còn lại, mặc dù không đưc diễn ra trong khuôn viên các chùa Khmer nhưng vẫn có sự tham gia của đông đảo Phật tử và vác vị sư. Có thể thy, bên cạnh vai trò hết sc quan trọng trong việc hoàn thin tri thc và nhân cách cho thành viên của cộng đồng, ngôi chùa Khmer còn là nơi vun bồi văn hóa truyền thng cho đồng bào Khmer.
 
Ngôi chùa Khmer thưng đưc xây dng trên một khu đất cao, thóang mát, nm ở trung tâm của phum, sóc đthuận tiện cho việc đi lại hành lễ, của các Phật t. Kiến trúc chùa Khmer, ngoài chánh điện, nơi quan trọng nhất, để thPhật, trong khuôn viên chùa còn có các công trình khác va gắn vi việc tu học của sư sãi, đồng bào, lại va thiết thc phục vụ các hoạt động khác trong đi sống ngưi dân nơi đây, như: Sala - nơi sinh hoạt lễ hội của các tín đồ, nơi tập trung đồng bào để bàn bạc các công việc chung ca phum, sóc. Thư viện - nơi cất giữ kinh sách, thư tch Phật giáo và các sách v, tài liệu văn hóa xã hội chung phục vụ việc tu học, tra cu của đồng bào. Phòng học, phục vụ việc tu học của các sư sãi, vic phát triển văn hóa, đào tạo chữ Khmer và học tập của con em trong phum sóc. Khu tháp, lò hỏa táng, phục vụ các hoạt động liên quan đến việc ra đi của bất kmt ngưi dân nào trong phum, sóc, như thiêu xác và hỏa táng các Phật tử khi qua đi, v.v

Phật giáo Nam tông đến để mà thy chứ không phải đến để mà tin. Do đó, nghi thc Nam tông không có cúng cô hồn, chẩn tế, xem ngày xấu, ngày tốt. Vi một Phật tử Nam tông thuần thành thì ngày nào làm lành lánh dữ thì ngày đó là ngày tốt, bng không thì ngược lại. Hằng ngày, bà con Khmer cũng thưng xuyên ti chùa bái Pht, dâng cơm cho sư sãi, nhất là nhng dp gia đình hu s, như ma chay cưi hỏi, mi gia đình đều phải đến chùa thnh mi sư sãi hay Acha (thy cả) đến gia đình mình chng giám. Điu này thật đúng như câu nói của ngưi Khmer: “Sống vào chùa gi thân, chết vào chùa gi cốt”. Theo tập tục, ngưi Khmer khi chết không đa táng như các dân tộc khác, họ đem vào chùa hỏa táng (thiêu). Sau đó ly ct gi vào chùa phụng th, ngụ ý để vong hồn ngưi chết sm hôm nghe kinh
 
Phật, ngõ hầu mau đưc siêu thóat về cõi Niết Bàn theo quan nim và nim tin của bà con. Ngày thưng đã là vy, nhưng đến nhng ngày lễ hội, bà con Khmer quy tụ về chùa cúng Phật và nghe chư tăng giảng kinh rất đông đủ, tiếp theo là tổ chc vui chơi múa hát với các loại hình nghệ thuật truyn thống. Lễ hội trong dp tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây diễn ra rất tưng bng nhộn nhp, từ ngưi già đến trẻ đều xênh xang áo mi, các cô gái mặc xà rông sặc s, tay bưng những cái mâm phủ vải lụa vàng vi các lễ vật dâng cúng Phật. Đây thật sự là mt lễ hội hòa trộn văn hóa Phật giáo Nam tông vi văn hóa ngưi Khmer một cách nhuần nhuyễn. Điu này đã tạo nên sắc thái văn hóa rất đặc thù của đồng bào Khmer ở Nam Bộ. Trong lễ hội Chôl Chnăm Thmây, bà con trong phum, sóc, như đưc tưi tm trong hương hoa, đưc nghe nhng li kinh cầu thiêng liêng m áp, chan hòa trong tiếng nim Phật nhim mầu. Trong khi đó, tiếng hát lâm thôn của các cô thiếu nữ hòa cùng âm vang của tiếng trống sa- dăm từ các chàng trai bay bổng vang xa.

Nghi lễ Phật giáo Nam tông gắn liền vi văn hóa ngưi Khmer, chính yếu tố y đã tạo nên sự khác biệt với nghi lễ Phật giáo Bắc tông. Nói vlễ hội truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer chyếu là Lễ Phật đản đưc tổ chc vào ngày rm tháng 4 (theo Mahasankaran/ lch của ngưi Khmer); Lễ Nhập hạ, đưc bắt đầu từ 15/6 đến 15/9 âm lch; Lễ đặt cơm vt (Boonh phchum bônh); Lễ Xuất hạ diễn ra chiều ngày 14 đến trưa 15/9 âm lch; Lễ Dâng y/ Kathina; Lễ kiết gii/ Xaayma; Lễ an vị Phật… Đưc biết, hiện nay, các lễ hội Phật giáo và lễ hội dân gian của đồng bào Khmer đã đưc cải tiến, chắt lọc và rút ngắn thi gian so vi trưc đây để phù hp vi hoàn cảnh thi
 
đại, tuy nhiên nghi thc và nội dung thì vẫn giữ tính truyn thống.

Trong hệ thống lễ hi của Phật giáo Nam tông Khmer, thì Lễ Dâng y là một trong nhng lễ hội đưc Phật tử chú trọng nhất. Kathina là chiếc y màu vàng dành cho hàng tăng l. Theo tập tục của người Khmer, Kathina là từ chỉ đnh mùa dâng y của Phật tử đến ctăng. Lễ Dâng y đưc chn hành ltrong 30 ngày, đưc tính từ ngày ra hạ 16/9 đến ngày 15/10 âm lch. Đối vi ngưi Khmer, ngày dâng y là ngày ltrng đại nhất, nó thể hiện sâu sắc nét văn hóa của Phật giáo Nam tông, ngụ ý là nương nhờ ánh sáng hào quang của Phật pháp để hưng đến mt đi sống chân, thin, m. Ngày dâng y cũng là ngày đại lễ để Phật tử dâng lên cúng dưng Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) tứ vật dng gm lvật thiết yếu dùng trong chùa và trong sinh hoạt của chư tăng. Trong các lễ phm, chiếc y là một lễ phm rất quan trọng không thể thiếu. Ngoài việc dâng các lễ phm thiết yếu đến Tam bảo, các Phật tử còn đóng góp tnh tài gọi là dâng bông bạc (hình thc dâng cúng một cây bông hoa có kèm theo tiền, mà ngưi ta gọi là cây tiền) vi mc đích để trùng tu, sa cha chùa chiền và cung cấp lương thực, thc phm đến ctăng.
  1. Xây dựng xã hội bn vững

Trải qua hàng ngàn năm bén rễ và phát triển tại cộng đồng dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cu Long, Phật giáo Nam tông vi nhng quan đim về nhân sinh quan, thế gii quan đã trở thành nguồn gốc tư tưng, tác động vào việc hình thành nên đặc trưng văn hóa của cộng đồng. Nhng i học về nhân quả báo ng, về vô ngã vtha, yêu thương muôn loài, nuôi nấng và
 
phát khi m thiện lành, giữ gìn trai gii và báo hiếu,... đã trở thành phương châm sng của đng bào nơi đây.
    1. Phát huy tính hòa nhập và tùy duyên

Cuộc sng thay đổi bất ngờ do công nghệ tiên tiến của khoa học phát triển, làm cng ta đôi khi không bt kp để điều chnh cuộc sống tu hành ca mình sao cho phù hp. Đất nưc phát triển đưa con ngưi đến sự văn minh cao và thành tu khoa học kthuật cao, cũng như việc nâng cao đi sng sinh hoạt. Trong suốt chiều dài lịch sử đồng hàng cùng dân tộc, Phật giáo Nam tông Khmer đã phát huy hết khả năng tiềm ẩn vốn có, điển hình các nhà sư đã luôn đem hết khả năng cũng như sự hiểu biết về kiến thức Phật học cũng như thế học dy dỗ con em đồng bào Khmer. Nhà sư trong Phật giáo Nam tông Khmer là ngưi thy thc s. Trong các trưng chùa, các lp bổ túc Pali, nội dung đưc đưa vào giảng dy là chữ Pali, giáo lý, văn hóa, nghề thủ công và cả đạo đc nhân cách cho cộng đồng tín đồ. Các lp học trong chùa này do chính các sư đảm trách. Bng kiến thc và sự hiểu biết của mình, các sãi giáo strc tiếp dy cho con em trong cng đồng các  nội dung nói trên, phân theo tng cấp học. Qua các trường, lp hc trong chùa do các nhà sư đảm trách, hầu hết các thành viên trong cộng đng đều đưc đào tạo về các tri thc văn hóa, nghthủ công ở một trình độ nhất đnh. Từ đó tạo dng cho họ nhng hành trang ban đầu, căn bản nhất trưc khi bưc vào cuc sống ở tuổi trưng thành. Vì vy, các vị sư dy học đưc cộng đồng kính trọng, cho nên tiếng nói, ý kiến của sư tăng về nhng công việc chung luôn có ý nghĩa quan trọng đi vi mỗi thành viên trong phum, sóc. Không chỉ mang nghĩa hẹp là dy trong trưng chùa, các vị sư Khmer còn góp
 
phần quan trọng vào việc duy trì, phát triển các giá trị đo đc xã hội tốt đẹp qua việc ly chính đạo hạnh và đức độ của mình trong cuộc sống làm gương cho xã hội, mà trưc hết là trong cộng đồng người Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long.
    1. Phát huy trí tuệ

Bên cạnh đim chung so với các tôn giáo khác là hướng con người đến điều thiện, Phật giáo có đặc điểm riêng là duy trì và phát triển tuệ giác. Bởi vì, mục đích của Phật giáo là diệt khổ và đem vui cho mọi loài. Vì vy, phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc. Mục đích của Phật giáo là giải thoát, giác ngộ, và chỉ có trí tuệ mới là phương tin duy nhất đưa loài người đến bờ giải thoát giác ngộ. Do vy, chúng ta có thể nói Phật giáo là đạo của người trí, là đạo của tuệ giác. Người có trí đưc Đc Phật diễn tả như mt người thiện lương tri, giúp chúng ta phân biệt chánh - , thiện - ác, tịnh - uế, lạc - khổ, thắng - liệt. Điều quan trọng trí tuệ ở đây không còn là mt đặc tính hy hữu có một không hai, mà trở thành nmột thứ lương tri luôn luôn có mặt trong chúng ta, tác đng nmột ngọn đèn soi sáng giúp chúng ta biết phân biệt chọn lựa giữa thiện và ác, giữa chánh và tà, khiến chúng ta có thể nhận biết những gì nên làm, nhng gì không nên làm để có thể tự hướng dẫn mình tiến đến an lạc giải thoát. Diu dng này được Đc Phật khéo din tả đặc tính, những thái độ, những việc làm của hai hạng người, được gọi là kẻ ngu và người trí, một phân biệt tế nhị nữa là người trí ưa thích im lng như biển lớn không sóng gió, kẻ ngu thì ồn ào như khe núi, như cái gì trống rỗng:

“Hãy học hnh của nước,
 
Nước khe núi chy ồn, Từ khe núi vc sâu, Biển lớn đy im lặng, Cái gì trống kêu to, Ngu như ghè với nước, Cái gì đy im lặng,
Bậc trí như ao đy(1)
    1. Nâng cao tinh thn đoàn kết và hòa hợp

Từ lúc du nhập cho đến nay đã trải qua hơn hai ngàn năm, Phật giáo đã đi vào đt nước Việt Nam bng nhiều hướng khác nhau và trải qua nhiu giai đoạn khác nhau. Từ góc độ có nhiều sự khác biệt trong vic hình thành và phát triển như vy, nên trong giới Pht giáo Việt Nam tuy có cùng đức tin nhưng lại chia ra thành nhiều tổ chc với những sinh hoạt tu tập khác nhau. Và cũng nhờ sự sinh hoạt thống nhất và hòa hợp trong một Giáo hội, mà các tu sĩ Phật giáo Việt Nam thuc những hệ phái biệt truyền khác nhau có được thiện duyên cùng học chung một trường lớp, cùng sống chung trong một tu viện. Từ môi trường sinh hot chung, với mối tương quan mật thiết như thế đã tạo cơ hội cho các tu sĩ Phật giáo Việt Nam tìm hiểu, nghiên cu, thực tập những pháp môn khác nhau, để từ đó rút tỉa được những kinh nghim quý báu và gặt hái được những nhận thức phong phú về Phật giáo trên mặt lý thuyết và cả mặt tâm linh, cũng như định vị được vai trò và việc m cn thiết của nhà tôn giáo trong xã hội thời hiện đại và trong cộng đồng quốc tế.




1 Kinh Tiểu Bộ I, 106.
 
Phật giáo luôn khuyến khích phải tiếp cận với thực tế cuộc đời để thực hành những phương pháp của Phật. Đây chính là lý do để Tăng già (Sangha) - tập thể những ngưi tu - ra đời và phát triển. Do vy, trong vận hành thực tế của các cộng đồng tu sĩ Phật giáo, yếu tố đoàn kết rất được chú trọng. Đây là mt giá trị quan trọng mà việc nghiên cu, ứng dụng vào cuộc đời đã trở thành bài học cho nhiều trang sử của nhiều dân tộc. Thể hiện truyền thng Phật giáo là tâm hồn bao dung và sự hài hòa với mi người trong tinh thần lục hòa cộng trụ mà Đc Phật đã chỉ dy, được coi là xương sống cho sự sinh hoạt của một đoàn thmà Đc Phật đã nói từ rất lâu. Đem tinh thần lục hòa áp dng trong quá trình hoạt đng của Giáo hi, chắc chắn công tác Phật sự mới thành công tt đẹp. Khi đó sự nghiệp hoằng pháp li sanh mới có tác dng lớn lao; sự đóng góp của Giáo hội cho dân tộc mới thực sự mỹ mãn.

Phật giáo luôn đi giữa lòng dân tộc. Đây là điều kiện tạo nên sự thành công cho công tác Phật sự và hình thành sự đoàn kết không có gì có thể phá vỡ được.
  1. Tinh thần yêu nước

Bên cạnh nét đẹp văn hóa - giáo dục, tính đoàn kết hòa hợp, Phật giáo Nam tông Khmer còn có những nét đẹp đáng quý, đáng trân tng đó là TINH TH N YÊU NƯ C được thể hiện rất rõ qua hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quc. Trong 9 tổ chc hệ phái tham gia hiệp thương và thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào tháng 11/1981, hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer là tổ chc duy nhất mang danh xưng Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc khu Tây Nam Bộ. Điu này đã phản ảnh rõ nét tinh thần dân tộc và lòng yêu nước, ngay cả nhng năm tháng sinh hoạt trong thi
 
chiến dưi sự kìm kẹp của một chế độ đi ngưc lại li ích dân tộc, thì tổ chc này vn công khai danh nghĩa là một tổ chc yêu nưc của Phật giáo, đã dấn thân vào các hoạt động đấu tranh vì mc tiêu hòa bình thống nhất của dân tộc.

Thật vy, kể từ khi Hi Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc khu Tây Nam Bộ đưc thành lập vào năm 1964 do Hòa thưng Thạch Som làm Hội trưng, tiếp theo đó Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc các tnh Đồng bằng sông Cu Long lần lưt ra đi, đã thực sự là nơi quy tụ sư sãi, Pht tử Phật giáo Nam tông Khmer các tnh Tây Nam Bộ nêu cao tinh thần yêu nưc, đu tranh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Năm 1975, đất nưc hòa bình thống nhất, cũng như các tổ chc đoàn thể khác, Hi Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc Tây Nam Bộ đã tích cc tham gia kiến thiết nưc nhà, khắc phục hu quả chiến tranh. Đến tháng 11/1981, cùng vi 8 tổ chc, hệ phái Phật giáo trong cả nưc, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc Tây Nam Bộ là thành viên sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Cũng từ đây Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc Tây Nam Bộ quay trở li vi danh xưng cũ là Phật giáo Nam tông Khmer.

Trong ngôi nhà chung của Giáo hội, hơn 33 năm qua, Phật giáo Nam tông Khmer đã có nhng đóng góp đáng kể trong công cuộc xây dng Giáo hội, phát triển đt nưc; góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa ngưi Khmer ở Nam Bộ, làm phong phú thêm truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, xng đáng vi truyền thống yêu nưc, gắn bó đồng hành cùng dân tộc. Có lẽ, giờ đây khi lật lại những trang sử vàng, nơi đó sẽ cho chúng ta thy rõ những chng tích hào hùng của các nhà sư Phật giáo Nam tông Khmer. Điển hình là Hòa thưng Tăng Phố (tc Trần Phố) đã cùng vi Phật tử và Ban Quản trị chùa Láng Cát tham gia các
 
hoạt động chng lại bn điền chủ da thế thc dân Pháp chuyên đi cưp đất, phá chùa. Do hoạt động có hiệu quả gây đưc tiếng vang ảnh hưng cả một vùng rộng ln, nên vào tháng 6/1894, bọn mật thám Pháp đã bắt Hòa thưng đày ra Côn Đảo cùng vi 22 Phật tử trong Ban Quản trị chùa Láng Cát (Kiên Giang). Đưc biết, sau khi Hòa thưng Tăng Phố bị bắt, Hòa thưng Tăng Hô là thị giả ca ngài, đã ni tiếp sự nghiệp ân sư. Cuối cùng, Hòa thượng Tăng Hô cũng bị bọn mật thám Pháp ráo riết truy bắt, đành phải quay về chùa Cù Là (cũ) thuộc huyện Châu Thành (Kiên Giang) để lánh nn. Sau một thi gian, Hòa thưng Tăng Hô về chùa Ging Cm ở Hậu Giang. Tại đây, Hòa thưng Tăng Hô đưc tổ chc Việt Minh giao nhim vụ làm Chủ tch Hội đồng Kluật Sư sãi khu Tây Nam Bộ (tiền thân của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc Khu Tây Nam Bộ) và là Phó Chtch Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ. Sau khi Hòa thưng Tăng Hô viên tịch, Hòa thưng Tăng Nê, là học trò của ngài, tiếp tục đưc tổ chc giao giữ các chc vChtch Hội đồng Kluật Sư sãi khu Tây Nam Bộ và Phó Chtch Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ. Cùng thi đó, Hòa tng Sơn Vng trụ trì chùa Giồng Chuối (Trà Vinh) đưc bầu vào chc Phó Chủ tch y ban Trung ương Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam, Phó Chủ tch y ban Bảo vệ Hòa bình Thế gii và Cố vấn
y ban Mt trận Dân tộc Giải phóng Khu Tây Nam B(1)


Sau khi quân Pháp rút đi, Mỹ - Dim nhy vào cai trmiền Nam, trong bối cảnh thi by giờ, nhất là khoảng thi gian sau mùa hè đỏ la năm 1972, Miền Nam thc sự là bãi chiến trưng, chùa chin hoang phế, phum sóc điêu tàn. Trong khi đó, để bổ

1 Tham khảo bài viết ca TT. ThS. Danh Lung, Phó ban Văn hóa Trung ương Giáo hi Phật giáo Việt Nam.
 
sung quân số bị hao ht ở các chiến trưng, chính quyền Sài Gòn ráo riết lùng sục bt lính sung quân, không nhng con em Pht tử bị bắt mà cả chư tăng cũng buộc phải ci y, cầm súng. Trưc diễn biến tình hình phc tạp, chư tăng, Phật tử càng nêu cao tinh thần yêu nưc, thắt chặt tình đoàn kết, nêu cao tm gương Đại thí (Mahà Pàraccàgga), đây là tinh thần bất khuất thuộc yếu tố Dũng trong ba thuộc tính Bi - Trí - Dũng ca Phật giáo, tt cả đồng loạt đng lên chống lại tình trạng bắt bớ ba bãi… Cuộc biểu tình kéo dài nhiu ngày, sau đó lan rng hầu hết các tnh thành Tây Nam Bộ. Đnh cao là ngày 10/6/1974, tại Rch Giá (Kiên Giang), dưi sự vận động và dẫn đầu của chư tăng lãnh đạo Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc, trên 2.000 tăng sĩ, Phật tử Khmer và đồng bào Kinh - Hoa tham gia biểu tình. Lúc by gi, tinh thần yêu nưc của chư tăng và tín đồ dâng cao, khí thế ngút ngàn. Trong hàng ngũ chư tăng, có ngưi đeo dèm, cm dù, cm micrô phát thanh; có ngưi cm băng rôn biu ng, hô vang các khẩu hiệu phản đối chính quyền Sài Gòn đương thời: “Phi trả tự do cho các vị sư bị bắt đi quân dch”, “Chm dt bắn phá chùa chiền, bắt sư sãi đi lính, giết hại đồng bào vô tội”, “Lp lại hòa bình, chm dt chiến tranh phi nghĩa”, “Tôn trọng tự do tín ngưng, chống chính sách ngu dân, đồng hóa dân tộc” và “Phải thc hiện nhân quyền và bình đẳng mọi mặt… Điều đau xót và cũng rất tự hào là trong cuộc biu tình bảo vPhật pháp, bảo vệ chính nghĩa này đã có bốn vị sư anh dũng hy sinh. Đó là các Đại đc Lâm Hùng, Danh Hoi, Danh Tấp, Danh Hom cùng vi 32 vị khác bị trọng thương. Theo tinh thần Phật giáo Đại tha thì đây là hạnh nguyện Bồ tát, bi các vị đã hành theo hạnh Bồ tát để đổi ly sự trưng tồn cho Phật pháp, nền hòa nh cho đất nưc và nguồn hạnh phúc an lc cho nhân dân. Ktừ cột mc đấu tranh
 
lch sử đó, hằng năm cứ đến ngày 10/6, chính quyền, nhân dân, và đông đảo bà con Phật tử thành tâm tưng nim và ôn lại truyền thống ngày Mahà Jìvita Pàraccàgga (Đại thí mạng), ngày hy sinh bất tử của Phật giáo nói chung và của chư tăng, Phật tử Khmer nói riêng, trong công cuc bảo vPht pháp, bo vệ nền độc lập tự do của Tquốc.

Nhìn lại chặng đưng 33 năm đồng hành cùng dân tộc, chúng ta có thể nói rằng, từ phương châm “Đo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” vi nhng việc làm cthể “tốt đạo, đẹp đi”, Phật giáo Nam tông Khmer đã thể hiện rất rõ tinh thần trách nhim trong việc phát huy sc mạnh đại đoàn kết toàn dân, đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp xây dng và bo vệ đất nưc. Do vy, song song vi vic ổn đnh sinh hoạt và phát triển Giáo hội, Phật giáo Nam tông Khmer đã tích cc hưng ng các cuộc vận động thi đua yêu nưc, như: “Toàn dân đoàn kết xây dng đi sống văn hóa ở khu dân cư”, “Học tập và làm theo tm gương đạo đc Hồ Chí Minh”, “Xây dng nông thôn mi, “Hưng ng ngày vì ngưi nghèo” và tích cực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội như xây nhà tình nghĩa, cất nhà tình thương, bắc cầu bồi lộ, cung cấp giếng nưc sạch, nuôi dưỡng người già neo đơn, vận động thành lp quỹ khuyến học, cu trợ đồng bào bị thiên tai, mở các lp phổ cập dy văn hóa cho các em.

Phật giáo Nam tông Khmer đã để lại nhiều du ấn trong đời sống văn hóa của dân tc Vit Nam nói chung và đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ nói riêng. Nhng nét đẹp y nay vẫn còn đang ứng dng và ny càng phát triển phát huy tính ưu việt, mang đm bản sắc tối ưu vốn có mà tất cả chúng ta ai cũng phải thừa nhận. Tuy nhiên, để đáp ứng và bắt nhịp kịp với nhịp sng
 
số của hiện nay, một thời đại của công nghệ thông tin phát triển không ngừng, thì ngi những truyền thống cao đẹp vốn có của Phật giáo Nam tông Khmer, phát huy tính hòa nhập và tùy duyên, cùng vi trí tuệ của người con Phật và tính đoàn kết - hòa hợp, cũng như tinh thn yêu nước.

Tóm lại, các nghi thc lễ hội của đồng bào Khmer thưng gắn liền vi truyền thng Phật giáo, đều tổ chc tại chùa, đều có sự hiện diện của chư tăng, luôn thể hin theo nghi thc Phật giáo. Cuộc sống dù n khó khăn vất vả về vật chất, nhưng con ngưi vẫn đối xử vi nhau hết lòng bằng sự chân thành, thuần phác. Nhng tệ nn xã hội, nhất là xung đột gia đình, dòng tộc hầu như hiếm khi gặp thy trong đồng bào Khmer. Nhng giá trị nhân bản và đạo đc xã hội mà đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long từ quá khứ đến thi kỳ hội nhập quốc tế đều giữ gìn và phát huy giáo lý Phật giáo, tạo nên nhng giá trị bản sắc văn hóa độc đáo, hết sc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer ở nưc ta. Đây chính là một trong nhng yếu tố rất quan trọng góp phần xây dựng mt xã hội bền vững ở hiện tại cũng như trong tương lại.



TÀI LIỆU THAM KHO:
  1. Đại  Tạng  Kinh  Việt  Nam,  Thích  Minh  Châu  dịch,  Kinh Tương Ưng, tập V, phm Dự Lưu.
  2. HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Tăng Chi, tập III, Nxb. Tôn giáo.
  3. Võ Thành Hùng, Nghi lễ vòng đời người Khmer tỉnh Sóc Trăng, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, 2011.
 
  1. Võ Thành Hùng, Pht giáo Nam tông Khmer Đồng bằng sông Cửu Long đồng hành cùng dân tc trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Tuyên giáo Tnh y Sóc Trăng.
  2. Học viện Phật go Nam tông Khmer tổng kết năm học, http:// giaohoiphatgiaovietnam.vn
6. Phật giáo Nam tông Khmer các tnh Đồng bằng sông Cửu Long đồng hành cùng dân tộc
  1. Báo cáo sơ kết công tác Phật sự 6 tháng đu năm 2010 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
  2. Giới thiệu sơ lược về Phật giáo Nam tông Khmer, Ban Tôn go Chính phủ.
  3. TT. Trần Kiến Quốc, nh hình Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Sóc Trăng, Đoàn Đại biểu Pht giáo Nam tông Khmer tỉnh Sóc Trăng.
  4. Phan An, Nguyn Xuân Nghĩa, Các dân tộc ít người ở Vit Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984.
  5. Phan An, “Cơ chế qun lý xã hội truyn thng phum, sóc của ngưi Khmer Nam Bộ”, trong Làng xã ở Châu Á và Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí Minh,1995.
  6. Nguyễn Chí Bn, “Lễ hội và nguồn gốc dân gian Khmer”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 05/1991.
  7. Nguyễn Khắc Cảnh, Chùa Khmer Nam Btnh Sóc Trăng - mt công trình nghệ thuật kiến trúc độc đáo”, Tập san Khoa học, Trưng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố HChí Minh, s01/1997.
  8. Trần Kim Dung, “n hóa truyền thống ca ngưi Khmer Đồng bằng sông Cu Long trong cuc sống hiện nay”, trong

Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hi Đông Nam Á, Nxb. Đại học Quốc gia Tnh phố Hồ Chí Minh, 2000.
  1. Lễ hi truyền thống ca đồng bào Khmer Nam B, Nxb Giáo dục, Hà Ni, (1998), Sơn Phưc Hoan (chủ biên), .
  2. Nguyễn Văn Hòa sưu tm, Lễ dâng y và tập tục Khmer (bài tham khảo sưu tm về Lễ Dâng y Kathina).
  3. TT. Thạch Hà, Nghi lễ Phật giáo Nam tông Khmer gn liền với n a dân tộc Khmer.
18. HT. Tăng Nô, Giáo dc Phật giáo Nam tông Khmer.
  1. Thích  Trí  Qung,  Điểm  chung  nhứt  của  Phật  giáo  Nam truyền và Bắc truyn.
  2. Thích Trí Quảng, Nét đẹp của Phật giáo Nam tông Khmer.
  3. Minh Nga, Giới thiu sơ lược về Phật giáo Nam tông Khmer.
  4. Bài viết của TT. ThS. Danh Lung, Phó ban Văn hóa Trung ương Giáo hi Phật giáo Việt Nam.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây