32. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Thứ bảy - 08/09/2018 19:26
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN của ThS. Hoàng Văn Khải*
Phật giáo Nam tông có vị trí, vai trò rất ln trong đi sống của đồng bào Khmer. Trong đó, nổi bật nhất là việc giữ gìn và phát huy tiếng nói, chữ viết, bản sắc văn hóa dân tộc, đào tạo đội ngũ trí thc, tạo ra các hoạt đng xã hội thiết thc, phát huy tt truyền thống đoàn kết. Do vy, công tác giáo dục của Phật giáo Nam tông Khmer có vai trò quan trọng. Công tác giảng dy và học tập chữ Khmer, giáo lý kinh Phật của Phật giáo Nam tông Khmer luôn được Đng, Nhà nước ta quan tâm, tạo điều kiện.
  1. Hệ thng giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer
 
    1. Giáo dục tại các trường chùa

Chùa Khmer là nơi Phật tử và sư sãi học tập và sinh hoạt tôn giáo. Ngoài việc truyn dy, giáo dục bn đạo thc hiện tốt li dy của Đc Phật, thc hiện tốt giá trị đạo đc và giá trị nhân văn, tng ngôi chùa còn là nơi tổ chc ging dy nhng kiến thc bổ ích, bao gm chương trình dy tiếng Khmer, các học phần về triết học, văn học, thơ ca, ngữ văn…, nhất là chương trình Pali và Vini (Phật học) va để sáng to ngôn từ bổ sung cho tiếng Khmer, va để tiếp cận kinh sách, giáo lý, nhng tinh hoa của Phật giáo. Song song đó, một số chùa còn tchc các khóa sư phm đào tạo đội ngũ giáo viên ging dy các bộ môn nêu trên.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nưc,  chương  trình  giảng  dtrong  trường  chùa  đưc  điều

* Hc viện Chính trị Quc gia Hồ Chí Minh khu vực IV.
 
chnh, bổ sung phù hp vi nhu cầu thc tin và xu hưng phát triển chung. Nhng năm đầu giải phóng, chữ Khmer đưc đưa vào chương trình ging dy chính thc trong trưng công lập ở bậc tiểu học, sau này áp dụng trong trưng phổ thông dân tộc nội trú. Từ m 2006, chương trình dy tiếng Khmer đưc cải cách, nâng cao thành 7 trình độ, áp dụng từ lp 3 đến lp 9, nay đã biên soạn đưa vào sử dụng 5 trình độ và đang biên son tiếp 2 trình độ còn lại. Chương trình này cũng đưc áp dụng giảng dy trong dp hè hằng năm tại các điểm chùa, do ngành giáo dục và các chùa phối hp tổ chc, thu hút đông đo con em đồng bào Khmer đến học.
    1. Giáo dc tại Trưng Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ

Sau khi Chính phủ đng ý cho thành lập Tng Bổ túc Văn hóa Pali Trung cp Nam B, tnh Sóc Trăng đã giao cho Sở Giáo dục và Đào tạo Sóc Trăng có ngay phương án, kế hoạch, trong đó trc tiếp qun lý, vi nhim vụ va dy bổ túc văn hóa, từ cấp I đến cp III, va dy chữ Pali và chữ Khmer nhm đào tạo cán bộ người Khmer trong khu vc Đồng bằng Nam Bộ. Vi sự quan tâm của các cp các ngành, Trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bngoài nhng quyền li đưc hưng các chế độ như trưng phổ thông dân tộc nội trú khác, còn có nhng sự ủng hộ động viên va tinh thn, va là vật chất từ mọi ngun, nhất là từ phía tnh Sóc Trăng. Từ chỗ chỉ có 4 phòng học, 1 phòng làm việc và 36 phòng ký túc xá từ nhng ngày đầu thành lập, đến nay trưng đã có 44 cán bộ, giáo viên, công nhân viên, trong đó dân tộc Khmer có 35 ngưi. Đối vi tăng sinh, từ khi mi thành lập cho đến nay trường đã mở đưc 16 khóa, tiếp nhận 823 học viên, từ lp 6 đến 12.
 
Vi nhim vụ đào tạo văn hóa cho các học viên là ngưi Khmer, nội dung chương trình học tập của trưng là dy bổ túc văn hóa đến lp 12. Thêm vào đó là dy tiếng Việt và trình độ trung cấp tiếng Pali. Nhng học viên đưc nhận vào trưng hầu như đã đạt đến trình độ văn hóa hết lp 5. Hằng năm, nhà trưng tuyn sinh hc viên là ngưi Khmer thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Phưc và khu vc Tây Nam Bộ. Đa số học sinh ở đây thuộc diện hộ nghèo, hộ chính sách.
Vượt qua muôn vàn khó khăn, khắc phục tình trạng thiếu giáo viên, hc viên, nhà trường vẫn không ngừng nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả đào tạo. Trong số trên ba trăm học viên tốt nghip ra trường đã có 36 học viên tham gia giảng dy ở 3 cấp là tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Ngoài ra còn có 69 học viên tham gia công tác ở các cơ quan ban ngành như: y tế, báo chí, phát thanh - truyền hình, công an, du lịch, Ban Dân tộc, Ban Tôn giáo, Ban Dân vận. Nhà trường cũng có mưi học viên đi du học ở các nước Myanmar, Thái Lan và 18 học viên đang theo học ở các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài
tỉnh(1).

Luôn được sự quan tâm, chăm lo, đầu tư từ các cấp, các ngành trung ương tới địa phương, nhà trường được đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng kiên cố, trên tổng diện tích hơn 5 ha, bao gm các hạng mc chính: nhà học thí nghim, nhà hiệu bộ, ký túc xá 3 tầng, nhà ăn, đường nội bộ… Sau hơn 2 năm khởi công xây dựng, mới đây trường đã được đưa vào sử dụng góp phần tạo không khí vui tươi, phấn khởi và an tâm học tập cho các học viên là người Khmer.


1 Trưng Bổ túc Văn hóa Pali Trung cp Nam Bộ - mái m ca đng o Khmer, http://dangcongsan.vn.
 
    1. Giáo dc tại Học viện Phật giáo Nam tông Khmer

Vi mục tiêu đào tạo chc sắc cho Hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hc viện Phật giáo Nam tông Khmer đã đưc cấp giy phép thành lập và hoạt động. Việc thành lập và hoạt động của Học viện có ý nghĩa rất quan trng. Lần đầu tiên một trưng đào tạo cấp đại học cho Hệ phái Nam tông Khmer đưc thành lập ti Việt Nam, đáp ng nguyện vng tha thiết của sư sãi và đng bào Khmer, thể hiện chính sách dân tộc, tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nưc, góp phần thiết thc cho công tác đấu tranh đối ngoại về tôn giáo và dân tc.
Ngày 11/7/2007, Ban Tôn giáo Chính ph, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tổ chc lễ khai giảng khóa I vi số lưng 68 tăng sinh. Học viện tiếp tc chiêu sinh và khai giảng khóa II, khoảng 30-40 tăng sinh.
Thc hiện chủ trương của Chính phủ về việc xây dng trụ sở Học viện Phật giáo Nam tông Khmer đặt tại quận Ô Môn, thành phCn Thơ, UBND thành phCần Thơ đã quy hoạch diện tích khu đất xây dng Học vin 10 ha (không bao gm diện tích 1,3 ha chùa SanVor PôThiNhen) khu 12, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn. Hiện nay, trsở của Học viện Phật giáo Nam tông Khmer đặt tạm tại Chùa Pôthi Somrôn, khu 4, phưng Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phCần Thơ.
Nhm giúp cho Hội đồng Điều hành Học viện tháo gỡ nhng khó khăn vưng mắc về vấn đề xây dng Học vin, sm có trụ sở riêng để hoạt động, Ban Tôn giáo Chính phủ đã trình và đưc Thủ tưng Chính phủ giao UBND thành phCần Thơ ra
 
quyết đnh thành lập Ban Hỗ trợ xây dng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer.
Ngày 05/3/2010, UBND thành phCn Thơ ra Quyết đnh số 632/QĐ-UBND về việc thành lập Ban Hỗ trợ xây dng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại thành phCần Thơ và Quyết đnh số 633/QĐ-UBND ngày 05/3/2010 về việc ban hành Quy chế Hoạt đng của Ban Hỗ trợ xây dng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại thành phố Cần Thơ. Ban Htrợ xây dng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer đã ra Quyết đnh số 111/QĐ-BHT ngày 18/10/2010 về việc phân công nhim vụ cho các thành viên trong Ban Htrợ xây dng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer.
Chương trình đào tạo tại Học viện Pht giáo Nam tông Khmer đan xen giữa kiến thc Phật học và kiến thc xã hội. Đến nay, Học viện đã tuyển sinh và đào tạo 03 khóa, vi 97 tăng sinh, đã tốt nghiệp 58 tăng sinh. Trưng Trung cấp Văn hóa Pali Nam Btại Sóc Trăng đã tuyn sinh và đào tạo 904 học viên, đã ra trưng 456 học viên (15 khóa), trong đó tốt nghiệp 372 học viên (81,6%)(1). Trong stt nghiệp có 40 học viên công tác trong ngành giáo dục, 90 công tác cơ quan thông tấn, báo, đài và các
ngành ca đa phương; một số tăng sinh về chùa để quản lý hoặc tiếp tục theo học tại Học viện Phật giáo Nam tông Khmer; trưng đại học, cao đng khu vc, đưc Giáo hội Phật giáo Việt Nam cử tu học ngoài c.
Hiện nay, Học viện còn gặp nhiều khó khăn nh hưởng đến công tác đào tạo tăng sinh. Cụ thể là:



1 y ban Dân tc, Tham lun ti Hi nghSơ kết 6 tháng đu m 2013 ca Ban chđạo Tây Nam B, tr. 4.
 
Về đất đai và cơ sở vật chất: Học viện Phật giáo Nam tông Khmer chưa xây dựng, còn đặt tm tại chùa Pôthi Sômrôn.
Về điều hành Học vin: Học viện chưa có Quy chế hoạt động và Quy chế tuyển sinh, thông qua Ban Tôn giáo Chính phủ để đưc chuẩn y và áp dụng (theo Điều 13, Nghđnh 22/2005/NĐ-CP, ngày 01/03/2005 của Chính phủ). Thưng trc Hội đồng Điều hành Học viện mi vị ở mỗi tnh khác nhau, đa số kiêm nhim. Học viện không có các bộ phận nghiệp vụ như giáo vụ, giám th, văn phòng; kế toán, tài vụ ở xa trưng; do vy, công tác điều hành của Học viện gặp rất nhiu khó khăn, vưng mc.
Tăng sinh Phật giáo Nam tông Khmer phần đông xuất thân từ thanh thiếu niên ngưi dân tộc vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, gia đình nghèo, thiếu điều kiện học hành, việc dy chữ Khmer mỗi nơi mỗi khác, chương trình, nội dung và thi gian đào tạo chưa thống nht, từ đó trình độ Pali giáo lý đầu vào nhìn chung còn thấp và kng đồng b, không đng đều. Từ đó, Hội đồng Điều hành Học viện phối hp vi Trung tâm Giáo dục Thưng xuyên quận Ô Môn tập trung ôn và luyn thi cho các vị để có đủ kiến thc trong việc thi c. Mặt khác, Hội đồng Điều hành Hc viện còn hp đồng vi trung tâm giáo dục dy ngoi ngữ và tin học cho các vị tăng sinh để đủ tiêu chun khi ra trưng.
Về giảng viên: đa số là giảng viên thnh ging, vì thế việc bố trí lch giảng dy thưng bị đng, chất lưng giảng dy hạn chế.
Về kinh phí hoạt động của Học viện: Theo áo cáo tham luận của Uỷ ban Dân tộc tại Hội nghị Sơ kết 6 tháng đầu m 2013 của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ thì việc triển khai xây dng
 
trụ s, chương trình giảng dy, cấp bằng tt nghiệp, kinh phí hoạt động của Học vin Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ còn gặp nhiu khó khăn. Do đó, cn quan tâm việc củng cố Học viện Phật giáo Nam tông Khmer nhm thu hút đào tạo nâng cao trình độ về giáo lý, giáo luật và văn hóa cho các sư sãi ngăn chặn tình trạng sang các nưc học không chính thống. Có chính sách đào tạo đội ngũ giáo viên dy chữ Pali để kế tha đội ngũ hiện nay đang bị hụt hẫng vì các giáo viên đang giảng dy đều đã ln tuổi nhm to ngun cho Trưng Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ và Học vin Phật giáo Nam tông Khmer.
    1. Du học ca chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa mạnh mẽ như hiện nay, việc chư tăng du học nâng cao trình độ là cần thiết và chính đáng. Nguyên nhân chư tăng du học do:
Một là, sau khi trở thành một ngành trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Nam tông Khmer có một trường đào tạo Tăng tài ở Sóc Trăng. Đây là trường Trung cấp Phật học của các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Nhà trường dy sư tăng đọc và viết chữ Vini, chữ Pali ở những trình độ khác nhau. Lúc đu, nhà trường đáp ứng được nhu cầu một bộ phận sư Khmer, sau này đã ny sinh ra một số hạn chế.
Hai là, cơ sở dy và học của sư sãi còn nhiều khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu; việc qun lý sư sãi và hoạt động Phật sự ở mt số chùa chưa đi vào nề nếp.
Ba là, chương trình dy tiếng Khmer, Pali và Vini do Phật giáo Nam tông tổ chức tại các đim chùa thiếu tính thống nhất giữa các tỉnh thành do chưa có đơn vị nào của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đứng ra chủ trì biên soạn. Một bộ phận sư sãi cần được tiếp tục đào tạo cả về trình độ thế học ln trình độ Pht học
 
nhưng chương trình dy tiếng Khmer mới ban hành được 4 trình độ, chưa đáp ứng nhu cầu học tp ngày càng cao. Để khắc phục tình trạng này, đồng thời tạo điều kiện cho chư tăng theo học ở bậc cao hơn, Nhà nước đầu tư thành lp Học viện Phật giáo Nam tông Khmer từ năm 2006 nhưng chỉ tiêu đào tạo thấp, chương trình giảng dy có mt chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Từ khó khăn, bất cập trong giảng dy tại các đim chùa, tại Trường Bổ c n hóa Trung cấp Pali Nam Bộ, tại Học viện Phật giáo Nam tông Khmer là nguyên nhân khách quan dẫn đến việc chư tăng sang mt số nước trong khu vực, đặc biệt là Campuchia để theo học ở bậc cao hơn. Mặt khác, một số tăng sĩ du học vì động cơ tìm kiếm việc làm ở nước ngoài; một số vị có tư tưởng hướng ngoại, dân tộc cc đoan, bị thế lực xấu tác đng… Đây là yếu tố chủ quan dẫn đến việc một bộ phận chư tăng sang một số nước, trong đó có Campuchia để du học. Hiện tưng sư sãi Khmer đi du học không chính thống vẫn còn diễn ra, y khó khăn trong quản lý do không có ai công nhận bằng, không ai cấp bằng.
Bốn là, một số địa bàn có đông đồng bào Khmer sinh sống chưa tổ chức giảng dy tiếng Khmer. Sách giáo khoa sau thời gian sử dụng bị rách, hư hỏng nhiều. Đội ngũ giáo viên đang bị hụt hẫng do không tổ chc các khóa đào to, mt khác lại hoạt động chp vá do chưa được đào tạo chính quy vì các ngành chc năng chưa ban hành mã ngành giáo viên dy tiếng dân tc. Việc học chữ Khmer đến nay phát triển thành phong trào kmnh nhưng chỉ dừng ở chỗ học để biết ch, để giữ gìn bản sc văn hóa dân tộc, chưa đưc cấp chng chỉ, văn bằng chính thức, các cơ sở giảng dy hiện có tại các đim chùa chưa có tư cách pháp nhân để cấp chng chỉ, văn bằng.
Năm là, để đi học được my năm trong trường, các sư Khmer phi phấn đấu và chịu khó mới có thể theo học từ đầu
 
đến cuối, còn thông thường là bỏ nửa chng. Lý do mà họ bỏ cũng có nhiều, nhưng tựu trung lại do hai nguyên nhân sau. Một là các sư Khmer hoàn tục về nhà ly vợ. Hai là do thiếu tiền, vì các chùa Khmer nm trong những giồng cát lớn, kỹ thuật canh tác lạc hậu, chú trọng chăm lo cho cõi đời sau chứ không muốn làm giàu nên thường chỉ đủ ăn là khá. Dân nghèo thì chùa nghèo, các sư Khmer không đủ kinh phí đi học. Trong khi đó, từ lâu phía Campuchia đã có những chính sách cởi mở với các sư Khmer ở Nam Bộ. Họ khuyến khích các sư Khmer Nam Bộ trốn đi học và chịu sắc phong của Vua Sãi Campuchia. Khi đi học, những nhà sư Khmer Việt Nam không mất tiền. Sau khi học xong khi về nước, họ còn được các sư Khmer Campuchia cho tiền mang về tu sửa chùa.
Sáu là, đường biên giới Tây Nam nước ta với Campuchia núi liền núi, sông liền sông, khá thun li cho việc đi lại. Trong khi đó, công tác quản lý nhà nước của ta tại khu vực biên giới có phần lỏng lẻo. Ví dụ khi một nhà sư Khmer trốn qua biên giới để sang Campuchia đi hc hoặc thăm thân bị bt thì chỉ phạt hành chính, trong khi đó nếu làm hộ chiếu giy tờ nghiêm chỉnh thì mất nhiều thời gian và phải tốn kém kinh phí. Trong khi đó, nhiều ca khẩu, nhiều địa đim giáp biên giới không rõ ràng làm cho việc kiểm soát người vượt biên trái phép vô cùng khó. Đó là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chư tăng Khmer sang Campuchia du hc.
  1. Một số giải pháp nhm nâng cao hiệu quả hệ thống giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer trong giai đoạn hin nay
Thứ nht, quan tâm đu tư xây dựng cơ sở vt chất Trưng Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ và hệ thống các trường chùa. Trong thời gian qua, Trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung
 
cấp Nam Bộ chính là địa chỉ đu tiên ở Nam Bộ đào tạo sư sãi, thanh niên Khmer, góp phần đáng kể vào quá trình nâng cao dân trí, cung cấp ngun nhân lực cán bộ dân tộc cho các tỉnh, thành khu vực Nam Bộ. Đng thời, hệ thống các trường chùa cũng cần đầu tư xây dựng, tu bổ, bởi lẽ ngôi chùa có một vị trí rất quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người Khmer. Hệ thống các trường chùa là cơ sở giáo dục nn tảng của Phật tử Khmer. Chương trình giảng dy trong hệ thống các trường chùa và Trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ cần được hoàn thiện nhằm to nền kiến thức vững chc cho các tăng sinh khi họ muốn theo học ở các cấp cao hơn.
Thứ hai, về công tác xây dng trsở Học viện Phật giáo Nam tông Khmer, đối vi Hội đồng Điều hành Học viện, là đơn vị chủ dự án, cần chủ động trong việc lập đề án xây dng, thưng xuyên liên hệ vi Ban Hỗ trợ Xây dng Học viện, đồng thi đề xuất nhng công việc cần tiếp tục thc hiện. Vi trách nhim điều hành Học viện, các thành viên cần tranh thủ thi gian thc hiện nhim vụ đưc phân công để duy trì hoạt đng của Học viện đạt hiệu quả cao nhất. Củng cố, bổ sung bộ phận nghiệp vụ như giáo v, giám th, văn phòng; kế toán, tài vụ gắn liền vi Học viện để thuận tiện điu hành hoạt động.
Các thành viên Ban Htrợ Xây dng Học viện, căn cứ vào nhim vụ đưc giao trong việc thc hiện c phần việc hỗ trợ xây dng Học vin để thc hiện; thưng xuyên báo cáo kết quả thc hiện, nhng khó khăn vưng mắc để tập hp xin ý kiến chỉ đạo thc hiện.
Đề nghị UBND thành phố Cần Thơ giao Sở Tài nguyên và Môi trưng đo đạc lại phần đất giao cho Học viện, tham mưu trình UBND thành phố ký quyết đnh giao đất (theo Công văn s
 
486/CV/HĐTS, ngày 15/11/2008 của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam). UBND thành phố cn tổ chc họp Ban Hỗ trợ Xây dng Học vin để rà soát công việc tng thành viên đã đưc phân công và chỉ đạo nhng công việc cụ thể cần làm tiếp tục, có định ra chỉ tiêu và thi gian hoàn thành.
Hi đng Trsự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần hoàn thành quy chế hoạt đng, quy chế tuyển sinh trình Ban Tôn giáo Chính phủ để đưc phê duyệt, áp dng. Dự trù kinh phí hoạt động hằng năm của Học viện, xác đnh ngun kinh phí tự có và phần đề nghị Nhà nưc hỗ tr.
Ban Tôn giáo Chính phủ cần rà soát hồ sơ thành lập Học viện, đi chiếu vi quy đnh của pháp luật để bổ sung cho đy đủ; trưc mắt hưng dẫn Học viện xây dng quy chế hoạt động và quy chế tuyn sinh, thông qua Ban Tôn giáo Chính phủ để đưc chuẩn y và áp dng (theo Điều 13, Nghị đnh 22/2005/NĐ- CP, ngày 01/03/2005 của Chính phủ); tham mưu trình Chính phủ hỗ trợ kinh phí xây dng Học viện, kinh phí hoạt đng ca Hc viện.
Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ cần có ý kiến đề xuất với Trung ương tập trung chỉ đo giúp Giáo hội Pht giáo Việt Nam sm xây dựng hoàn thành Học viện, điu hành Học viện hoạt động tốt.
Thứ ba, về công tác hp tác quốc tế trong đào tạo tăng sĩ của Học viện Phật go Nam tông Khmer, quán triệt đưng lối đối ngoi của Đảng, Nhà nưc đã có sự quan tâm, tạo điu kin cho các hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chc tôn giáo, cá nhân chc sắc, nhà tu hành tôn giáo đưc diễn ra theo quy đnh của pháp luật. Đây là vấn đề ln và quan trọng trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nưc ta, phải đưc xem xét giải quyết

thỏa đáng trong điu kiện chính sách đối ngoại mở rộng và xu hưng toàn cu hóa./.
 

TÀI LIU THAM KHẢO

 
  1. Thích Đồng Bổn, Phong tục dân gian Nam Bộ và Phật giáo, Nxb. Văn hóa Sài Gòn, 2007.
  2. Nguyễn Mnh Cường, Vài nét về người Khmer Nam B, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.
  3. Phm Thị Phương Hạnh chủ biên, Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bn sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.
  4. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Nam Bộ: dân tộc và tôn giáo, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005.
  5. Trần Văn Tư, Đồng bằng sông Cửu Long trên đường phát triển tiềm năng và lợi thế, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây