40. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Thứ bảy - 08/09/2018 20:02
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN của Bạch Thanh Sang*
 
 

Đặt vấn đề

 
Nghiên cu kỹ về truyền thống giáo dục con em của đồng bào Khmer từ thời xa xưa, chúng ta sẽ thy mt điều rất rõ là vùng đồng bào Khmer không có cái gọi là trường học theo đúng nghĩa thông thường. Tất cả việc dy ch, rèn luyện, bồi dưỡng kiến thức và hình thành nhân cách đạo đức kể cả học làm người, học một số nghề cần thiết cho cuộc sống gia đình như: học cưa, đục bào, đóng tủ bàn ghế, học xây ct nhà ca, trồng các loại rau, trồng các loại cây ăn trái, trồng các loại y lâu năm ly gỗ, học cày cy làm ruộng, học vẽ các hoa văn theo đường nét của dân tộc, học nặn tượng, nặn các phù điêu truyn kể cổ tích,… đều phải vô chùa tu, hay còn gọi là học tu. Như vy, chùa của đồng bào Khmer là trường học đầu đời cho con em của họ. Trong chùa có nhiều lớp học chữ Pali do thy giáo hoặc các sư trong chùa dy cũng khá lâu đời. Nhưng việc dy và học, học và dy trong chùa từ thời xa xưa vẫn quan nim là vào chùa đi tu. Hiện tượng học theo kiểu này trong cộng đồng người Khmer không gọi là trường học, nhưng việc đi tu y vn làm tròn ý nghĩa của chc năng trường học thông thường. Qua đây, chúng ta thy rằng, đồng bào Khmer dùng đặc tính linh thiêng, mầu nhim triết lý của Đức Phật làm phương tiện, phương pháp truyền dy học trò. Còn học trò vào chùa học, tự nhận thức được đây là ca linh thiêng của Đc Phật nên phải hết sức nghiêm túc.

* Vụ Dân tc - Tôn go, Ban Chỉ đạo Tây Nam B.
 
Như vy, việc giáo dc đạo đức, giáo dục nhân cách, rèn luyn về mọi mặt, người dy nhờ vào sức mnh của luân lý Phật giáo làm trợ thủ đắc lực nhất cho sự thành bại của người dy và người học. Đây là một lĩnh vực thuộc về tâm lý học dân tộc và giáo dục hc dân tộc nói chung cũng như trong lĩnh vực giáo dục học Phật giáo nói riêng. Phương pháp dy học cổ truyn trong chùa của đồng bào Khmer đạt hiệu quả rất cao từ lâu đời mà chúng ta chưa biết cách khai thác.Vì vy, trong bối cảnh đất nước ta trên con đường hội nhập và phát trin hiện nay, việc giáo dục trong Phật giáo Nam tông Khmer cần phi được nghiên cu cụ thể.
  1. Khái quát về người Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ
 
    1. Khái quát vngưi Khmer ở Nam B

Nước ta gm nhiều dân tộc anh em, có truyn thống đoàn kết, đấu tranh trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần làm phong phú văn hóa dân tộc Việt Nam.

Đng bào Khmer ở Nam Bộ có khoảng 1,3 triệu ngưi, sinh sng ở các tỉnh, thành Nam Bộ, trong đó tập trung đông nhất ở 9 tỉnh, thành Tây Nam Bộ: Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Kiên Giang, An Giang và thành phố Cn Thơ. Hầu hết đồng bào theo Phật giáo Nam tông, vi 460 ngôi chùa, cùng slưng chư tăng dao động hàng năm trên dưi 9.000 v.

Ngày nay, đất nước ta đang trên đà tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, người dân Khmer ở Nam Bộ không nm ngoài
 
làn sóng y. Đồng bào nhận thức rằng, việc học tiếng phổ thông (tiếng Việt) là cần thiết cho nhp sống mới, cho nền sản xuất công nghiệp để cải thin đời sống vật chất, thay vì trước đây chỉ chú trọng học tiếng Khmer để gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì thế, xu hướng học tập được mở rng, ngày càng phát triển. Vả lại, Đảng và Nhà nước đã mở ra chính sách nâng cao dân trí cho toàn dân nói chung và quan tâm ưu đãi cho con em người Khmer. Giáo hi Phật giáo Việt Nam cũng rất quan tâm đến việc tu học, sinh hoạt của Phật giáo Nam tông Khmer như thành lp Học viện Phật giáo Nam tông Khmer, in ấn nhiều tài liệu kinh sách phân phát cho các chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Từ đó, chư tăng và Phật tử người Khmer có điều kiện học tập phát triển kịp với nhịp độ chuyển mình của đất nước và sự phát triển tiến bộ ca Phật giáo Việt Nam.
    1. Khái quát vPht giáo Nam tông Khmer ở Nam B

Đng bào Khmer ở Nam Bộ hu hết theo Phật giáo Nam tông. Đi vi đồng bào Khmer, dân tộc và tôn giáo là một, luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ vi nhau. Do vy, đng bào đu xem mình là tín đPhật giáo Nam tông. Họ đến vi chùa chiền bằng tất cả tấm lòng thành kính, cả cuộc đi họ, luôn gắn bó vi Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Chùa Khmer va là trung m sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyn thống, dy chữ Khmer cho con em đồng bào, nơi bàn bạc giải quyết các công việc của cộng đng, va là nơi thờ cúng ttiên, “sống gi của, chết gi i ct”.

Chức sắc Phật giáo Nam tông Khmer phần ln xuất thân từ người dân lao động, là lớp người trí thức, đại diện cho dân tộc, có vai trò to lớn trong đời sống của đồng bào Khmer, am hiu phong tục, tập quán, sống gần gũi và gắn bó với quần chúng.
 
Việc đi tu của thanh niên Khmer vừa là nghĩa vụ, vừa là vinh dự. Đồng bào Khmer xem sư sãi là hiện thân ca Đc Phật, nên rất kính trọng, tin tưởng gửi gắm tình cm, bày tỏ tâm tư, nguyn vọng, tin, nghe và làm theo sự chỉ dẫn của chức sắc và sư sãi. Ngoài Pht giáo Nam tông, đồng bào Khmer còn tin thờ các vị thần Neak Tà, Arak và thực hiện các nghi lễ dân gian cùng với hệ thống lễ hội truyn thống như: Tết Chôl Chnăm Thmây, Lễ Sen Đôn Ta, Lễ hội Ok Om Bok,v.v...

Đng bào Khmer ở Nam Bộ có truyn thống đoàn kết yêu nưc. Trải qua các thi kỳ kháng chiến, nhiều chc sắc, chc việc, trí thc tôn giáo và Phật tử Khmer đã cống hiến, hy sinh xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc(1). Trong thi bình, các vị sư sãi luôn quan tâm tham gia công tác xã hi, ủng hộ sự nghiệp xây dng và bo vệ Tổ quốc, thc hin tốt phương châm “Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa xã hi, thc hành đưng hưng “tốt đời, đẹp đạo” trong hoạt động tôn giáo.
    1. Vai trò ca Pht giáo Namng đi vi vic gigìn bn sc văn hóa Khmer

Ngoài yếu tố tâm linh, Phật giáo Nam tông còn có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa ngưi Khmer, thể hiện qua các khía cạnh sau đây:
      1. Về việc dạy và học:

Ngoài việc giáo dục bổn đạo thc hiện tốt li dy của Đc Phật, thc hiện tốt giá trị đạo đc và giá trnhân văn, từng ngôi

1 Báo cáo 03-BC/BDVTW, ngày 20/12/2006: toàn vùng có 92 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 11 anh hùng lực lưng vũ trang nhân dân, 2.863 liệt sĩ, 1.029 thương binh là chức sắc, sư sãi, Phật tử Khmer, hàng chc ngàn gia đình Phật tử Khmer và 139 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer có công với cách mng được công nhn và khen thưng.
 
chùa còn là nơi tổ chc giảng dy nhng kiến thc bổ ích, bao gm chương trình dy tiếng Khmer, các học phần về triết học, văn học, thơ ca, ngữ văn..., nhất là chương trình Pali và Vini (Phật hc) va để sáng tạo ngôn từ bổ sung cho tiếng Khmer, va để tiếp cn kinh sách, giáo lý, nhng tinh hoa của Phật giáo. Một số chùa còn tổ chc các khóa sư phạm đào tạo đội ngũ giáo viên giảng dy các bmôn nêu trên.

Năm 1994, Nhà nước cho phép thành lập Trưng Bổ túc Văn hóa - Pali Trung cấp Nam B, trong đó chương trình bổ túc văn hóa từ lp 6 đến lp 12 chiếm 75%, chương trình trung cấp Pali chiếm 25% so với tổng số tiết học. Năm 2006, Nhà nưc hỗ trợ thành lập Học viện Phật giáo Nam tông Khmer đặt tại thành phố Cần Thơ, vi chương trình đào tạo đan xen giữa kiến thc Phật học và kiến thc xã hội.

Ngoài ra, một số tnh còn lồng ghép chương trình btúc văn hóa vào chương trình giảng dy chữ Khmer, Pali và Vini tại các đim chùa. Các tăng sinh ở một số nơi có điều kiện, ngoài giờ hc tiếng Khmer, Pali và Vini, còn tranh thủ đi học bổ túc văn hóa, ngoại ng, tin học,…

Vi mô hình giáo dc nêu trên, nhà chùa và các đim trưng trong vùng dân tộc Khmer đã trang bị cho học sinh, tăng sinh Khmer cả về kiến thc phổ thông lẫn kiến thc dân tộc, góp phần rất ln trong việc giữ gìn và phát huy tiếng nói, chữ viết và các giá trị văn hóa ca dân tộc.
      1. Về văn hóa, văn học, nghthuật:

Ngôi chùa là nơi giữ gìn, phát huy nét đẹp truyền thống, phong tc tập quán ca ngưi Khmer. Ngoài việc sinh hoạt tôn
 
giáo, ngôi chùa còn là nơi sinh hoạt văn hóa của đồng bào Khmer. Các ngày ltết của dân tộc đều đưc tổ chc tại chùa. Các nghi lễ truyền thống dù đưc tổ chc trong phum, sróc (làng) hay ở nhà dân đều cung thnh chư tăng đến chtrì hoc chng giám.

Ngôi chùa còn là nơi lưu giữ và phổ biến các tác phẩm kinh điển, văn hóa, văn học, thơ ca của ngưi Khmer. Tại đây, các thế hệ chư tăng, trí thc Khmer có điều kiện sáng tác văn học, thơ ca, biên soạn nhng ấn phm có giá trị nhân văn phục vụ nhu cầu xã hi.

Yếu tố tôn giáo là chất liệu, là nguồn cm hng để các nghệ nhân sáng tạo và phbiến nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, chm trổ, hội họa... to nên nhng nét kiến trúc, mthuật đặc trưng của dân tộc, đưc thể hiện khá rõ nét qua các hạng mục công trình trong khuôn viên chùa, trên vật kiến trúc trong các phum, sóc và thể hiện một phần trong ngôi nhà, vt dng của các gia đình ngưi Khmer.

Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao, các trò chơi dân gian chyếu xuất phát từ nhà chùa. Đối vi từng đội ghe ngo đều do chùa trc tiếp quản lý. Đây là môn thể thao đã trở thành yếu tố văn hóa truyn thống ca đồng bào Khmer.
  1. Kết quả thực hiện chính sách về giáo dục và đào tạo đối với Phật giáo Nam tông Khmer và đng bào Khmer
 
    1. Một số chính sách về giáo dc và đào tạo đối vi Pht giáo Nam tông Khmer và đồng bào Khmer

Do tính đặc thù của đng bào Khmer, ngày 18/4/1991, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI ban hành Chthị s68-CT/TW
 
về công tác ở vùng đng bào Khmer. Qua đó, các bộ, ngành và đa phương triển khai thc hiện đạt đưc một số kết quả nhất đnh.
      1. Đối với Phật giáo Nam tông Khmer:

Phật giáo Nam tông Khmer là một trong các tôn giáo hiện hu ở Việt Nam, thụ hưng đy đủ chính sách tôn giáo hiện hành của Đảng và Nhà nưc. Song song đó, Đảng và Nhà nưc còn có một số chính sách vgiáo dục đối vi Phật giáo Nam tông Khmer như sau:

- Năm 1994, Nhà nước hình thành Trưng Bổ túc Văn hóa - Trung cấp Pali Nam Bộ đặt tại tnh Sóc Trăng. Đến nay, trưng đã đào to đưc hơn 17 khóa vi khong 1.500 tăng sinh, cơ sở vật chất đm bảo dy và học.

- Ngày 11/02/2004, Ban Tôn giáo Chính phủ có Tờ trình số 01/TT-TGCP về một số nội dung cần tp trung giải quyết đối vi Phật giáo Nam tông Khmer, được Thủ tưng Chính phủ chấp thuận, qua đó triển khai thc hiện đạt một số kết quả sau đây:

+ Tạo điều kiện cho một số chư tăng du học tại Campuchia, Thái Lan, Myanmar theo diện hp tác gia các viện, trưng(1).

+ Hình thành Học vin Phật giáo Nam tông Khmer đặt tại thành phố Cần Thơ từ năm 2006.




1 Theo báo cáo ca các tnh, thành phố trong vùng: trong khong 10 năm qua (2001- 2010), toàn vùng Tây Nam Bộ có trên 630 sư sãi Khmer du hc ở nước ngoài, nhiu nhất là tỉnh Trà Vinh với 493 v, chiếm 78,25%. Quc gia mà sư sãi du hc là Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Ấn Đ..., nhiều nhất là Campuchia với 371 ngưi, chiếm 58,88%. Có 137 sư sãi thực hiện đy đthtc du hc, chiếm 21,75%; còn lại 493 sư sãi du hc trái phép, chiếm 78,25% so với tổng ssư sãi du hc. Đến năm 2010, có 15 sư sãi đã hc xong chương trình trvnưc, 115 sư sãi đã hoàn tc ở lại nước ngoài sinh sng, 500 sư sãi còn đang hc.
 
+ Hình thành trưng sơ cấp, trung cấp Phật học tại một stnh có điu kiện(1).

+ Hỗ trợ lớp học trong chùa (cơ sở và sơ cấp)(2).

+ Tạo điều kiện pháp lý để các chùa nhp Đại Tạng kinh từ Campuchia.

+ In ấn trên 50 đầu kinh sách Phật giáo Nam tông Khmer vi trên 300.000 quyển phục vụ tu học (tuy nhiên có 44 đầu kinh sách sai nhiều lỗi chính tả, nên không phát hành, chsa lỗi, in li).

- Ngày 05/02/2008, Thtướng Chính phủ có Quyết đnh số 26/2008/QĐ-TTg về việc ban hành một số cơ chế, chính sách htrợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tnh, thành phố vùng

 
  1. Theo o cáo ca Ban Dân vn Trung ương (Cơ quan Thưng trc ti Thành phố Hồ Chí Minh), ngày 10/9/2013: Trà Vinh, tnăm học 2005 có 56 lp sơ cấp Phật học vi 16.345 tăng, hc sinh theo hc, có 09 lp trung cấp Phật hc vi 192 tăng, học sinh theo hc; đến năm 2012 có 98 lp sơ cấp Phật học vi 2.461 tăng, hc sinh theo hc và 13 lp trung cấp Pht học vi 369 tăng, hc sinh theo hc có 11 vhọc ti Trường Đi hc Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 27 vị học cao đẳng Anh văn, 39 vhọc cao đẳng văn hóa Khmer Nam B, 26 vhọc đại học sư phạm ngữ văn Khmer Nam B, 41 vhọc Đi học Luật, 41 vhọc Đi hc Công nghệ Thông tin, 35 vhc ti Hc viện Phật giáo Nam tông Khmer thành phCn Thơ, 12 vhọc ti Hc viện Phật giáo Việt Nam ti Thành phố Hồ Chí Minh, 84 vị du học nước ngoài, 44 vđang hc điêu khc g. Bc Liêu có 5 điểm ca dy tiếng Pali, Cn Thơ mỗi m tổ chc 3 lp Pali sơ cấp. Sóc Trăng, tnăm 2007 đến nay đã phi hp mở các lớp Pali Roong cho 1.474 tăng sinh và Pali Thommaviny cho 978 tăng sinh.
  2. Báo cáo ca Ban Dân vận Trung ương (Cơ quan Thưng trực tại Thành phố Hồ Chí Minh), ngày 10/9/2013: Kiên Giang, có 44 chùa Khmer tổ chức dy chKhmer
cho trên 6.000 sư sãi và thanh, thiếu niên đồng bào dân tộc theo hc từ lớp 1 đến lớp
5 trong dp hè; Sóc Tng tnăm 2007-2012 đã tổ chức được 1.968 lớp với hơn
43.045 lượt em; T Vinh, năm 2005 có 712 lớp với 16.345 tăng, học sinh, đến năm 2012 tăng lên 912 lớp với 21.120 tăng, hc sinh theo hc lớp ngvăn Khmer. Cà Mau tất cả các chùa đều mcác lớp xóa mù chữ, phổ cập giáo dc tiểu hc, dy chữ Khmer cho con em đồng bào và chư tăng tu hc trong sut 3 tháng hè; trong tháng 5
/2013, Hi Đoàn kết Sư sãi Yêu nước tnh đã phi hợp với Ban Dân tộc tnh mlớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vngn hn cho đi ngũ hơn 50 giáo viên dy tiếng Khmer trong tnh.
 
Đồng bng sông Cửu Long đến năm 2010, trong đó có nội dung: hỗ trợ kinh phí để giáo viên, kể cả các vị sư trc tiếp giảng dy chữ Khmer và đưc các bộ, ngành và đa phương trin khai thc hiện đạt kết quả nht đnh(1).

2.1.2 . Đối với đng bào Khmer


Về chính sách dy và học chữ Khmer trong hệ  thống trưng công lập tại các đim trưng có đông học sinh dân tộc Khmer, đến nay, BGiáo dục và Đào to đã biên son, phổ biến sách giáo khoa tlp 3 đến lp 9. Ngoài ra, hằng năm trong dp hè, ngành giáo dục phối hp vi Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc tổ chc dy chữ Khmer tại hầu hết các điểm chùa. (Chương trình môn tiếng Khmer cho cấp tiểu học và trung học cơ sở gm các trình độ A, B, C, D, E, G, H đã đưc Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chc biên soạn và đưa vào giảng dy cho các trường dy tiếng Khmer trong vùng Đng bằng sông Cu Long trình độ A, B, C, D từ năm học 2006-2007. Ngoài ra còn có sách công cụ như các loại từ điển đối chiếu sổ tay phương ngữ Khmer - Việt, Việt- Khmer; sách ngữ pháp tiếng Khmer. Ngoài các bộ sách giáo khoa trên còn có một bộ sách tham khảo song ngữ Khmer-Việt đưa vào dy học từ năm học 1997-1998. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên son và ban hành “Chương trình đào tạo giáo viên dy tiếng Khmer”, biên son giáo trình dy tiếng Khmer trong trường sư phm. Bộ giáo trình này đang đưc áp dng tại một số trưng Cao đẳng Sư phạm các tnh Đồng bằng sông Cu Long như Cao đẳng Sư phm c Trăng, Cao đng Sư phm Trà Vinh).



1 Bộ Giáo và Đào tạo và các địa phương trong ng đã lập danh sách giáo viên, các vsư trực tiếp ging dạy tiếng Khmer trong dp hè hng năm để có cơ sở htrợ kinh phí. Tuy nhn, vẫn có mt stỉnh chưa thực hiện được chính sách này.
 
Chính sách bồi dưng giáo viên dy chữ Khmer tại trưng cao đẳng sư phm ở mt số tnh có điều kiện (Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang).

Hình thành Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghthuật Khmer Nam Bộ cp cao đẳng tại Trưng Đại học Trà Vinh(1).
    1. Một số khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách giáo dc và đào tạo đối với Phật giáo Nam tông Khmer và đồng o Khmer
 
      1. Vdạy và học chữ Khmer:

Từ lâu đi, đng bào Khmer ttổ chc dy và học chữ của dân tộc mình tại hầu hết các điểm chùa và tại cộng đồng phum sróc. Việc dy và học chữ Khmer là nhu cầu xuyên sut, lâu dài của đồng bào Khmer. Từ sau ngày min Nam hoàn toàn giải phóng, thống nht đất nưc đến nay, việc dy và học chữ Khmer đưc tổ chc ở ba dạng thc:
  • Một là, đng bào tự tổ chc dy chữ Khmer tại hầu hết các đim chùa theo truyn thống.
 
  • Hai là, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chc dy chữ Khmer tại các điểm trưng thuộc hệ thống giáo dc quốc dân (tc là dy trong trưng tiểu hc, trung học cơ sở có đông học sinh ngưi Khmer và dy tại các trưng phổ thông dân tộc nội trú) theo dạng tiết học/ tuần.
 
  • Ba là, Sở Nội vụ kết hp vi Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chc dy chữ Khmer cho đội ngũ cán b, công chc công tác

1 Ngày 08/10/2013, Thtướng Chính phđồng ý chủ trương giao cho Trưng Đại hc Trà Vinh thực hin nhim vtrọng đim quc gia đào tạo ngun nhân lực về Ngôn ngữ - Văn hóa - Ngh thuật Khmer Nam B, đáp ứng nhim v phát trin văn hóa - xã hi ở Nam B.
 
trong vùng đồng bào Khmer theo hình thc khóa học ngn hạn, trung hạn (thông thưng là 9 tháng/ khóa).

Thc tiễn cho thy, vic dy và học chữ Khmer nêu trên cơ bản đáp ng đưc nhu cầu sử dụng trưc mt, đồng thi góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer. Song, nhu cầu sử dụng tiếng Khmer ngày càng nhiu và ngày càng cao, nhưng việc tổ chc ging dy chữ Khmer còn hạn chế về chương trình, tài liệu, giáo viên, chng ch, bằng cấp, quy mô, bậc học, cách thc giảng dy.

Để nâng cao việc dy và học chữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó có chữ Khmer, ngày 15/7/2010, Chính phủ ban hành Nghị đnh số 82/2010/NĐ-CP Quy đnh việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Nghị đnh này đưc mt số bộ, ngành có liên quan ban hành thông tư liên tch hưng dẫn thc hiện. Tuy nhiên, hiện nay đã ba năm các đa phương triển khai thực hiện còn chm. Do đó, các bộ, ngành liên quan cần thành lập đoàn khảo sát, kim tra việc dy và học chữ Khmer theo tinh thần Nghị đnh s82/2010/NĐ-CP của Chính phủ để có cơ sđề xuất giải pháp thc hiện.
      1. Về giáo dục - đào tạo trong Phật giáo Nam tông Khmer:

Giáo dc và đào tạo về kiến thc văn hóa - xã hội và kiến thc Phật học là một trong nhng nhim vụ cốt lõi, thưng xuyên và lâu dài trong hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer. Công c giáo dục và đào to nêu trên đưc tổ chc vận hành từ u đi dưi ba loại hình đào tạo: Một là, giảng dy chữ Khmer, chữ Pali để làm nền tảng cơ bn trưc khi bưc vào học tập kiến thc về
 
văn hóa, xã hội, Phật học. Hai là, giảng dy chương trình thế học, bao gm các môn học về khoa học xã hội, văn hóa, văn học, thơ ca, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc, toán học... Ba là, ging dy chương trình Phật học để tiếp cận giáo lý, triết lý, tinh hoa văn hóa của Phật giáo.

Các loại hình giáo dc đào tạo nêu trên đã và đang góp phần rất ln trong việc đào tạo đội ngũ trí ni Khmer, nhất là góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị tốt đẹp của Pht giáo Nam tông Khmer.

Song, hiện nay việc tổ chc giảng dy trong Phật giáo Nam tông Khmer còn nhiều hạn chế, khó khăn, bất cập. Đó là: (1) Mô hình giáo dục đào tạo trong Phật giáo Nam tông Khmer chưa đưc đưa vào chương trình giáo dục đào to của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nên chưa có một đơn vị có tư cách pháp nhân nào công nhận, dẫn đến văn bng thiếu tính pháp lý; (2) Chương trình chm đưc cải tiến, chưa thống nhất gia các đa phương;
  1. Nhu cầu về học tập ngày càng cao, nhưng bậc học còn thấp, chưa tương ng vi nhu cầu.

Hạn chế này dn đến hệ quả là: (1) hầu hết tăng sinh lúng túng không biết tìm nơi nào đhọc ở bậc cao hơn; (2) một bộ phận tăng sinh tự đi học các nước láng ging như Campuchia, Thái Lan, Myanmar và một số nưc khác dẫn đến ý kiến đánh giá, cách nhìn nhận vn đề khác nhau.

Do đó, đề nghị cần có cuộc họp để thống nhất quan đim, giải pháp. Trong đó tập trung các vn đề sau đây:
    • Hội đồng Trsự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần có cơ chế xây dng, biên son chương trình giảng dy và chương trình
 
đào tạo giáo viên dy tiếng Khmer, Pali và Phật học các cp, kèm theo đó là quy chế giảng dy, học tp, thi c, cấp giy chng nhận, văn bằng tốt nghiệp, áp dụng thống nhất trong khu vc Nam Bộ;
    • Các viện, trưng thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam liên kết vi các vin, trưng Phật giáo Nam tông thuộc các nưc Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Sri Lanka để có chương trình hp tác đào tạo. Qua đó, hàng m có kế hoch đào to tăng sinh Phật giáo Nam tông Khmer tại mt số nưc nêu trên theo nhu cầu thc tiễn mà trong nưc chưa có hoặc không có điều kiện đào tạo, kèm theo cơ chế chính sách htrợ đặc thù trong thi gian tăng sinh du học.
 
    • y ban Nhân dân thành phố Cn Thơ khn trương triển khai việc hỗ trợ Học viện Phật giáo Nam tông Khmer xây dựng cơ sở vật chất của Học viện.
 
    • Nghiên cu hình thành đơn vị có tư cách pháp nhân (giao đơn vị sự nghip Nhà nước hoặc tạo điu kin pháp lý cho các đơn vị tư nhân) để nhp kinh sách Phật giáo từ Campuchia dưi dạng kinh doanh, nhưng được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định hiện hành.
 
  1. Đề xuất giải pháp

Trên cơ sở tổng hp đánh giá tình hình thc hiện chính sách giáo dc và đào tạo có liên quan đến Phật giáo Nam tông Khmer và đồng bào Khmer ở các tnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ, chúng tôi đề xuất các giải pháp để Hội thảo xem xét, nghiên cu, tham mưu xây dng chính sách phù hp trong xu thế hội nhập và phát triển như sau:
 
    1. Vtchức, qun lý:
 
  • Tăng cưng công tác chính trị tư tưng, nâng cao nhn thc cho cán bộ đảng viên và đồng bào, sư sãi, học sinh, sinh viên và trí thc làm cho mọi ngưi quán triệt sâu sắc chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nưc ta.
 
  • Tăng cường công tác lãnh đạo và kim tra của các cấp uỷ Đảng và chính quyn đối vi các cơ sở giáo dục có liên quan đến đồng bào tộc Khmer. Kiện toàn hệ thống tổ chc và nâng cao chất lưng hoạt động của tổ chc Đảng và đoàn thể. Đề nghị Trung ương có chỉ đo thống nhất vic sinh hoạt của tổ chc Đảng, đoàn thể tại các trưng(1) .
 
  • Củng cố và nâng cao chất lưng quản lý, dy và học của trưng Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ và tạo điu kin thuận li để trường hot động tốt hơn.
 
  • Đối vi Học viện Phật giáo Nam tông là trưng tôn giáo nhưng có đặc thù gn liền vi ngưi Khmer, khác hơn mt số trưng tôn giáo khác. Do đó, đề nghị Ban Tôn giáo Chính phủ, y ban Dân tộc, Giáo hội Phật giáo Việt Nam nm lại thc trạng hoạt động của Học vin có kế hoạch chỉ đo thích hp, đồng thi cần nghiên cu có chính sách htrợ đầu tư để Học viện sm xây dng cơ sở vật chất phục vụ tốt cho công tác giảng dy và học tập.
 
    1. Về chương trình, sách giáo khoa và đội ngũ giáo viên dạy tiếng Khmer


1 Theo đxuất ca mt stnh kiến nghị công tác Đng, đoàn thđối với trưng Bổ túc văn hoá Pali và hệ thng trường phthông dân tộc ni trú ca tnh nên sinh hoạt trực thuc Đảng y dân chính Đng, đối với trường phổ thông dân tộc ni trú huyn, thxã nên sinh hoạt trực thuc Văn phòng huyện y, th xã y.
 
  • Quan tâm hơn đến đối tưng tuyn sinh và chỉ tiêu đào tạo tại các trường phổ thông dân tộc nội trú cử tuyển vào các trưng cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dự bị đại học và đại học hàng năm theo tinh thần Chỉ thị 14/2004/CTTTg của Thủ tưng Chính phủ. Chú trọng công tác đào tạo về slưng và chất lưng giáo viên dy ngôn ngữ dân tộc (vì hin nay, việc đào tạo giáo viên dy tiếng dân tộc là cần thiết và là nhu cầu bc xúc của đồng bào dân tộc).
 
  • Ngành giáo dục và các ngành chc năng sm có hưng dẫn cơ chế quản lý, giáo trình dy và học, chính sách htrợ đối vi việc dy và học ngữ văn Khmer, tiếng Pali và Vini ở các chùa trong vùng. Đây là một mảng ln hin nay các đa phương chưa quản lý chặt chẽ.
 
    1. Về đu tư cơ sở vt chất

Chính phủ cần có sự chỉ đạo tăng mc kinh phí đầu tư cho các cơ sở giáo dục trong đồng bào Khmer. Việc đầu tư của Nhà nưc ngoài việc tính theo đầu học sinh, cn nhân thêm hsố khó khăn của vùng và tính chất dân tộc, để đm bảo tính công bằng trong cả nưc. Nhà nưc cần có chính sách xã hội hóa, khuyến khích các thành phần kinh tế đu tư cơ sở vật chất cho phát triển giáo dục ở nhng vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sng.
    1. Về cơ chế, chính sách
 
  • Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh sm hoàn thành Đề án tổng thPhật giáo Nam tông Khmer và đồng bào Khmer.
 
  • Bổ sung chính sách ưu tiên phát triển giáo dục đào tạo cho đồng bào Khmer. Mở rộng trưng phổ thông dân tộc nội trú

tnh, huyện và htrợ trưng dân tộc bán trú dân nuôi ở các xã đặc biệt khó khăn. Thc hiện việc miễn học phí cho học sinh, sinh viên người Khmer ở các cấp, các nnh học. Có chế độ khuyến khích học bổng đối vi sinh viên dân tộc thi trúng tuyn chính thc vào các trưng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Cho phép hình thành quỹ hỗ trợ chỗ ở cho sinh viên dân tộc học tại các trưng đại học, cao đẳng, dy nghề. Tăng hc bổng cho học sinh, sinh viên người dân tộc hệ cử tuyển bằng vi mc lương tối thiểu ca Nhà nưc quy đnh.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây