33. ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở TỈNH KIÊN GIANG

Thứ bảy - 08/09/2018 19:29
ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở TỈNH KIÊN GIANG của Danh Lắm*
 
 

 

  1. Khái quát về tỉnh Kiên Giang
    1. Về tự nhiên và xã hội

Kiên Giang là tnh nm ở phía Tây Nam ca Tổ quc, có đất liền, biển, rng, đồi núi, biên gii, hải đảo. Nơi đây tập trung nhiều nguồn tài nguyên làm tiền đề tốt cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương. Kiên Giang có ranh gii nội địa giáp vi các tỉnh An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang và Thành phố Cn Thơ; có đưng biên gii bgiáp vi Campuchia dài 56 km và 198 km chiều dài bờ biển. Trên biển có 105 hòn
đảo ln nhỏ nổi lên vi diện tích 608 km2, có 43 hòn đảo có dân
cư sinh sống. Biển Kiên Giang có chung vùng nước lịch sử vi Campuchia vi din tích 8.800 km2 nối liền vi vùng biển Cà Mau, thông ra vịnh Thái Lan, Malaysia.
Dân số toàn tỉnh có 1.688.248 ngưi, trong đó có 03 dân tộc chính: ngưi Kinh chiếm 85,68%, ni Khmer chiếm 12,49%, ngưi Hoa chiếm 1,77% và các dân tộc khác chiếm 0,06%(1). Các dân tộc sống xen kvi nhau, có truyn thng đoàn kết, gn bó, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
Tỉnh Kiên Giang có 10 tôn giáo đưc Nhà nước công nhận về mặt tổ chc, đó là Phật giáo (có 3 hệ phái: Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ), Công giáo, Tin Lành (có 6 hệ phái, gm Tinh Lành Việt Nam – Min Nam, Tin Lành Liên hu Cơ đốc, Báptít



* Ban Tôn giáo tnh Kiên Giang
1 Cc Thng kê Kiên Giang, Tổng điều tra n số và nhà ở tỉnh Kiên Giang m 2009, Rạch Giá, tháng 9/2010.
 
Ân điển – Nam phương, Báptít Việt Nam – Nam phương, Phúc âm Ngũ tuần, Mennonite), Cao Đài (có 6 hphái, gm Tây Ninh, Bạch Y, Minh Chơn đạo, Ban Chnh đạo, Minh Chơn lý, Tiên Thiên và Chiếu minh Tam thanh Vô vi), Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo (Islam giáo), Tnh độ Cư sPhật hi Vit Nam, Baha’i, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật đưng Nam tông, Minh Sư đạo. Bên cạnh đó, Kiên Giang còn có tôn giáo chưa đưc Nhà nưc công nhận như Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Tứ ân Hiếu nghĩa và một số hệ phái Tin Lành như Trưng Lão, Phưc hnh Tam diện. Tng số tín đồ tôn giáo toàn tnh là 492.131 ngưi, chiếm 29,24 % dân số trong tnh, có 2.181 vị chc sắc, nhà tu hành, 3.787 vị chc việc, có 1 giáo hội Trung ương của tôn giáo, 344 tchc tôn
giáo cơ s, 379 cơ sở thờ t(1).

Nhìn chung, các tôn giáo trên đa bàn luôn tin tưng vào chủ trương đường lối đổi mi của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nưc. Trong nhng năm qua, đưc sự quan tâm của các cấp y, chính quyn, các hoạt động thuần túy tôn giáo đưc thuận li hơn, đúng theo quy đnh của pháp luật.
    1. Vngười Khmer

Kiên Giang là tnh có đông đồng bào Khmer, đứng thứ ba trong khu vc Tây Nam B(sau Sóc Trăng và Trà Vinh), sống xen kẽ vi người Việt, Hoa, tập trung đông nhất ở các huyện Gò Quao, Châu Thành, Giồng Riềng, Hòn Đất. Phần ln đồng bào Khmer ở đây đều có tôn giáo truyn thng là Phật giáo Nam tông (Theravada). Họ xem Đc Phật là Đấng cu độ và chỗ da vng chắc về tinh thần. Quan nim đó đã trở thành tập quán truyn thống ca ngưi Khmer ở Tây Nam Bnói chung và Kiên Giang

1 Ban Tôn giáo tnh Kiên Giang, Kết quả khảo sát số liệu các tôn giáo đa bàn tnh Kiên Giang 2010, Báo cáo số 16/BC – BTG, Rạch Giá, ngày 26/5/2011.
 
nói riêng. Khi con em mình ln lên đến độ tuổi nhất đnh sẽ vào chùa tu học để đưc hưng ân đức ở kiếp sau, đồng thi cũng nhm báo hiếu cha mẹ, ông bà tổ tiên. Họ xem ngôi chùa như là trung tâm văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng của phum sóc. Ngưi Khmer luôn gắn mình vi Phật, Pháp, Tăng, sau khi chết, họ gi tro cốt vào chùa.

Hiện nay, một số ít đồng bào Khmer ở dọc biên gii Hà Tiên - Campuchia vẫn còn xem Campuchia là nguồn gốc và là Tổ quốc của mình, có mi quan hệ thân tộc, tôn giáo, gắn bó mật thiết vi ngưi Khmer ở Campuchia. Vì vy, vấn đề qua lại biên gii thăm người thân, làm ăn, buôn bán, cưi gả, thm chí sinh hoạt tôn giáo của sư sãi và đồng bào Phật t... diễn ra thưng xuyên. Họ xem đây là vấn đề tự nhiên, không liên quan đến quốc gia, pháp luật. Cthể là từ năm 1975 đến nay, trên đa bàn tnh đã có gn 2.000 người (có 80 sư sãi, 13 cán bộ) qua lại biên gii Campuchia trái phép, chỉ trong năm 2003 có 164 ngưi qua lại Campuchia (có 23 sư sãi), trong đó có việc nhập kinh sách trái phép, năm 2004 có 08 ngưi sang Campuchia (có 05 sư sãi). Tính đến nay số ngưi còn ở lại Campuchia là 1.035 ngưi (trong đó có 56 sư sãi, 10 cán bộ), đi nưc thứ ba là 305 ngưi (trong đó có 03 sư sãi, 03 cán b) và 642 ni (trong đó có 21
sư sãi) trở về Việt Nam(1).

Ngưi Khmer ở Kiên Giang chyếu sản xut nông nghip. Tuy đưc Nhà nưc quan tâm phát triển kinh tế, đầu tư nhiều công trình, nhiu mô hình sản xuất nông nghiệp, đưa tiến bộ khoa hc kthuật áp dụng vào sản xut, nhưng phần ln còn



1 Ban Tôn giáo tnh Kiên Giang, Kết quả khảo sát số liệu các tôn giáo đa n tnh Kiên Giang 2010, tlđd.
 
nghèo, sản xuất thiếu kế hoạch, lãng phí trong chi tiêu; trình độ dân trí tuy đã đưc quan tâm hơn, trình đhọc vấn có cao hơn trưc nhưng so vi mặt bằng chung vẫn còn thấp; nhận thc chính tr, pháp luật còn hạn chế mặc dù đã được các cấp y Đảng, chính quyn, Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội quan tâm tuyên truyn, giải thích. Có thể vì vy mà họ có một đặc đim cần quan tâm đó là nhẹ dạ, dễ tin. Đây là vấn đề dễ bị các thế lc phản động và phn tử xu lôi kéo, lợi dụng tuyên truyền chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nưc, gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tc.

Bên cạnh đó, trong nhng năm gần đây, đi sống tôn giáo của đồng bào Khmer ở tnh Kiên Giang có biến đổi đáng quan tâm. Đó là mt bộ phn nhỏ tin theo tôn giáo khác như Tin Lành (754 ngưi), Công giáo (556 ngưi)(1). Tuy số lưng còn ít, nhưng so vi truyền thống đặc trưng đại bộ phận ngưi Khmer theo Pht giáo Nam tông, hin tưng này rất đáng quan tâm nghiên cu. Bi vì, sự thay đổi này làm cho văn hóa, phong tục, tập quán và tôn giáo truyn thống của họ cũng biến đổi theo.
  1. Phật giáo Nam tông Khmer ở Kiên Giang
 
    1. Vài nét về Phật giáo ở Kiên Giang

Phật giáo ở Kiên Giang đến nay có 200 cơ sthờ tự và 03 hệ phái, sinh hoạt trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Bên cạnh đó còn có 40 cơ sở thờ tự của tư gia sinh hoạt theo Phật giáo. Tổng số có 336.877 tín đồ (chiếm 20,01% dân số toàn tnh và
 
  1.  
  1. Dẫn theo Thạch Muni, “Hi Đoàn kết Sư sãi Yêu nước – thực trng và giải pháp”, trong Kỷ yếu Hi thảo khoa hc: Biến đng tín ngưng, tôn giáo trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa (Nghiên cu trưng hp Đng bng sông Cu Long), Cần Thơ, 3/2012, tr. 210 - 211.
 
68,4% tín đồ các tôn giáo), 1.246 chc sắc, nhà tu hành (643 Tỳ kheo, trong đó 03 Ni trưng, 10 Ni sư, 11 Sư cô; 15 Thc xoa, 588 Sa di), 1.989 chc việc, 01 trưng Trung cấp Phật học, 08 cơ stừ thiện xã hội, 14 Ban Trị sự Phật giáo cấp huyện. Cthể như sau:
    • Nam tông Khmer có 76 chùa (3 chùa, 1 tháp di tích văn hóa cấp quốc gia, 2 chùa di tích cp tnh), 210.899 tín đồ (chiếm 12,53% dân số toàn tnh, 42,8% tín đcác tôn giáo), 926 vị chc sắc, nhà tu hành, 1.654 chc việc trong Ban Quản trị chùa.
 
    • Bắc tông và Khất sĩcó 124 cơ sthờ t, có 125.978 tín đồ, 320 chc sắc, nhà tu hành, Tỳ kheo 244 v(03 Hòa thưng, 07 Thưng tọa, 03 Ni trưng, 10 Ni sư, 11 Sư cô) và 61 Sa di, 15 Thc Xoa ma na(1).

Các tổ chc, hệ phái Phật giáo ở Kiên Giang đều sinh hoạt chung trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam i sự quản lý, điều hành của Ban TrsTnh hội Phật giáo. Chc sắc, nhà tu hành và Phật tử ở đây luôn có truyền thống đoàn kết, cùng nhau xây dng giáo hội vng mạnh, hành đo đúng phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hi”.

Trong quá trình tồn ti và phát triển, vi tinh thần “Phật pháp bất ly thế gian giác”, Phật giáo ở Kiên Giang luôn nêu cao tinh thần Từ bi, Hỷ x, Vô ngã vị tha, Tùy duyên bất biến, Lục hòa công trụ, ly đó làm phương tiện để giáo hóa chúng sanh, ly trí tuệ làm sự nghiệp để phụng sự Tổ quốc và Giáo hội. Có thể nói, giáo lý Phật giáo là nhng giá trị tinh hoa của nhân loại, nay đã ảnh hưng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực ca đi sống xã hội,



1 Ban Tôn giáo tnh Kiên Giang, o cáo tổng kết m 2013, tlđd.
 
đến tâm lý, tình cm, đạo đc, phong tục, tập quán của con ngưi Việt Nam, đã soi sáng cho hàng triệu ng ni, Phật tử Việt Nam, góp phần hun đút nên những giá trị văn hóa, đạo đc của mi con ngưi Việt Nam.

Qua hai cuộc kháng chiến chống thc dân Pháp và đế quốc M, Phật giáo ở Kiên Giang đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập thống nhất cho Tổ quốc. Cũng như Phật giáo trong cả nưc, ở Kiên Giang đã có nhiều Tăng ni và Phật tử nêu cao tinh thần yêu nước. Họ đã cống hiến sc ngưi, sc của cho kháng chiến thắng lợi. Nhiều tm gương ta sáng vì đạo pháp, vì dân tộc như Hòa thưng Thiện Ân, Hòa thưng Thiện Chiếu, Hòa thưng Tăng Phô và nhng nhà sư chiến sĩ ra chiến trưng, chiến đấu cho chúng sanh. Tiếp nối truyền thống Nguy thi hộ quốc cu dân/ An thi rũ áo am vân tu trì”, sau giải phóng thống nht đất nưc, cùng vi Phật giáo cả nưc, Tăng ni và Phật tử Phật giáo Kiên Giang tiếp tục phát huy truyn thống yêu nưc, gắn bó đồng hành cùng dân tộc, tích cc hưng ng nhiều phong trào thi đua yêu nưc do Đảng, Nhà nưc, Mt trận Tổ quốc và các đoàn thcác cấp phát động.

Nhng năm gần đây, vi nhng chính sách xã hội hóa giáo dục, y tế, từ thiện xã hội của Đảng, Nhà nưc đưc quan tâm, nhiều hot động của Phật giáo Kiên Giang trong công tác tthiện xã hội được đy mnh, như xây dựng cầu đưng, nuôi dy trẻ mồ côi, không nơi nương ta, khám cha bệnh cho ngưi nghèo... làm gim bt nhng khó khăn của đồng bào.
    1. Phật giáo Nam tông Khmer ở Kiên Giang

Trong nhng năm qua, các hoạt động của Phật giáo Nam tông Khmer được củng cố, xây dng thêm đưc 03 chùa, có 37
 
chùa đưc xây dng lại chánh điện, giảng đưng; 07 Hòa thưng, 14 Thưng tọa đưc phong phm chc sắc, 100% trtrì đã đưc bổ nhim đúng quy đnh của Giáo hội và pháp luật, 23 vị sư sãi suy cử vào Ban Đại diện Phật giáo huyện, th, thành phố. Ngoài ra, hằng năm trên 200 vị sư sãi đưc đào tạo giáo lý và học chương trình tiếng Pali – Kinh luận gii. Các hoạt động thuần túy tôn giáo và lễ nghi tôn giáo truyền thống của hệ phái đưc tổ chc thưng xuyên, din ra khá sôi động thu hút đông đảo quần chúng Pht tử tham gia như: An cư kiết hạ, Lễ Phật đản, Lễ Dâng y,... và các lễ hội truyền thống khác của đồng bào Khmer như: Chôl Chnăm Thmây, Đônta, Ok om bok,...

Bên cạnh đó, Ban Trsự Tnh hội Phật giáo Kiên Giang quan tâm đến các loại kinh sách phục vụ cho việc tu học của sư sãi và đng bào Phật t. Đến nay, Tnh hội Phật giáo đã nhp 62 bộ Tam Tạng kinh từ Campuchia, mỗi bộ gm 110 quyn, 438 quyển bộ Sớ gii Pháp cú kinh, kinh luận gii 22 quyn và 10 quyển Từ điển Khmer.

Nhìn chung, vi nhng chính sách tôn giáo ca Đảng, Nhà nưc và sự quan tâm hưng dẫn, tạo điều kiện của các cấp y, chính quyền, mặt trận trong tnh, các hoạt động tôn giáo của Phật giáo hệ phái Nam tông Khmer diễn ra khá n đnh, góp phn cải thiện đi sống vật chất và tinh thn của đng bào Khmer.
    1. Đóng góp ca Pht giáo Nam tông Khmer

- Trước năm 1975:

Trong hai cuộc kháng chiến chống thc dân Pháp và đế quốc M, phần ln chư tăng, Phật tử Phật giáo Nam tông Khmer đã có nhng đóng góp tích cc cho sự nghiệp giải phóng đất
 
nưc. Nhiều vị cao tăng đã thm nhuần tư tưng “cu khổ, cu nạn” của giáo lý nhà Phật, giác ngộ cách mạng, hưng ng li kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, vận động sư sãi và đng bào Phật tử tham gia hoạt động chống ngoại xâm. Nhiều ngôi chùa trở thành nơi nuôi cha cán bộ cách mng, nhiều cuộc đấu tranh trc din vi kẻ đch trong giai đoạn ác liệt nhất. Thời kPháp thuộc, có nhng sự kiện đã đi vào lch sử như cuộc đấu tranh tiêu biểu của vị Hòa thưng Tăng Phô (trụ trì) và Tăng Hô (phó trụ trì) chùa Láng Cát, trong đó 01 vhy sinh tại vùng kháng chiến, 01 vị bị bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại nhà tù; thi kháng chiến chống Mỹ cu nước, tiêu biu là cuộc đấu tranh chống bắt lính của hơn gần 1.000 vị sư sãi Khmer ngày 10/6/1974 ở huyện Châu Thành do bn nhà sư Danh Tấp,
Danh Hom, Danh Hoi và Lâm Hùng lãnh đạo đã bị tàn sát(1).
Ngoài ra, còn có sự tham gia của hơn 250 đng bào Khmer vào cuộc biểu tình đó đchống bắt lính của Ngy quân, Ngy quyn kết quả 04 vị sư kể trên đã anh dũng hy sinh(2). Trưc sự đàn áp đm máu của đch, đng bào Phật tử cùng vi sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer thuc huyn Châu Thành, thị xã Rạch Giá (nay là TP. Rạch Giá) và nhiều nơi khác tchc biểu tình vi quy mô ln để tố cáo tội ác ca Mỹ ngy đàn áp tôn giáo, m thất bại
âm mưu của quân xâm lưc, buộc chúng phải nhận lỗi trưc sư sãi và đng bào. Cuộc đấu tranh này đã cổ vũ phong trào đấu





 
  1. Lâm Chí Việt, Các n tc thiểu sViệt Nam thế kỷ XX, Nxb. Chính trị Quc gia, Hà Ni, 2001, tr. 646.
  2. Tư liệu do Thượng ta Danh Lân, y viên Hội đồng TrsTrung ương Giáo hi Phật giáo Việt Nam cung cấp ngày 08/3/2012.
 
tranh ca đồng bào các dân tộc ở Kiên Giang nói riêng và ở Đồng bằng sông Cu Long nói chung(1).

- Thời kỳ giải phóng, thống nhất đất nước:

+ Trước thời kỳ Đổi mới (1986): Sau năm 1975, phát huy truyền thống tốt đẹp của các vị chư tăng tiền nhân, trong chiến tranh bảo vệ biên gii Tây Nam, nhiu sư sãi và đng bào Phật tử ngưi Khmer đã tiếp tục cống hiến sc ngưi, sc của để bảo vệ biên cương của Tổ quốc; góp phần đánh đuổi chế độ diệt chủng Pôn Pốt xâm lấn biên gii, giúp nhân dân Campuchia xây dng nhà nưc dân ch, có cuộc sng hnh phúc. Nhiu vị sư sãi đã hoàn tục để thc hiện nghĩa vụ công dân, trc tiếp tham gia nghĩa vụ quân sự để làm nhim vụ quốc tế, bảo bệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhiu vị đã hy sinh thân mình để bảo vệ cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân.

+ Thời kỳ đổi mới (1986) đến nay: Nhng năm qua, Kiên Giang đã giành đưc nhiều thành tu quan trọng trong các lĩnh vc. Đời sống vật chất và tinh thần của ngưi dân đưc cải thiện. Nhu cầu tôn giáo ngày đưc bảo đm tốt hơn, phần ln sư sãi và đồng bào Phật tử phn khi, an tâm hành đạo. Sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer hưng ng các phong trào thi đua yêu nưc, hăng hái trong lao đng sản xuất, góp phn thc hiện thng li mc tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh đề ra. Thể hiện trong các lĩnh vc sau:

Về lĩnh vực văn hóa, giáo dục: Nhm góp phần đưa chủ trương của Đảng, Nhà nưc đi vào cuộc sống, sư sãi và đồng bào

1. Lâm Chí Việt, sđd, tr. 646.
 
Phật tử tích cc tham gia thc hiện tốt các chính sách văn hóa, giáo dục... xây dng và bảo tồn các di sn văn hóa của tnh. Các hoạt động đóng góp ca chc sắc, nhà tu hành và Phật tử chủ yếu tập trung xây dng, tôn tạo chùa, tạo nhng nét hoa văn phong phú, độc đáo. Đến nay toàn tnh đã có 04 chùa và 01 tháp đưc công nhận di tích cấp quốc gia, 02 chùa là di tích cấp tnh, 01 cơ sở chùa (bị tàn phá trong chiến tranh bảo vệ biên gii Tây Nam) làm di tích chiến tranh. Bên cạnh đó, một số chùa tập trung giữ gìn bảo tn và đóng mi ghe ngo, tổ chc đua ghe ngo, mua sm và dy nhạc ngũ âm,... nhm giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống ca đồng bào Khmer.

Để giữ gìn tiếng nói, chữ viết của ngưi Khmer, phần ln các chùa Phật giáo Nam tông Khmer đều tổ chc các lp dy chữ Khmer. Trong 03 tháng hè, tăng sinh và con em đồng bào dân tộc từ lp 1 đến lp 7 đưc học tiếng Khmer. Tổng số lp đã mtừ năm 2005 (năm Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lc thi hành) là 654 lp, có 17.665 học viên d1. Hiện có 17 vị sư đang theo học ngành nghề khác tại các trưng đại học, cao đẳng tại TP. Hồ Chí Minh và 01 vị đưc nhà trường cho đi du
học Trung Quc, nhiu vị đang theo học các trường trung cấp, cao đẳng tại tnh.

Về lĩnh vực từ thiện – xã hội: Vi tinh thần “Từ bi hỷ xả, Vô ngã vị tha” của Phật giáo, cùng vi sự quan tâm chỉ đạo của Ban Trị sự Tnh hội Phật giáo, công tác đạo sự gắn vi các hoạt động từ thiện xã hội nhân đạo. Các chùa Phật giáo Nam tông Khmer hưng ng tích cc các hoạt động từ thiện, thưng xuyên

1. Hi Đoàn kết Sư sãi Yêu nước tnh Kiên Giang, Báo cáo Tổng kết hot đng năm 2011, ngày 08/2/2012.
 
vận động, tuyên truyn, huy đng sự đóng p csc ngưi lẫn của cải vật chất của tín đồ Phật t. Bưc đu làm đưc một số việc như: xây dng cầu, đưng, bê tông hóa giao thông nông thôn, chăm sóc ngưi nghèo neo đơn, tổ chc đưa ngưi nghèo đi khám, cha bệnh tại các bệnh viện ln, khám cha bệnh bằng thuốc Nam, châm cu cho bệnh nhân nghèo, xây dng lò hoả táng, đóng góp tiền và hiện vật cu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt,... Đin hình như Hòa thưng Trần Nhiếp, trụ trì chùa Đường Xuồng Mi (huyn Gò Quao) vận động đng bào Phật tử xây dng cầu, đưng nông thôn trị giá hàng tđồng, xây dng trên
40 cây cầu, hàng ngàn mét đưng nông thôn; chùa Klang Mương, thị trấn Minh Lương (huyện Châu Thành) nổi bt vi phòng thuốc Nam min phí cho bệnh nhân đến khám cha bệnh, bình quân mỗi năm phát hàng chục ngàn thang thuốc; chùa Rạch Sỏi (TP. Rạch Giá) tổ chc các lớp dy nghề, hưng dẫn bà con Phật tử đưa khoa học kthuật vào sn xut, chùa Thôn Dôn, chùa Phật Ln nuôi con em đồng bào Phật tử và sư sãi các nơi để đi học ở các trưng,... Bên cạnh đó, nhiều vị sư sãi tham gia vào các tổ chc như Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo, Hội Chữ thập đỏ các cấp, như Hòa thượng Trần Nhiếp, trụ trì chùa Đưng Xuồng mới, Đại đc Danh Ri, Danh Hạnh, chùa Khlang Mương, v.v....

Nhìn chung, công tác tthiện xã hi đã đưc chc sắc, giáo phm lãnh đạo Ban Trsự Tnh hội Phật giáo quan tâm chỉ đạo. Nhiều sư sãi và đng bào Phật tử quan tâm thc hiện tốt, đúng chính sách xã hội hóa tthiện xã hội của Nhà nưc, giúp đỡ ngưi nghèo, vùng sâu, vùng xa gim bt nhng khó khăn, góp phần thc hiện thắng li mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ca tnh.
 
  1. Một số đề xuất trong việc thực hiện chính sách đối với Phật giáo Nam tông Khmer

Để giúp cho Phật giáo Nam tông Khmer ở Đng bằng Sông Cu Long nói chung và ở Kiên Giang nói riêng, hoạt động đúng quy đnh ca pháp lut; đồng thi tiếp tục đóng góp tích cc cho việc bảo tồn nhng giá trị văn hóa truyền thống; đặc biệt góp phần đưa chủ trương, đưng lối chính sách tôn giáo của Đảng, pháp luật Nhà nưc đi vào cuộc sống, chúng tôi đề nghmột số kiến nghnhư sau:
    1. Về chính sách ca Nhà nước
 
  • Tiếp tục thc hiện tốt các chương trình 134, 135,... xây dng hạ tng cơ s, to điều kiện phát triển kinh tế vùng đồng bào Khmer, đồng thi đưa các tiến bộ khoa học vào sn xuất, nhm nâng cao đi sống vật chất ca đồng bào.
 
  • Các đa phương cần có nhng chính sách phù hp, to điều kiện cho sư sãi và con em ngưi Khmer đưc tham gia hc tập ở các trưng đại học, cao đẳng tại đa phương,... gim bt nhng khó khăn trong việc đi lại, sinh hot, kể cả kinh phí.
 
  • Nên có nhng chính sách htrợ riêng đối vi Pht giáo Nam tông Khmer như: htrợ một phần kinh phí xây dng, sa cha chùa, miễn thuế khi cấp giy chng nhận quyền sử dụng đất của cơ sở thờ t, xem xét hỗ trợ kinh phí để bảo tồn và phát huy nhng văn hóa truyn thống, như đóng thêm, bảo dưng ghe ngo, dàn nhạc nâm..., nhất là việc bảo tn bảo tàng đối vi nhng cơ sở đã đưc công nhận di tích.
 
  • Ngành giáo dục nên xem xét tiếp tục htrợ kinh phí cho giáo viên dy chKhmer ở các chùa trong dp hè, đồng thi tăng
 
cưng đưa chữ Khmer vào các trưng phổ thông ở trong vùng có đông đng bào Khmer, nhm bảo tồn ngôn ng, chữ viết của đồng bào. Các trưng phổ thông cơ sở dân tộc nội trú ở cấp huyện cần tổ chc thêm các lp trung hc phổ thông, tạo điều kiện cho con em ngưi Khmer không đđiều kiện học tập ở trưng trung hc phổ thông dân tộc nội trú tnh có điều kin học tập hết chương trình phthông.
  • Hội đồng Trsự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đôn đốc, hưng dẫn các Ban TrsPhật giáo cấp tnh, thành thc hiện các thủ tc thành lập trưng, lp dy giáo lý cho sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer bậc trung cấp. Tạo điều kiện thuận li cho các chùa tổ chc dy các lp kinh luận gii, chữ Pali, nhm đào tạo lc lưng kế tha đủ sc đại diện cho Phật giáo Nam tông Khmer ở trong nưc và ngoài nưc.
 
  • Cần tiếp tc hỗ trợ in ấn kinh sách, quan tâm việc xuất bản Tam Tạng kinh bng chữ Khmer – Pali, đáp ng nhu cầu tu học của sư sãi và đồng bào Phật tử Phật giáo Nam tông Khmer.
 
  • Hội đồng Trsự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần có hưng dẫn chc sắc, nhà tu hành Phật giáo Nam tông Khmer hot động quan hệ đối ngoại vi Phật giáo Nam tông ở Campuchia và một số nưc khác trong khu vc đúng chủ trương, đưng li đối ngoại của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nưc và phù hp truyn thống sơn môn.
 
  • Ban Tôn giáo Cnh phủ phối hp vi y ban Trung ương Mặt trận Tổ quc Việt Nam chỉ đo y ban Mặt trận Tổ quốc các tnh có kế hoạch hưng dẫn Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu
 
nưc thc hiện đúng chức năng, nhim vụ theo điều lệ Hội. Tránh tình trạng hoạt động chồng chéo gia tổ chc Giáo hội Phật giáo (Ban TrsPhật giáo tnh) vi Hi Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc.
    1. Về công tác quản lý nhà nước
 
  • Chú trọng tuyên truyn trong sư sãi, chc sắc cao cấp đng đầu các cấp tổ chc giáo hội, thông qua đó tuyên truyền sâu rộng trong đồng bào Phật tử Phật giáo Nam tông Khmer về quan đim, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nưc về tôn giáo. Đặc biệt, chú ý tuyên truyn giải thích nhng vấn đề mi về tôn giáo trong Nghị quyết Đại hội XI ca Đảng về vấn đề tôn giáo.
 
  • Làm tốt công tác đng viên chc sắc có ngưi uy tín, đạo cao đc trọng, làm nòng cốt trong công tác tuyên truyn, vận động trong sư sãi và đồng bào thc hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đng, Nhà nưc; phát hin, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động vi phm pháp luật, hưng các hoạt động tôn giáo vào nền nếp, đúng truyn thống và theo khuôn khổ pháp luật.
 
  • Quan tâm giúp đ, to điều kiện để các vị sư sãi là những vị lãnh đạo chủ chốt giáo hội các cấp tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết gn bó vi các hệ phái, đóng góp tích cc vào việc xây dng tổ chc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thc hiện tốt phương châm “Đo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hi”.
 
  • Đào tạo, bồi dưng cán bộ làm công tác tôn giáo các cấp, nhất là n bộ chủ chốt ở cơ s, am hiểu cơ bn về phong tục, tp quán, ni dung giáo lý, giáo luật và các sinh hoạt truyn thng
 
tôn giáo nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng để làm tốt công c n giáo ngay tại cơ s.
  • Tiếp tục thc hiện tt chính sách tôn giáo ca Đảng, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho sư sãi và đồng bào Phật t. Chú trng phát triển kinh tế xã hội, xây dng nông thôn mi, tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân nói chung, đồng bào ngưi Khmer nói riêng nâng cao hơn đời sống kinh tế và trình độ dân trí.
 
    1. Vtchức
 
  • Hội đồng Trsự Trung ương Giáo hi Phật giáo Việt Nam cần có kế hoạch, quy hoạch, đào to, bồi dưỡng đội ngũ chức sắc trẻ trong Phật giáo Nam tông Khmer, tạo lc lưng kế tha lâu dài trong việc tham gia lãnh đạo giáo hội các cấp.
 
  • Có kế hoạch tổ chc cấp giy chng nhận tu sĩ cho sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer. Đồng thi, triển khai hưng dẫn việc thc hiện quy chế trụ trì và Ban Quản trị chùa Phật giáo Nam tông Khmer, tránh chồng chéo nhim vụ gia sư trụ trì và Ban Quản trị chùa.
 
  • Hưng dẫn Ban Trsự Tnh hội Phật giáo các tnh có Phật giáo Nam tông Khmer trao đổi vi Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc để thống nhất trong hoạt động, tránh trùng lắp gia hoạt động của Ban Trsự và Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc.

 

I LIU THAM KHẢO:

  1. Ban Tôn giáo tnh Kiên Giang, Kết quả khảo sát sliệu các n giáo đa bàn tnh Kiên Giang 2010.
 
  1. Cục Thng kê Kiên Giang, Tng điu tra dân số và nhà ở tỉnh Kiên Giang năm 2009, Rạch Giá, 2010.
  2. Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc tnh Kiên Giang, Báo cáo Tng kết công c của Hi năm 2011.
  3. Lâm Chí Việt, “Các dân tộc thiểu số ở Kiên Giang góp phần dng nưc và giữ nưc”, trong Các dân tc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Ni, 2001.
  4. Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Ban Tôn giáo Cần Thơ, Kỷ yếu Hội thảo Khoa hc: Biến động tín ngưỡng, tôn giáo trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa (Nghiên cứu trường hợp Đồng bằng sông Cửu Long), Cần Thơ, 3/2012.
  5. Các báo cáo tổng kết năm, từ 2000 đến 2013 của Ban Tôn giáo tỉnh Kiên Giang.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây