39. LỄ SEN DOLTA CỦA CỘNG ĐỒNG KHMER Ở NAM BỘ

Thứ bảy - 08/09/2018 19:59
LỄ SEN DOLTA CỦA CỘNG ĐỒNG KHMER Ở NAM BỘ của ThS. Trịnh Thuý Quỳnh* ThS. Nguyễn Thanh Luân**
 
  1. Nguồn gốc Lễ Sen Dolta

Nguồn gốc ra đi của lễ Sen Dolta liên quan đến nghề nông nghiệp lúa nưc. Vào thi đim cuối tháng 8 âm lịch, mùa cy đã sắp xong và mùa nưc lũ lại v. Sau mùa mưa rảnh rỗi, con cháu thưng hay chống xuồng chèo ghe tìm đến để thăm hỏi ông bà cha mẹ già yếu, cng thêm gia mùa thiếu hụt và mùa mưa lũ lụt, có ngưi phải chng xuồng chèo ghe đi xa mới ti đưc nơi ở của ông bà cha mẹ, nên phải mang theo cơm khô, gạo, trái cây, thc phm... để va dâng biếu cho ông bà cha mẹ va để cho mình ăn dọc đưng đi. Có người thì tìm gp được ông bà cha mẹ, ngưi thì không gặp vì qua mùa nưc lũ lụt, tuổi già sc yếu, đã qua đi mà con cháu lo làm ăn, nên không hay biết... Dần dần nhng ngưi cùng đi hẹn gặp nhau ở một chỗ nào đó để làm lễ nhớ ơn, hoặc cùng chia buồn vi bạn bè là ngưi tìm không gặp ông bà cha mẹ... Sau khi có chùa chiền Phật giáo, họ hẹn nhau tụ hội về chùa.

Sen Dolta còn có một truyn thuyết khác bắt nguồn từ kinh điển Phật giáo. Truyn thuyết kể rằng, mt hôm, vào lúc đêm khuya, tại hoàng cung của Vua Ping-pis-sara, bỗng vang dội tiếng gào thét, khóc lóc thm thiết, kèm theo là tiếng van xin: Hãy cho chúng tôi ăn, cho chúng tôi uống, vì chúng tôi đang đói lắm! Nhà vua bèn truyền lệnh triệu tp các nhà tiên tri đến hỏi.


*,** NCS. Hc vin Khoa hc xã hi, Vin Hàn lâm Khoa hc xã hi Việt Nam.
 
Họ cho rằng: “Đây là các ma quỷ chết oan, chết c, không cha mẹ, không nca anh em, nay họ đến xin ăn uống. Nếu Hoàng thưng không lo cúng tế, e sợ có chuyn bt 100 ngưi nam, 100 ngưi nữ và 100 con vật để làm lễ cúng tế”. Nghe tin đó, Hoàng hậu khuyên nhà vua tìm đến chùa thnh ý Phật Thích Ca. Đức Phật bảo nhà vua nên cúng dưng, dâng cơm, cúng vt, đồ ăn cho các tu sĩ, nhờ ân đc và lời kinh của các vị này chuyn phưc đến bn quđó, thì bọn quỷ đó mi hưng đưc.

Nhà vua vâng li Đc Phật, bọn quỷ đưc ăn uống no nê, nên đêm thứ nhất không nghe tiếng rên khóc. Qua đêm thứ hai nhà vua lại nghe tiếng rên khóc. Nhà vua bạch vi Đc Phật. Đc Phật dy: “Ma quỷ rên la tiếp là vì chăn uống đy đủ mà chưa có đồ mặc nên lại rên la vì bị rét lạnh”. Nhà vua nghe xong, về cho ngưi chuẩn bị y áo cùng vật thc làm lễ dâng cúng đến chư tăng và nhờ chư tăng hồi hưng tiếp. Nhà vua không còn nghe tiếng rên than của ma quỷ na.
Về sau, mi năm cứ đến mùa, nhà vua lại cho thnh mi chư tăng đến để làm lễ hồi hưng cho ma quỷ và ngưi đã quá cố. Từ sự tích trong kinh điển Phật giáo, nên ngưi Khmer tổ chc Lễ Sen Dolta hằng năm thành phong tc, gắn vi nghi thc tôn giáo nhm nhờ sư sãi tụng kinh cầu phưc cho ông bà, cha mquá cố được mau chóng đầu thai kiếp khác sung sưng hơn(1).

Lễ Sen Dolta ca ngưi Khmer ở Nam Bộ đưc tổ chc trong khoảng từ 16/8 đến mùng 2/9 âm lch hàng năm, gm ba giai đoạn: Canh bân, Sen Dolta (cúng đón tiếp) và Chun Dolta


Sơn Phước Hoan chủ biên (2002), Các lễ hi truyền thống ca đng bào Khmer Nam Bộ, Nxb. Giáo dc, Hà Ni, tr. 31-33.
 
(cúng tiễn đưa). Trong đó lễ cúng ông bà (Sen Dolta và Chun Dolta) có thể xem là lễ quan trọng nhất. Bi đây là lễ đưc tổ chc ở hầu hết các gia đình ngưi Khmer. Đây cũng là ngày cúng tất cả ông bà, tổ tiên, nhng ngưi đã mất duy nhất trong năm của ngưi Khmer ở Nam Bộ. Tương tự Lễ Chol Chnam Thmay, chúng tôi mô tả và lý giải nhng đặc đim của lễ hội này theo trình tự thời gian.
 
  1. Lễ đặt cơm vắt (canh bân)

Phm Thị Phương Hạnh khi nghiên cu về Lễ Sen Dolta đã không xem Lễ đặt cơm vắt là một phần trong Lễ Sen Dolta(1). Trong khi đó, đa số nhà nghiên cu về văn hóa Khmer như Sơn Phưc Hoan, Trần Văn Bổn, Đặng Vũ Thị Thảo,.. đu cho Lễ đặt cơm vắt là một nghi lễ đưc tổ chc trong Lễ Sen Dolta. Lễ này đưc tổ chc trong 15 ngày, thưng từ ngày 16 đến ngày 29/8 âm lch, còn gọi là Boh bai bân, nghĩa là cúng cơm phưc, đưc tổ chc theo phiên, gọi là wên.

Để tổ chc lễ này, các vị Acha trong Ban Quản trị chùa cử ngưi đi tng wên (tổ) để quyên góp gạo, thc ăn, tiền bạc, đem về chùa tổ chc nấu nưng. Có chùa phân chia shộ Khmer trong sóc gần chùa thành nhiều wên, mỗi wên gm nhiều hộ gia đình (tùy theo số hộ trong phum sóc gn chùa Khmer nhiều hay ít) luân phiên nhau mang gạo nếp, rau tht, nh trái tổ chc nấu nưng tại chùa, hoặc nấu nưng tại một gia đình và mang đến chùa dâng lên các vsư sãi. Mỗi wên dâng cơm một ngày gm buổi đim tâm sáng, buổi cơm trưa và buổi chiều nưc ngọt, trà, sa. Sư sãi ngưi Khmer tu theo Phật giáo Nam tông không

1 Phm ThPhương Hnh chbiên (2011), Văn a Khmer Nam Bnét đẹp trong bản sc văn hóa Việt Nam, Nxb. Chính trQuc gia, Hà Ni.
 
dùng cơm hoặc thc phm đặc từ 12 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau. Nên trong 15 ngày, ngưi Khmer cố gắng nu thật nhiều món ăn ngon và thay đổi món ăn liên tục để sư sãi dùng ngon miệng trong các buổi sáng hng ngày.

Sự phân chia số hộ gia đình ngưi Khmer thành các wên để dâng cơm lên sư sãi không phải là để mỗi wên tự làm cơm độc lập, mà chỉ là sự phân chia nhim vụ, phân chia công việc. Trong thc tế, các wên có sự phối hp vi nhau để dâng lên các món ăn trong các ngày không trùng nhau. Hôm nay wên thứ nhất làm các món ăn từ cá thì ngày thứ hai, wên thứ hai dâng các món ăn ttht heo, ngày thứ ba dâng các món ăn từ tht , v.v...

Trong giai đoạn Canh bân, ngoài mâm cơm thưng, ngưi Khmer còn làm một mâm cơm đặc biệt, có vắt cơm thành từng nm tròn, gọi là Bai banh. Phần cơm này đt ở một bàn riêng dành cho vong hồn nhng ngưi quá cố. Do việc nấu cơm vt phải đưc thc hiện liên tục, không đưc cách ngày nên gọi giai đoạn này là Canh bân. Việc đặt cơm vắt phải đưc bt đầu từ 5 giờ sáng mỗi ngày ở chùa, các vị sư đánh trng, tập trung ngưi Khmer vào chánh đin, cơm vắt để chung một mâm. Các vị sư tụng kinh cầu phưc cho linh hồn ngưi đã chết. Sau khi sư sãi đọc kinh xong, họ đem cơm vắt ra ngoài đt xung quanh chánh điện cúng nhng vong hồn vô ch.

 
  1. Lễ cúng ông bà (Sen Dolta, Chun Dolta)

Vào ngày cuối cùng ca giai đoạn Canh bân, kết thúc lễ đặt cơm vắt, mỗi gia đình ngưi Khmer thưng tổ chc cúng cơm cho ông bà, cha mẹ, nhng người đã khuất ở tng gia đình. Để chuẩn bị lnày, đồng bào thưng quét dọn nhà ca sạch sẽ, trang trí bàn thờ Phật ngăn nắp, trang trng, đồng thi trên bàn thờ đều
 
có các loại bánh, trái y và các loi hoa tươi đưc trang trí đẹp mt.

Có gia đình vào ngày cúng làm một mâm cơm và mời sư sãi đến nhà tụng kinh cầu siêu cho ngưi qcố. Có gia đình chỉ cúng cơm không mời sư sãi. Theo quan niệm của ngưi Khmer, nếu trong lễ cúng ông bà có mi các vị sư đến nhà tng kinh, thì lễ vật chắc chắn đưc hồi hưng đến linh hồn của ông bà, tổ tiên; nếu không mi các vị sư về nhà tụng kinh, thì lễ vật không chắc chắn đưc đưa đến linh hồn ông bà, tổ tiên, thm chí ông bà, ttiên có thể chỉ ngi đưc mùi thc ăn.

Ngưi Khmer đặt mâm m cúng ở gia gian nhà, trên bộ ván nga, hoặc trên bàn (chỗ nghiêm trang nhất trong nhà). Mâm cơm cúng ti nhà thường gm nhiều món ngon, bánh trái (nhất là bánh tét gần như nhà nào cũng có), 2 ly trà, 2 ly rưu, ly nưc lạnh, 4 chén cơm, 4 đôi đũa, 4 cây muỗng nhằm cúng cho 4 tộc của bản thân ngưi ng. Tộc thứ nhất gm nhng ngưi ngang hàng vi ngưi cúng. Tộc thứ hai gm cha mẹ, chú bác, cô, dì. Tộc thứ ba gm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Tộc thứ tư gm ông cốc, bà cốc. Có ngưi giải thích 4 chén cơm, 4 đôi đũa, 4 cây mung là nhm cúng ông bà tổ tiên nhà nội và ông bà t
tiên nhà ngoại(1). Điều này khác vi ngưi Khmer ở Kiên Giang
dùng 7 chén cơm, 7 đôi đũa(2). Tất cả lễ vật đưc bày biện, sắp xếp một cách trang trọng. Khi thắp nhang cầu nguyện, ngưi

 
  1. Tác giả phng vn lễ hi ở huyện MXuyên.
  2. Theo Đoàn Thanh Nô, 7 chén cơm, 7 đôi đũa trong mâm nhằm cúng phc vụ cho 7 tc ca bn thân người cúng. Tc thnhất gm nhng người ngang hàng với người
cúng. Tc thhai gm cha mẹ, chú bác, cô, dì. Tc thba gm ông ni, bà ni, ông
ngoại, bà ngoại. Tc thứ tư gồm ông cốc, bà cốc… Tc thnăm gm con và nhng người ngang hàng với con. Tc thsáu gm cháu và nhng ngưi ngang hàng với cháu. Tc thby là cht và nhng người ngang hàng vi chắt [Đoàn Thanh Nô, 2002: 41].
 
Khmer thưng cm nhang vào tng chén cơm, hoặc thc ăn trong mâm cúng. Hcho rằng cm nhang trc tiếp vào lễ vật là khẳng đnh lễ vật đưc gi đến với linh hồn ông bà tổ tiên.

Ngưi thc hiện nghi lễ cúng có thể là cha mẹ, anh cả hoc chị cả. Sau khi ngưi chủ lthắp nhang cầu cúng, nhng ngưi trong gia đình lần lưt thắp nhang khấn nguyện. Ngưi Khmer khấn ba lần, mi lần đu có rót trà và rưu để khẳng đnh. Sau ba lần khấn, sp tàn nhang, ngưi chủ lmang chân nhang ra ngoài sân cắm, va mang trà và rưu đem rót xuống, va khấn mi ông bà, cha mẹ, nhng ngưi khuất mặt đến nhận lễ vật và kết thúc nghi lễ. Đồng bào quan nim phải làm như vy thì ngưi chết mi nhận đưc lễ vật. “Hương khói bay lên tri, nưc vi la thm xung đất là sự hòa quyện gia la với nưc (âm -
dương) và tri - đất - nưc (tam tài) mang tính triết lí sâu sắc”(1).
Khi cúng, người Khmer mi hết ông bà, cha mẹ, hoặc ngưi quá cố, ngưi khuất mặt không quen biết cũng đưc mi đến dự chung mâm cơm. Theo cách nghĩ ca ngưi Khmer, nếu không mi thì sợ rằng, nhng vong hồn đơn độc, không có ngưi thân cúng kiến sẽ không dám đến dự chung. Vì vy, tên gọi của lễ là lễ cúng ông bà, là ông bà chung, không phân biệt ông bà của ai.

Trong Lễ Sen Dolta, ngưi Khmer cúng ông bà, cha mẹ, ngưi đã khut vào hai ngày: ngày cuối cùng kết thúc giai đoạn Canh bân (thường vào ngày 29/8 âm lch) để mi ông bà về nhà đoàn tụ cùng con cháu, gọi là Sen Dolta, còn gọi là ngày cúng đón tiếp và ngày kết thúc lễ, tin đưa linh hồn ông bà, còn gọi là Chun Dolta (thưng o ngày mùng 2/9 âm lch). Sự bài trí mâm cơm cúng ở hai ngày giống nhau, nhưng cách thc kết thúc nghi

1 Trần Ngc Thêm (1999), Cơ sở văn a Việt Nam, Nxb. Giáo dc, Hà Nội, tr. 138.
 
thc cúng cơm ở hai ngày khác nhau. Trong ngày cúng đón tiếp, sau khi khấn đủ ba lần, họ ly chén, gắp thc ăn mỗi thứ một ít, đổ trà và rưu vào, ri đem ra sân đổ cạnh hàng rào, cm một cây nhang nhm để cúng các ma quỷ đã đưa ông bà họ về nhà, ở lại vui chơi trong ba ngày lễ. Trong ngày cúng tiễn ông bà, sau khi khấn đủ ba lần xong, họ cũng bi cơm, gắp đồ ăn để vào chén và đổ vào thuyn hoặc tàu bum mà họ làm bng bẹ chui, mo cau để ông bà đem theo ăn dọc đưng cho đến khi về nơi cũ. Trên thuyn, họ treo cờ phưn hình tam giác, khắc hình cá sấu, tắc kè ở đầu và đuôi cũng làm tbẹ chuối để tránh tai nạn dọc đưng. Họ còn để thêm các gói đu, lúa, muối, mè, bánh trái để ông bà và ma quỷ ăn đưc lâu. Khấn xong, họ đem thuyn này thả trên sông hoặc mương rạch gần nhà. Ở nhng nơi không có sông nưc thì họ đem để ở góc đưng nào đó, gọi là tiễn đưa ông bà.
 
  1. Lễ dâng cơm (Vên choong han)

Lễ dâng cơm thưng đưc tổ chc vào ngày 1/9 âm lch tại chùa, gia hai giai đon Sen Dolta và Chun Dolta. Đây là ngày ngưi Khmer lên chùa nhiều nhất trong Lễ Sen Dolta. Nghi thc và lễ vật của lễ này cũng tương tự như lễ dâng cơm trong LChol Chnam Thmay.

Trong ngày này, sau khi làm lễ dâng cơm cho các vị sư sãi xong, ngưi Khmer mang theo thc ăn, ăn uống cùng nhau ở nhà hội, trong khuôn viên chùa, dưi nhng gốc câyCả gia đình hoặc nhiều gia đình ngồi quây quần ăn uống và khấn vái tổ tiên về ăn chung như trong nhà của họ. Đây là dp để mọi ngưi xóa bỏ mọi him khích đã qua, đối xử vi nhau bằng tình cm tt đẹp hơn. Vi ngưi Khmer, ngôi chùa gần như là ngôi nhà chung, tất
 
cả các cuộc vui chơi ăn uống, giao lưu, các sinh hoạt văn nghệ, thể thao trong dp lễ hi đều diễn ra ở đây.

Trong suốt thi gian diễn ra Lễ Sen Dolta, ngưi Khmer thưng tập trung lên chùa nghe các vị sư sãi đọc kinh. Đối vi ngưi Khmer, ngưi sống nghe kinh sẽ đưc phúc báo, linh hồn nghe kinh sẽ đưc chóng vãng sinh. Sau khi nghe kinh, hlại thắp nhang mi tổ tiên đi xem múa hát, cùng các tiết mục văn nghệ diễn ra trong sân chùa. Ngoài ra, vào buổi tối (sau nghi lễ cúng ông bà ở nhà), ngưi Khmer thắp nhang mi ông bà, tổ tiên, ngưi đã khuất lên chùa. Ngưi Khmer ln tuổi tập trung ở chánh điện nghe sư sãi tụng kinh thuyết pháp, còn thanh niên nam nữ tham gia các hoạt động văn nghệ. Trong khuôn viên các chùa, nhng điệu múa Ram Vông, m lêv và Sarvan,… cùng vi tiếng nhạc ngũ âm, tiếng đàn, tiếng hát vang lên nhộn nhp.

Nếu như ngưi Vit cúng giỗ ông bà nhân ngày ông bà mt hằng năm, thì ngưi Khmer chỉ cúng ông bà, tổ tiên duy nht vào Lễ Sen Dolta. Đây là dp ngưi Khmer thể hin tình cm, sự hiếu thảo của nhng ngưi còn sống đi vi ông bà, tổ tiên đã khuất; cũng là dp để ngưi Khmer gặp g, thăm viếng, quan tâm lẫn nhau.

 
  1. Kết lun

Ngưi Khmer cùng vi các tộc ngưi khác có công trong việc khai khẩn đt hoang, rng rm, đào kênh thóat nưc, vưt qua nhng thử thách khắc nghiệt, để chinh phục thiên nhiên, ổn đnh xã hi, phát triển kinh tế và góp phn hình thành nên nhng nét văn hóa đặc thù ở Nam Bộ. Văn hóa Khmer có nhiu đim tương đng văn hóa vi các tộc ngưi Kinh, Hoa và Chăm trong

vùng. Văn hóa ngưi Khmer ở Nam Bộ là một bộ phận cấu thành n hóa Việt Nam.

Lễ cúng ông bà là mt sinh hoạt văn hóa cộng đồng không thể thiếu trong đi sng của đồng bào Khmer ở Nam Bộ. Các lễ cúng của ngưi Khmer ở Nam Bộ có sự chi phối bi Phật giáo Nam tông. Lễ cúng mang tính truyền thống là nguồn cảm hng, là động lc giúp người Khmer sinh sng và làm việc hiệu quả hơn; cũng là nim mơ ưc và khao khát một cuộc sống hạnh phúc, mt tương lai tốt đẹp của đng bào.

Ngày nay, lễ cúng truyn thng ca ngưi Khmer ở Nam Bộ vẫn giữ đưc nét đm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là một tài sản văn hóa quý giá của ngưi Khmer. Hằng năm, chính quyền kết hp vi nhà chùa và ngưi dân tổ chc nhiều lễ hội truyền thống nhm đáp ng nhu cầu hưng thụ văn hóa của ngưi dân trong vùng; bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thng của ngưi Khmer ở Nam Bộ.

Việc giữ gìn nhng yếu tố văn hóa truyn thống đưc ngưi Khmer duy trì. Đồng bào thật sự xem đó là ngày vui, ngày hội của dân tộc và tham gia vào lễ hội vi tinh thần tự nguyện. Ngưi Khmer ngày nay tiếp tục lưu ginhng giá trị truyền thống văn hóa lễ hội, đồng thi tiếp thu nhng giá trvăn hóa mi, góp phần tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây