42. PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ bảy - 08/09/2018 20:07
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM của HT. Thích Thiện Tâm*
 

 

Phật giáo Việt Nam, xét về cả nội dung lẫn hình thc, là sự dung nạp, kết hp và thống nhất của nhiều tông môn, hệ phái, nhiều màu sắc, hình thc, truyền thống truyn tha Phật giáo khác nhau. Chính đặc đim này đã tạo nên tính thống nht trong sự đa dạng của Phật giáo Việt Nam, trong đó Phật giáo Nam tông Khmer là một thành viên. Để thy đưc vai trò là một bộ phận cấu thành không thể tách ri và mối quan hệ khăng khít gia Phật giáo Nam tông Khmer vi Phật giáo Việt Nam trong dòng chy của dân tộc và định hưng cho sự phát triển trong thi gian ti, cần xem xét vấn đề này trong mối quan hệ địa lý, lịch s, xã hội, cũng như tình hình phát triển hin nay và từ đó có nhng đề xuất và giải pháp thích hp.
  1. Phật giáo Nam tông Khmer

Ngưi Khmer ở Nam Bộ là bộ phận dân tc Khmer tập trung chyếu ở Đồng bng sông Cu Long Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời và nền văn hóa dân gian đặc sắc. Xét về tổng thể, ngưi Khmer ở Nam Bộ là một trong 54 dân tộc Việt Nam, đồng thi có nhiều đim đặc đim tương đng vi ngưi Khmer ở các nưc lân cận, đặc biệt là Campuchia, nơi dân tộc này chiếm hơn 90% dân s. Như vy, không thể bỏ qua tính đặc thù về địa lý, chủng tộc và mi quan hệ đặc biệt gia Phật giáo Nam ng Khmer trong dòng chy Phật giáo Việt Nam cũng như sự tương đồng gia Phật giáo Nam tông Khmer ở Việt Nam và Pht



* Hi đồng Trsự Giáo hi Phật giáo Việt Nam.
 
giáo Nam tông Khmer Campuchia trong sphân đnh mang tính quy ưc, tương đối này.

Phật giáo có vai trò đặc biệt quan trọng trong cộng đồng ngưi Khmer từ nhng buổi đầu lch s. Phật giáo Nam tông đã có mặt ở Đồng bằng sông Cu Long từ khong thế kIV. Đến thế kỷ XIX, đại bộ phn các phum, sóc của ngưi Khmer đều có chùa thờ Phật. Tính đến tháng 6/2010, Phật giáo Nam tông Khmer đã có 452 ngôi chùa vi 8.574 vị sư (chiếm 19,3% tổng số chư tăng trong cả nưc)

Trong phum, sóc của ngưi Khmer, ngôi chùa có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ phục vụ các sinh hoạt nghi ltôn giáo thuần túy và đời sống tu hành của sư sãi, mà chùa cũng chính là nơi thc hành các hoạt động tôn giáo, văn hóa, giáo dục cho cộng đồng dân cư tại phum, sóc. Đặc biệt, ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer còn có thể coi như ngôi từ đường chung của phum, sóc. Tri qua bao thế hệ, cứ đi sau tiếp nối đi trưc, cả khi sống và khi đã chết, cuộc đi mỗi ngưi dân trong cộng đồng đều gắn bó chặt chẽ vi ngôi chùa. Khi chết, xác của họ đưc hỏa táng trong lò hỏa táng của nhà chùa, sau đó tro cốt của họ đưc rưc về thờ ngay trong chùa, vĩnh vin được ở bên Đc Phật. Cứ mỗi năm đến Lễ Đôn-ta, vào gia tháng 9 dương lch (30/8 âm lch), dân trong phum, sóc dù có đi làm ăn xa my cũng trở về chùa, nơi lưu giữ tro cốt của ngưi thân, để lễ Phật và thắp hương tưng nhttiên, nhng ngưi đã sinh thành và dưng dục mình, nay đã vvi Đc Pht. Đây là một nét văn hóa đẹp, đm tính nhân văn cao cả, mang dấu ấn đặc trưng của đạo đc Phật giáo.
 
Vị sư cả trụ trì của ngôi chùa trong phum, sóc có vthế và tiếng nói đặc biệt quan trọng của một đại din tinh thần, tâm linh của cả vùng. Nhà sư đưc coi là đại diện cho Đc Phật để truyền dy và giáo hóa chúng sinh, bi vy vị sư luôn là ngưi thày đưc tôn kính và tin tưng. Theo truyn thống từ xa xưa của ngưi Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long, tuyt đại bộ phận ngưi dân theo Phật giáo thuộc hệ phái Nam tông. Có thể nói, đi sống thưng nhật của đồng bào Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer không thtách ri. Các vị sư đến chùa tu đều là con em của đồng bào dân tộc Khmer, chùa là nơi tu hành, là nơi làm lễ của đng bào, là nơi giáo dục đào tạo dy ch, dy nghề cho con em của đồng bào dân tộc, là trung tâm văn hóa của dân tộc, là bảo tàng lưu giữ các hiện vật từ đồ thờ tế t, điêu khắc, trm trổ, ghe ngo (để dùng đua trong các lhội dân gian)… đồng thi cũng là nơi thờ cúng nhng người thân của đồng bào Khmer sau khi mt. Sinh hoạt trong gia đình, cộng đồng phum, sóc của ngưi Khmer đa phần đều gắn vi Phật giáo. Các công việc của gia đình cũng như sinh hoạt văn hóa, lễ hội của cộng đồng đều có sự tham dự của các vị sư. Đại bộ phận các ngôi chùa Khmer đã trở thành nơi hội tụ, đim đến và là nơi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Khmer ở Việt Nam.

Về gii luật Phật giáo, chư tăng Nam tông Khmer, trong mi tương đồng vi ctăng Nam tông Kinh và Nam tông các quốc gia Phật giáo trên thế gii nLào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Sri Lanka luôn tuân thủ nghiêm ngặt gii chế đnh dành cho hàng xut gia theo hai bc Sa di và Tỳ khưu. Cthể, Sa di giữ 105 giới, Tỳ khưu giữ 227 gii. Chư tăng Nam tông Khmer ở nhiều nơi vn duy trì hạnh trì bình khất thc từ thi Đc Phật còn tại thế.
 
  1. Phật giáo Nam tông Khmer trong dòng chảy Phật giáo Việt Nam

Phật giáo Nam tông Khmer là một bộ phận không thtách ri của Phật giáo Việt Nam xét về hình thc lẫn nội dung. Quả vy, trong dòng chy lch sử dân tộc, Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng vận mnh dân tộc vi tôn chỉ nhập thế, độ đi và Phật giáo Nam tông Khmer chưa bao giờ đng ngoài thế cuộc chung cùng nhân dân và Phật tử nưc nhà.

Điển hình là tm gương của HT. Tăng Phố (tc là Trần Phố), cùng vi Phật t, Ban Quản trị chùa Láng Cát phản đối Pháp và điền chủ cưp đất, phá chùa. Tháng 6 năm 1894, mật thám Pháp bắt Hoà thưng đày ra Côn Đảo cùng 22 Phật t, Ban Quản trị chùa Láng Cát, Kiên Giang. Sau khi HT. Tăng Phbị bắt thì HT. Tăng Hô là thgithân cận tiếp tc sự nghiệp ca ân sư, mật thám Pháp truy bắt, hoà thưng lánh về chùa Cù Là Cũ, huyện Châu Thành, tnh Kiên Giang, rồi sau đó HT về chùa Giồng Cm, thuộc tnh Hậu Giang ngày nay. Tại nơi đây, Hòa thưng đưc giao phó trọng trách Chtch Hội đồng Kluật Sư sãi khu Tây Nam Bộ (tiền thân của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc) và Phó Chtch Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ.

HT. Tăng Hô viên tch, HT. Tăng Nê là học trò tiếp tục sự nghiệp và giữ chc vụ của cố hoà thưng để lại. Cùng thi đó HT. Sơn Vọng ở chùa Giồng Chuối, tnh Trà Vinh, hoà thượng đưc bầu vào chc Phó Chủ tch y ban Trung ương Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Chủ tch y ban Bảo vệ Hoà bình Thế gii và cố vn y ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Tây Nam Bộ.
 
Trong kháng chiến chống Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, trưc tình hình quân đch bắt dân đi lính, buc các sư phải hoàn tục, giết hại nhân dân vô tội, gây đau thương, tang tóc cho đồng bào Nam Bộ, chư tăng và thiện tín Nam Bộ, tiêu biểu là Phật giáo Nam tông Khmer đã đng lên phản đối mà tiêu biểu nhất là sự kiện ngày 10 tháng 6 năm 1974. Lúc bấy gi, tại tnh Kiên Giang (Rạch Giá), vi sự vận động và dn đầu của chư tăng Khmer, chư tăng Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc, hơn hai ngàn chư tăng Phật tử Khmer và một số đồng bào Kinh-Hoa đã tham gia biểu tình, bất chp nắng mưa, bom đn, hay km gai vi băng rôn biểu ngữ trên tay yêu cầu: “Phải trtự do cho các vị sư bị bắt đi quân dch”, “chm dt bắn phá chùa chiền, bắt sư sãi đi lính, giết hại đồng bào vô tội”, “Lập lại hoà bình, chm dt chiến tranh phi nghĩa”, “Tôn trọng tự do - tín ngưng, chống chính sách ngu dân, đồng hóa dân tộc” và “phải thc hiện nhân quyn và bình đẳng mọi mt” đã góp phần vào Đi thắng mùa Xuân năm 1975 thống nhất giang sơn, non sông thu về một mối như mong mi của toàn thể ngưi dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Trong cuộc biểu tình bảo vệ Phật pháp, bảo vệ dân tộc và bảo vệ chính nghĩa này đã có 4 nhà sư Khmer hy sinh là Lâm Hùng, Danh Hoi, Danh Tp, Danh Hom và 32 vị bị thương, các vị đã hành theo hnh Bồ tát để đổi ly sự an vui cho nhân loại, sự bình yên cho đất nưc, đi ly sự trưng tồn cho Phật pháp.

Về mặt tổ chc, Phật giáo Nam tông Khmer là một bộ phận cấu thành trong Hệ phái Nam tông, vun đắp nên bản chất và diện mo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tháng 11 năm 1981, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc Tây Nam Bộ do Hòa thưng Dương Nhơn làm trưng đoàn cùng vi 8 tổ chc, hệ phái Phật giáo
 
trong nưc đã thống nhất thành lập một tổ chc chung đại diện cho Tăng ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam ở trong và ngoài nưc, ly tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, sự thống nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoàn toàn không mâu thun vi tính đa dạng về màu sắc, hình thc thể hiện, tính chất biệt truyền của tng tông môn hệ phái. Mà trái lại, Giáo hội Phật giáo Vit Nam chính là nơi to điều kiện đy đủ về tổ chc, hành chính, lãnh đạo cho tính đặc thù, truyn thng của tng hệ phái, trong đó có Hệ phái Nam tông nói chung và Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng đưc duy trì và thể hiện mt cách rõ nét nhất. Ngay chính trong Li nói đầu của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã khẳng đnh: “Sthống nhất Phật giáo Việt Nam xây dng trên nguyên tắc: Thng nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chc, đng thi vẫn tôn trọng và duy trì các truyn thống hệ phái cũng như các pháp môn và phương tin tu hành đúng chính pháp”.

Mt thuận li ln của Phật giáo Nguyên thy Việt Nam (bao gm Nam tông Kinh và Nam tông Khmer) nói chung và Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng trong hội nhập và phát trin cùng Phật giáo trong khu vc và trên thế gii là do tính chất giữ gìn nghiêm túc truyn thống tu tập biệt truyn của mình có đim tương đng ln vi Phật giáo trong khu vc, đặc biệt là các quốc gia nơi có Phật giáo Nguyên thy là quốc giáo như Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Sri Lanka (Phật tử theo truyền thống Nguyên thy bất luận ở đâu cũng học và hành trì theo nhng giáo lý nguyên gc trên y chỉ là Tam tạng Pali). Nhờ vy mà Phật giáo Nguyên thy Việt Nam có thuận duyên trong vic hp tác, giao lưu, trao đổi học thuật, kinh đin, giáo dục, du lch m

529
 
linh, tìm hiểu văn hóa, v.v… Đặc biệt hơn na, trong lch sử truyền tha Phật giáo Nam tông Kinh vào Việt Nam nhng năm 30 - 40 của thế kXX, Hòa thưng (HT) Hộ Tông, HT. Bu Chơn, HT. Thiện Lut, HT. Gii Nghiêm, v.v… có cơ duyên đưc tu hc trên đất nưc Campuchia và chu nhiều ảnh hưng của Phật giáo Nam tông mang bản sắc ngưi Khmer, sau đó về Việt Nam đthành lp nên Giáo hội Tăng già Nguyên thy. Chính điều này đã tạo nên nhng nét tương đồng ln trong li sinh hoạt, sự hành trì, cách tụng nim da trên căn bản Tam Tạng Pali Khmer của cả hai truyn thng Nam tông Kinh và Nam tông Khmer.

Vi nhng đặc đim khách quan trong mối quan hệ vi toàn thể nn Phật giáo nưc nhà, vi quốc gia, dân tộc và xã hội như đã khảo sát ở trên, Phật giáo Nam tông Khmer ngày nay đã không ngng phát trin và đạt đưc nhiều thành tu đáng kể trên nhiều phương diện. Theo Báo cáo công tác Phật sự nhim kỳ VI Giáo hội Phật giáo Việt Nam, năm 2007 – 2012, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã:

+ Cấp 5.896 giy Chng nhận Tăng ni, chng nhận Tu sĩ Nam tông Khmer; bổ nhim, hợp thc hóa cho 520 vtrụ trì, khắc dấu tròn cho 430 cơ stự vin, công nhn 452 Ban Quản trị chùa Phật giáo Nam tông Khmer.
+ Đưc sự hỗ trợ của Ban Tôn giáo Chính phủ, Vụ Phật giáo phi hp vi Ban Thưng trc Hội đồng Trị s, Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội tổ chc 03 hội nghị chuyên đề Phật giáo Nam tông Khmer tại Bạc Liêu (2008), Kiên Giang (2010) và Trà Vinh (2012); đã in 80 đầu kinh sách Phật giáo bằng chữ Khmer, tổng cộng 385.388 cun và trao tặng cho 14 Tnh/ Thành hội có Phật giáo Nam tông Khmer sinh hot. Ngoài ra, đưc sự hỗ trợ

530
 
của cơ quan chức năng các tnh, thành, chư tôn đức đại diện Phật giáo Nam tông Khmer tại 14 đơn vị Tnh/ Thành hội Phật giáo đã sang Vương quốc Campuchia thnh 496 bộ Đại Tạng Kinh nguyên bản bằng tiếng Khmer, phân phối cho các chùa Phật giáo Nam tông Khmer.
+ Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại thành phCần Thơ, có 58 tăng sinh tt nghiệp Cử nhân Phật học khóa I (2007 - 2011); 30 tăng sinh đang học Khóa II (2011 - 2015).
+ Các Lp Trung cấp Phật học, có 367 học viên; Lp Sơ cấp Pali, Vini có 5.839 học viên; Lp Kinh, Luật, Luận có 1.371 học viên; Tiểu hc Khmer ngữ tlp 1 đến lp 6 có 1.418 lp,
32.538 chư tăng, thanh thiếu niên đồng bào Khmer theo học. Ngoài ra, đa số các chùa Phật giáo Nam tông Khmer đều tổ chc dy tiếng dân tộc cho con em ngưi dân tc từ 8 đến 15 tuổi. Việc tổ chc thành công các lp hc nêu trên đã góp phần hoàn thiện chương trình giáo dục Phật giáo của Giáo hội.
  1. Kết lun
Qua hội thảo khoa học quan trọng này, chúng tôi rất hoan nghênh sáng kiến của Ban Tổ chc và tin tưng rằng, bằng nhiều tham luận của chư tôn đc lãnh đạo Giáo Hội, chư vlãnh đạo Phật giáo Nam Tông Khmer và các nhà nghiên cu lch sử Phật giáo và văn hóa các dân tộc, sẽ góp phần vinh danh, m sáng tỏ hơn na sự hi sinh xương máu, đoàn kết yêu nưc cao quý của sư sãi và đồng bào Khmer trong snghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dng đất nưc hin nay, cùng tăng ni Phật tử cả nưc phát huy truyền thống hộ quốc an dân, của Phật giáo Việt Nam, không phân biệt tông môn hệ phái, Nam tông – Bắc tông, Việt – Khmer… để thc hin nếp sống lục hòa cộng trụ, bằng tinh thần hòa hp đoàn kết trưng dưng đạo tâm trang

nghiêm Giáo hội tích nỗ lc thc hiện phương châm hoạt đng của Giáo hội: Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa xã hội, góp phần tích cc cùng toàn dân xây dng đất nưc và bảo vệ Tổ quốc vì mc tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bng văn minh, góp phần tăng cưng tuyền thống đoàn kết hu nghị và hp tác vi Phật giáo Campuchia và các nưc láng giềng trong khu vc nhm tiến đến thc hin nhim vụ chung của Phật giáo Việt Nam và các nưc trong khu vc vì mục tiêu hòa bình, phát triển, hp tác và hạnh phúc của nhân dân trong khu vc và hòa bình thế gii.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây