30. ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG TRONG CÁCH ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ

Thứ bảy - 08/09/2018 19:16
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG TRONG CÁCH ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ của Nguyễn Trung Hiếu*
 
Dẫn nhp
Người Khmer ở Nam Bộ là tộc người có vai trò quan trọng trong việc hình thành nền văn hóa Việt Nam đa tộc người. Văn hóa của người Khmer ở Nam Bộ rất phong phú và đa dng, tạo thành đặc trưng khó nhầm lẫn, dù trải qua hơn 300 năm cộng cư với các tộc người khác.
So với nhiều nước có cùng văn hóa Phật giáo, màu sắc văn hóa Phật giáo của người Khmer ở Nam Bộ có nhiu nét khác biệt. Sự khác biệt này trở thành một đặc trưng riêng của Phật giáo trong cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ theo diễn trình phát triển của gia đình Phật giáo. Đặc trưngy được hình thành trên nhiều nguyên nhân, trong đó, có sự tác động của hoàn cảnh tự nhiên, quan trọng nhất là sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người, những hệ ý thức tương đng.
Nam Bộ là vùng đất đa tộc người và đa tôn giáo. Sự tồn tại của mỗi tôn giáo cũ và mới đều trải qua thời kỳ gay go và phức tạp. Tuy nhiên, ngoài sự phát triển ngoại vi của lịch sử, thì ở trung tâm của mỗi tôn giáo, mà Phật giáo Nam tông(1) của người



* Tp chí Văn hóa - Lịch sử An Giang.
1 Có nhiều tên gi khác nhau: Phật giáo Nam tông, Phật giáo Tiểu thừa, Phật giáo Nguyên thyNhưng, có ý kiến cho rằng, tên gi Phật giáo Theravada là
thích hợp nhất, là tên gi chung ca thế giới. Bài viết lẽ ra dùng tên gi Phật giáo Theravada, nhưng cng tôi lại dùng tên gi Phật giáo Nam tông cho trùng với tên gi mà Ban Tổ chức Hi thảo đưa ra, và cũng trùng với tên gi Nam tông vn đã từ lâu trở thành thói quen trong cng đồng người Khmer ở Nam Bộ. Về
 
Khmer ở Nam Bộ là mt điển hình, luôn nhập vào trạng cảnh hòa hợp, hòa bình giữa các tôn giáo. Mỗi tôn giáo đều có sự khác biệt lớn từ nội dung đến hình thức. Tuy nhiên, trong cùng một chỉnh thể dân tộc, mỗi tôn giáo ở Nam Bộ từ rất sm tạo được mt sự hợp thân và chung sống hòa bình cho đến ngày nay. Điều này, trong sự so sánh, đối chiếu, không hẳn ở nhiều quốc gia trên thế giới đạt được sự hợp nhất một tinh thần dân tc, mt tinh thần hợp dung tôn giáo như ở Nam Bộ.
Đi vi ngưi Khmer ở Nam Bộ, văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc đã sm nhập làm một, hình thc và nội dung nghi lễ vòng đi, văn hóa thờ cúng, cách ng x… chịu ảnh hưng mnh mẽ bi giáo lý Phật giáo. Chính vì Phật giáo có sự ảnh hưng như thế, nên trong quá trình cng cư vi các tộc ngưi khác, ngưi Khmer ở Nam Bộ không làm phai nhạt đi bản sắc văn hóa dân tộc - Pht giáo của mình. Ngưc lại cách sống, nghi lễ của htrở thành nép đẹp bí ẩn đối vi các tc ngưi khác.
  1. Lược sử về vùng đt và người Khmer ở Nam Bộ
 
Căn cứ vào sử liệu ghi chép lại, nhiều nhà nghiên cu trong và ngoài nước đều khng định, Nam Bộ ngày nay là vùng đất đã từng tồn tại một nền n minh từ rất sm. Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ VII, trên vùng đất Nam Bộ từng tồn tại mt nhà nước phong kiến Phù Nam với nền văn minh rc rỡ. Trong quá trình mrộng ảnh hưởng từ thế kIII đến thế kỷ VI, Phù Nam đã phát triển thành đế chế lớn mạnh thôn tính hơn 10 nước, mrộng lãnh thổ đến 5, 6 nghìn dm, bao gm các nước Đô Côn, Cửu Trì, Đốn Tốn, Xích Thổ, Bàn Bàn, Đan Đan… Nhng tiểu quốc này đều nm trên bán đảo Mã Lai và một phần vùng hạ lưu sông Mê

tính phù hợp ca các tên gi, xin xem thêm bài viết ca Hoang Phong, Vài nét đại cương về Pht giáo Theravada, http://thuvienhoasen.org.
 
Nam. Mức độ phụ thuộc của các tiểu quốc này không giống nhau, được gi là thuộc quốc, ki mi (ràng buộc lỏng lo) hoặc chi nhánh của Phù Nam. Đến thế kỷ thứ V, tiểu quốc của người Cát Miệt ở vùng Biển Hồ Tongle Sap cũng trở thành một thuộc quốc(1). Cát Miệt chính là phiên âm chữ Hán tộc danh Khmer. Trong nhiu thư tịch cổ, thuộc quốc này sau này có tên gọi là Chân Lạp (Tchenla).
Sau một thời kỳ phát trin rc r, đế chế Phù Nam bắt đu quá trình tan rã vào cuối thế kỷ VI. Chân Lp do ngưi Khmer xây dựng lúc by giờ ở vùng trung lưu sông Mê Kông và khu vực phía bắc Biển H, ly nông nghiệp là nghề sống chính, là mt thuộc quốc ca Phù Nam. Mặc dù là thuộc quốc của Phù Nam, nhưng Chân Lp đã nhanh chóng phát triển thành một vương quốc độc lập vào thế kỷ VI và nhân sự suy yếu của Phù Nam đã tấn công chiếm ly một phn lãnh thổ của đế chế này vào thế kỷ VII. Phần lãnh thổ đó tương ứng với vùng đất Nam Bộ của Việt Nam ngày nay(2).
Sau khi đánh bại vương quốc Phù Nam, sáp nhập vùng đất Nam Bộ vào lãnh thổ của mình, triu đình Chân Lạp thiết lập những bộ máy cai qun vùng đất này và thực hiện chính sách di dân trú ngụ. Nhưng trên thực tế, việc cai qun vùng lãnh thổ này đối với Chân Lạp gặp nhiều khó khăn. Trước hết, với truyền thống quen sinh sống các vùng đất cao, dân số còn ít i, ngưi Khmer khi đó khó có khả năng tổ chc khai thác trên quy mô lớn
mt vùng đồng bng mới bồi lấp(3).



 
  1. Hi Khoa hc Lch sViệt Nam, Lưc sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb. Thế giới, 2006, tr. 18.
  2. Hi Khoa hc Lch sViệt Nam, Lưc sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, sđd, tr. 19.
 
Sau một thời gian chiếm vùng đất Nam Bộ, việc thành lập bộ máy cai trị, di dân trú ngụ trên vùng đất mới của triều đình Chân Lạp không thu được kết quả. Do tập quán lao động sn xuất không thích hợp ở vùng trũng thấp, môi trường sng khó khăn, nên điều kin sống nơi đây không gichân được người Khmer Chân Lạp. Họ đã di cư lên những vùng đất đồi cao, núi non để sinh sống. Cho đến thế kỷ XIII, cư dân Khmer trên vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt. Chân Lạp phong thổ ký của Chu Đạt Quan, một sứ thần Trung Quốc đến Chân Lạp vào năm 1296 – 1297 đã miêu tả sự hoang vu của vùng đất Nam Bộ đương thời như sau: “Từ Chân Bồ (Bà Rịa - Vũng Tàu ny nay) trở đi, hầu hết là rng thấp cây rm. Sông dài cảng rộng, kéo dài my trăm dm cổ thụ rm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó. Đến na cng mới thy ruộng đồng rộng rãi, tuyt không có một tấc cây. Nhìn xa chỉ thy cây lúa rờn rờn mà thôi. Trâu rng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ họp ở
đy. Lại có giồng đất đầy tre dài dng dặc my tm dm…(1).

Vì vy, khi thôn tính Phù Nam từ thế kỷ VII trở đi, người Khmer Chân Lạp (nay là Campuchia) có mặt ở vùng đất Nam Bộ rất ít. Da vào nhiều tư liệu từ khảo cổ học, sử học, di vật… chúng tôi cho rằng, tổ tiên người Khmer ở Nam Bộ hiện nay là mt bộ phận người Khmer Chân Lạp di cư ở nhiều giai đon, di dân do thúc ép của triều đình, di dân tự nguyn do nhiều biến động lịch sử ở vùng đt Chân Lạp từ thế kVII đến thế kXIII. Tộc người này, trong quá trình đến trú ngụ ở Nam Bộ đã hp huyết với mt số ít cư dân Phù Nam còn lưu lại (Mã Lai - Đa Đảo). (Sau khi Phù Nam sụp đổ, cư dân Phù Nam có thể đã lưu vong qua nhiều quốc gia là thuộc quốc của Phù Nam trước đó
 
bằng con đường thương hải, có thể còn một bộ phận rất ít người Phù Nam ở lại). Qua nhiều thế k, với sức mnh của mình, người Khmer dn đồng hóa huyết thng tộc người Phù Nam. Có thể nói, tộc người Khmer ở Nam Bộ hiện nay là sản phm của sự hòa huyết giữa hai tộc người Khmer Chân Lạp và Phù Nam (!?).
Do nhiều yếu tố lịch sử, hiện nay, người Khmer định cư rải rác khắp vùng Nam Bộ: Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo số liệu thng kê của Pháp, năm 1862, toàn vùng Nam Bộ, người Khmer có khoảng 146.718 người(1); năm 1895 có khoảng 170.488(2); năm 1906 có 209.225 người, năm 1916 có
242.157 người(3); năm 1925 có 292.000 người, năm 1936 có
326.000 người, năm 1960 có 381.000 người và năm 1972 có
646.951 người, năm 1999 có trên 1 triệu người(4).

Người Khmer ở Nam Bộ phần lớn theo Phật giáo Nam tông. Phật giáo Nam tông ở ngưi Khmer Nam Bộ đưc chia làm hai hệ phái: phái Mahanikay, tồn tại từ thế kỷ XIII đến nay; và phái Thommayutt, đưc du nhập vào Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX, chủ yếu từ Campuchia. Theo thống kê của Lê Hương, năm 1969, toàn miền Nam Việt Nam có 482 ngôi chùa theo phái Mahanikay, 18 ngôi chùa theo phái Thommayutt; 7.750 vị sư sãi theo phái Mahanikay, 250 vị sư sãi theo phái Thommayutt(5).



1 Lê Hương, ngưi Việt gốc Miên, Sài Gòn, 1969 (không rõ nhà xuất bn), tr. 26. 2 Bộ Văn hóa Thông tin, VVăn hóa Dân tộc, Xây dựng đi sống văn hóa vùng n tộc Khmer Nam Bộ (Kỷ yếu Hi thảo khoa hc), Hà Ni, 2004, tr. 713.
  1. Đoàn Văn Nô, ngưi Khmer ở Kiên Giang, Nxb. Văn hóa Dân tộc, 2002, tr. 9.
  2. Bộ Văn hóa Thông tin, VVăn hóa Dân tộc, tlđd, tr. 713.
  3. Lê Hương, Ngưi Việt gốc Mn, sđd, tr. 170.
 
  1. Quá trình hình thành Phật giáo Nam tông trong cng đng người Khmer ở Nam Bộ
Căn cứ vào lịch sử nước Phù Nam và nước Chân Lạp, thì người Khmer có mặt ở vùng đất Nam Bộ vào thế kỷ VII. Tuy nhiên, con đường du nhập Phật giáo Nam tông vào cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ phải diễn ra sau đó rất lâu, và gắn lin với tiến trình lịch sử nước Chân Lạp.
Từ thế kỷ VII, với sức mạnh quân sự, Chân Lạp nhiều lần đánh chiếm Thái Lan đmrộng vùng thổ ca mình. Sau hai thế kỷ đô hộ Thái Lan (XI-XII), đến “thế kỷ XIII, các đạo quân Mông Cổ tràn vào tàn phá Thái Lan và đánh bại người Khmer. Dân chúng tháo chy nhưng đồng thời hcũng thóat được ách đô hộ của người Khmer. Sau đó họ tập họp lại và thành lập hai vương quốc là Chiangmai và Sukhothai. Vương quốc Sukhothai chịu ảnh hưởng của các nhà sư Miến Đin nên ngả theo Phật giáo Theravada. Vua Rama Kamheng (trị vì: 1281-1318) cũng theo Phật giáo Theravada và đã hết lòng qung bá giáo lý trong
Tam Tạng Kinh”(1).

Sau khi Thái Lan giành được độc lập vào thế kỷ XIII, Chân Lạp dần bị suy yếu, cng với việc triều đình cho xây dựng nhiu đền đài phục vụ cho tôn giáo đẳng cấp và tôn thờ hình tượng vua Jayavarman VII khiến người dân càng thêm bất mãn. Thời gian này, song song với Phật giáo Mahayana (Pht giáo Đại thừa) thì Phật giáo Theravada cũng đã âm thm tồn tại trong lòng dân chúng Chân Lp, “lý do là vì có nhiều nhà sư Miến Điện thường xuyên thay nhau đến Chân Lạp thuyết giảng(2). Do vy, từ thế




1 Hoang Phong, Lịch sphát triển ca Phật giáo Theravada, bđd.
 
kỷ XIII, Phật giáo Theravada và Phật giáo Mahayana đã tồn tại song song trong dân chúng Chân Lạp.
Vào đầu thế kXIV, vương quốc Ayutthaya của Thái Lan bất thần kéo quân đánh chiếm Angkor của vương quốc Chân Lạp và gây ra loạn lạc khắp nơi, trong lúc vương quốc này đang phi đối đầu với một tình trạng căng thẳng trong dân chúng: bất công xã hội gia tăng, thuế khóa nặng nề vì phải bảo trì các công trình kiến trúc khổng lồ nhằm để tôn thmột vị vua thiêng liêng. Biến cố trên đây khiến dân chúng quay lưng lại với Phật giáo Đại thừa và đổ xô theo Phật giáo Theravada, vì cho rng hệ phái Phật giáo này bình đẳng hơn. Vua Indravarman III (trị vì: 1295-1308) vì thế cũng phải ngả theo Phật giáo Theravada và tuyên bố Phật
giáo này là quốc giáo(1).

Trước nhiu biến lon trên vùng đất Chân Lp, nhất là các thế kỷ XII-XIV, người Khmer ở Chân Lạp di cư xuống vùng đất Nam Bộ sinh sống ny nhiều hơn. Họ qun cư với một nhóm người đồng tộc đnh cư từ trước đó (từ thế kVII và những lần di cư rải rác sau đó). Qua những đợt di cư, liên hệ qua li giữa hai nhóm người trước đó và nhóm người di cư từ các thế kỷ XII- XIV, Phật giáo Nam tông dần được truyền bá vào Nam Bộ, được người Khmer ở đây tiếp nhận, thay thế Phật giáo Mahayana và Bà La Môn giáo tồn ti từ trước đó. Do đó, dựa vào những biến cố lịch sử ở Chân Lạp, và sự liên hệ qua lại giữa hai đồng tộc này, những người Khmer Chân Lạp qua quá trình di cư tìm nơi đất mới ổn định sinh sống, đã đem Phật giáo Theravada truyn bá rộng rãi vào Nam Bộ, đồng tộc của họ đã tiếp nhận và lưu truyền rộng rãi trong tc người.
 
Căn cứ vào thời gian Phật giáo Nam tông hình thành và phát triển ở Chân Lạp (thế kỷ XIII) và thời gian xây dựng các ngôi chùa của người Khmer ở Nam Bộ thì, Phật giáo Nam tông được hình thành ở Nam Bộ vào khong thế kXIII là có cơ sở. Chùa Xăngkhat Mencol (Vũng Liêm, Vĩnh Long) được xây dựng năm 1339; chùa Ông Mẹt (Trà Vinh) xây dựng năm 1349,… Qua đó, có thể khẳng định, Phật giáo Nam tông tồn tại ở Nam Bộ trước khi những ngôi chùa ngày xuất hiện từ nửa thế k.
Theo Nguyễn Xuân Nghĩa, những tư liu khảo cổ học cho thy, từ thế kỷ VI đến thế kXVIII, vùng phía nam Trà Vinh, mt trong những đim tụ cư lâu đời và đông đảo nhất của người Khmer là một trong các trung tâm Phật giáo lớn thời by gi. Sự tập trung các bức tượng cổ nơi đây khiến ta suy nghĩ Pht giáo đã du nhập vào vùng Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu bằng đường bin mà các ca sông Cổ Chiên, Định An, Trần Đề là những đường thâm nhập thuận lợi nhất. Đồng thời, trong số 13 tượng Phật cđược tìm thy nơi đây có 4 tượng liên hệ đến Lokecvara (Bồ tát Đại thừa). Như vy đã có thời gian Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa đã cùng tồn tại. Song từ thế kỷ XIII trở đi, ảnh hưởng đến cách ứng xử của đồng bào Khmer trong mi mặt của đời sống hàng ngày rõ ràng là Phật giáo Tiểu
thừa(1).

Nhiều cứ liệu lịch sử cho thy, Phật giáo Nam tông có mặt ở vùng đất Nam Bộ vào thế kỷ XIII qua con đường di dân của người Khmer Chân Lạp xuống đnh cư ở Nam Bộ.



1 Nguyn Xuân Nghĩa, Phật giáo Tiểu thừa Khmer Nam Bộ ở vùng nông thôn Đng bng sông Cu Long: Chức năng xã hi truyền thống và động thái xã hi”, trong: Xây dựng đi sống văn a vùng n tc Khmer Nam B, (Kỷ yếu Hi thảo khoa hc), Hà Ni, 2004, tr. 623-624.
 
  1. Ảnh hưng của Phật giáo Nam tông trong cách ứng xử của người Khmer ở Nam Bộ
    1. Ứng xử vi môi trường tự nhiên

Giáo lý Phật giáo, giai thoại về cuộc đời của Đc Phật ăn sâu vào tâm thức người Khmer ở Nam Bộ, nên trong quá trình sinh sống lâu đi ở vùng đất này, người Khmer có nhiều cách ứng xử hài hòa thiên nhiên. Bất cứ cộng đồng cư dân nào, sinh sống trong môi trường tự nhiên, hữu thức hay vô thức, sẽ tận dụng và cải tạo thiên nhiên, làm biến đổi thiên nhiên để sống. Tuy nhiên, sinh sống ở vùng đt Nam Bộ hàng ngàn m, ngưi Khmer tác động một cách nhẹ nhàng và hài hòa với thiên nhiên - dung dưỡng thiên nhiên, dù chấp nhận cho mình cuộc sống khó khăn. Như vy, có mt nim tin, mt tư tưng, một triết lý nào đã đó chi phối tâm lý của họ trong cách ứng xử này. Đó là Phật giáo, điều mà các tc người khác, thụ nhn các tôn giáo khác không thực hiện được tinh thần hài hòa với thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên như ngưi Khmer ở Nam B.
Tư tưởng Phật giáo Nam tông là hài hòa thiên nhiên, yêu thiên nhiên qua hình nh nhập thân, tu trong rng của Đc Phật lúc còn tại thế. Trong kinh sách Phật giáo, Cảnh hoang dã của núi rng và sự vắng lng của thiên nhiên luôn tỏa rộng và bàng bạc trong kinh sách và trên khắp nẻo đường hoằng Pháp của Đc Phật. Kinh sách cũng kể lại rằng, hai đệ tử thân cận của Ngài là Ma-ha Ca-diếp (Mahakassapa) và Kiều Trần Như (Annakondanna) rất yêu thiên nhiên và đã trải qua hầu hết cuộc
đời mình trong những nơi hoang dã(1). Thm nhuần những Phật
thoại y, nên người Khmer ở Nam Bộ ứng xử với thiên nhiên nhẹ nhàng, con người sống hài hòa, dung dưỡng thiên nhiên, dù

1 Hoang Phong, Vài nét đại cương về Phật giáo Theravada, bđd.
 
thiên nhiên có gây tác hại đến cộng đồng. Gần một ngàn năm sinh sng ở địa hình đi núi và giồng đất cao với nguồn lợi thiên nhiên lâm sản, thy sn… phong phú và đa dạng, thiên nhiên ở những vùng này vẫn được gìn giữ gần như nguyên vẹn. Sự tận dụng thiên nhiên chỉ vừa đủ để phục vụ cuộc sống. Từ quan nim Phật giáo dy con người yêu thiên nhiên, hài hòa với thiên nhiên, kết hợp với quan nim sống thiên về tinh thần, coi thường vật chất, nên người Khmer ở Nam Bộ chỉ làm vừa đủ ăn, đủ cúng dường cho sư sãi và phục vụ nhà chùa là được. Vì vy, họ không có ý nghĩ bức phá thiên nhiên để phục vụ cho mục đích m giàu.
Bức phá thiên nhiên đồng nghĩa với đi ngưc lại tư tưởng của Phật pháp. Vì thiên nhiên là trung tâm cảnh của con đường hoằng pháp tu hành ca Đc Pht và sư sãi. Vì vy, họ có nim tin rằng, bức phá thiên nhiên là bức phá cảnh thanh tịnh tu tập của Phật, vi phm vào giới luật. Đây lý do gii thích vì sao, sống hàng trăm năm ở vùng đất Nam Bộ đất đai màu mỡ, tài nguyên thy hải sản phong phú, lâm sản dồi dào, mà người Khmer vẫn nghèo. Họ không phi không biết tận dụng, khai thác thiên nhiên, mà vì trong quan nim của họ không có tư tưởng tàn phá thiên nhiên để làm giàu. Họ không cần tư duy ra những công cụ nhm mục đích khai thác tối đa nơi họ đang sống.
Đề cập đến điều này, có quan đim cho rằng, sở dĩ người Khmer ở Nam Bộ không có khả năng khai phá thiên nhiên để phục vụ nhu cầu cuộc sống là vì công cụ, kỹ thuật sản xuất của họ thời by giờ còn lc hậu. Tuy nhiên, theo chúng tôi, kỹ thuật và công cụ có thể lạc hậu đối với những công trình kiến trúc đồ sộ, chứ không bao giờ lạc hậu đối với việc khai phá thiên nhiên. Bởi vì, khi một bộ phận người Khmer Chân Lạp đến đây sinh
 
sống từ thế kỷ VII, họ đã thừa hưng đưc dụng cụ kim khí sản xuất của người Phù Nam trước đó. Khi những nhóm người di cư tiếp theo đến Nam Bộ trong các thế kỷ XII-XIV, thì thời gian này, kỹ thuật, công cụ xây dựng và khai phá thiên nhiên của người Chân Lạp đến mức đã trở thành đỉnh cao. Thế kỷ XII, họ đã có đy đủ kỹ thuật, công cụ tạo nên nhng công trình kiến trúc đồ sộ như Angkor và Bayon, thì vic vn dụng kỹ thuật và công cụ sản xuất, khai phá thiên nhiên đi vi họ không có gì là khó.
Trong quan nim của người Khmer, thiên nhiên có linh hồn, do các thần ngự trị. Điều này thể hiện qua các câu ca dao, tục ngữ, sự tích nói về sự tồn tại của các thần; qua những nghi lễ cúng các thần. Từ quan nim này, kết hợp với tinh thần yêu thiên nhiên, xem thiên nhiên là nơi tốt nhất để tnh tu, do đó, trong đi sống lao đng sản xut hằng ngày, người Khmer đều cầu cúng thiên nhiên. Các lễ hi liên quan đến thiên nhiên còn tồn tại đến ngày nay thể hiện rõ tinh thần tôn trọng thiên nhiên theo tư tưởng Phật giáo của người Khmer ở Nam Bộ. Nhng lễ hội như: Lễ Ok Om (Ang) Bok, Lễ cầu mưa, Lễ cúng sân lúa, Lễ vun núi
a1, Hội đua Bò(2)… thể hiện sự tôn trọng thiên nhiên, tin tưởng
vào thiên nhiên, mong thiên nhiên giúp con người thuận lợi trong cuộc sống và lao động sản xuất. Nhng lễ hội này đều diễn ra theo mô típ hình ảnh Chùa – (kinh) Phật – Sư sãi. Từ những lễ hội, chúng ta nhận ra rằng, quan nim của người Khmer ở Nam Bộ đối với thiên nhiên là có linh hồn theo quan nim linh hồn,

 
  1. Xin xem: Đoàn Văn Nô, ngưi Khmer ở Kiên Giang, Nxb. Văn hóa Dân tộc, 2002, tr.65-66
  2. Xin xem: Liêu Ngc Ân, Hi đua Bò By Núi: giá trlịch sử và văn hóa, http://www.baocantho.com.vn; Kyếu Hi thảo Khoa hc Hi đua Bò Bảy Núi - An Giang, tổ chức tại Châu Đc, 2011.
 
chuyển kiếp của Phật giáo Nam tông. Vì vy, phải sống chan hòa với thiên nhiên, ly thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu sống ở mức độ vừa đủ với nhu cầu; thừa thãi, hoang phí sẽ phm tội. Chính từ ý thức tôn trọng thiên nhiên được hình thành tư tưởng Phật giáo đã làm cho ngưi Khmer ở Nam Bộ tôn thờ thiên nhiên trong hàng trăm năm sinh sống ở vùng đất trù phú.
    1. Ứng xử vi môi trường xã hi

Nam Bộ là một vùng đất đa tôn giáo và đa tộc người. Nhưng hàng trăm năm nay, Nam Bộ chưa từng xy ra xung đột tôn giáo và tộc người. Người Khmer ở Nam Bộ sống trong dòng chy cộng cư hòa bình y. Điều gì làm nên lối sống hòa cư của người Khmer Nam Bộ? Điều gì làm cho Phật giáo Nam tông sống hòa hợp giữa lòng dân tộc và các tôn giáo khác, điều mà ở mt số nước có ng văn hóa Phật giáo như Thái Lan, Myanmar,… không có được?
Từ khi người Kinh, người Hoa, người Chăm đến Nam Bộ sinh sống thì, trong tâm lý của các tộc ngưi này đều cho rằng, người Khmer ở Nam Bộ có lối sống khép kín, bí ẩn, tách biệt vi các cư dân khác; định cư ở những nơi rng núi, cánh đồng hoang vắng, quần tụ vào nhau thành phum, sóc rt chặt chẽ… Thm chí, người Khmer ở Nam Bộ bị khinh thường và đố kị về văn hóa. Giải thích nét bí ẩn, khép kín, tách biệt này, nhiều ý kiến cho rằng, đây là biểu hiện tàn tích của cư dân vùng núi, do tập quán dân tộc. Nhưng cách giải thích này vẫn chưa thuyết phục, bởi lẽ, chẳng phải mọi tập quán dân tộc đều có thể thay đổi theo thời gian; và phi chăng mọi cư dân vùng núi đều có lối sống khép kín. Ở đây, theo chúng tôi, cách sống khép kín với các cư tộc khác của người Khmer chu ảnh hưởng sâu đậm bi tư tưởng Phật giáo. Chính ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo, nên cách sống
 
của người Khmer tuy biệt lập, khép kín nhưng không khó hòa hợp giữa các dân tộc, mà trái li, nếu có quá trình giao lưu tốt đẹp giữa các tộc người thì người Khmer dễ dàng chấp nhn. Bởi vì, chính trong tâm thức của họ, mi người đu là chính mình, và giúp người, yêu thương, hòa hợp với mọi người là một tinh thần quý báu của Phật pháp.
Vì vy, sở dĩ người Khmer sống biệt lập, ở những nơi núi xa, rng sâu, đồng hoang, quần cư chặt chẽ thành phum, sóc là do ảnh hưởng bởi tư tưởng Phật giáo Nam tông. Tinh thần Phật giáo tác động đến ý thức định cư, tu tập của Phật t, vì người Khmer ở Nam Bộ đều mang một nim tin bất diệt vào Đc Phật: “Này các bạn, hãy tìm nơi hoang vu, sống ở những nơi hoang dã, trong một túp lều tranh giữa rng. Đy là cách khuyến khích họ, khích lệ họ nhm giúp họ tự cô lập thân xác mình”, (theo bản
dịch tiếng Anh của Thinassaro Bhikkhu)(1). “Này người bạn tu
hành, hãy đến đây và tìm nơi trú ngụ trong một cánh rng, dưới gốc cây, bên triền núi, nơi hang động, trong bãi tha ma, một góc rng thâm u, giữa đồng trống hay bên cạnh mt ụ rơm” (theo bn dịch tiếng Anh của I.B. Horner)(2).
Là người con Phật, thừa hành mọi giáo thuyết của Phật, người Khmer sinh sống ở những nơi hoang vu như thể tịnh tâm tu tập; thực hành theo hình ảnh Đc Phật rời bỏ những nơi đô thị phồn hoa, dấn thân vào rng núi hoang vu để tu nghim. Đây được xem như một cách thức thực hiện giáo lý, giữ mình khỏi những ảnh hưởng trưc muôn thứ tạp lai của các tôn giáo, văn hóa của cư dân khác. Đây cũng là một cách ứng xử xã hội mang tính tích cc, tự bảo vệ mình bng cách ẩn tránh đồng nghĩa với
  1. Hoàng Phong, Vài nét đi cương về Phật giáo Theravada, bđd.
  2. Hoàng Phong, Vài nét đi cương về Phật giáo Theravada, bđd.
 
không tác đng và làm tổn hại đến lợi ích của người khác, các cư dân khác.
Bình thường cách sống, cách định cư biệt lập này mang bản chất phòng vệ mnh mẽ, chống lại tất cả sự xâm nhập của kẻ lạ; dễ dàng xy ra xung đột dân tộc nếu có cư dân nào đó đến sinh sống. Vấn đề này đã từng diễn ra trên thế giới, ở nhiu cư dân khác trên vùng núi Tây Nguyên, Tây Bắc của Việt Nam. Đi vi người Khmer ở Nam Bộ, trên tinh thần Phật giáo, lối sống tách biệt này không mang bản chất chống lại c thế lực khác, tộc người khác trong quá trình cư trú, mà họ luôn mvà dễ chp nhận cái lạ; sẵn sàng giúp đỡ những người ngoại tộc, vì bản cht của lối sống khép kín này vốn mang phm chất tu tịnh của Pht giáo – nhận thức ra chân lý sống cao thượng, như tính bình đẳng của Phật giáo. Tính mở và chấp nhận cái l được thể hiện rõ qua từng giai đoạn lịch sử ở vùng đất Nam Bộ khi các tôn giáo ngoại du nhập vào nơi đây và các tôn giáo nội sinh hình thành. Chứng minh điều này qua cng đồng người Khmer ở An Giang. An Giang là nơi người Khmer sinh sống từ rất sm. Sự có mặt của người Việt, người Chăm từ các thế kỷ XVI-XVII và các tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, hiện tượng các Ông Đạo cuối thế kỷ XIX,... nhưng ngưi Khmer vẫn tụ cư hòa bình, các tôn giáo vẫn phát trin, người theo đạo, người không theo đạo vn an nhiên tồn tại, cùng làm ăn sinh sống. Vì vy, cách sống ẩn nơi hoang vắng của người Khmer không bị phá vỡ. Nhiều cư tộc, nhiều tôn giáo cùng sinh sống và cùng phát triển đến ngày nay.
Thực tế lịch sử chng minh tính ổn định  giữa các tộc người, các tôn giáo ở Nam Bộ, nên có ý kiến cho rằng: … lòng hiếu thảo vi bố mẹ và kính trọng tổ tiên là hai yếu tố chính ca
 
tôn giáo này (Bu Sơn Kỳ Hương). Cả hai yếu tố này đều đin hình trong văn hóa Việt hơn là văn hóa Khmer(1), và “Cuối cùng, tôn giáo này (Bu Sơn Kỳ Hương) ủng hộ lòng trung thành vi đất nước và nhớ ơn nhng ngưi đồng x, nhng quan đim chắc chắn gây ra và làm tăng thêm nhng căng thẳng dân tộc”(2)có sai lm chăng? Quan điểm như thế tác giả đã gián tiếp khẳng đnh rng, trong văn hóa ngưi Khmer không tồn tại giá trị lòng hiếu thảo vi bmẹ và kính trọng tổ tiên, không có lòng trung thành vi đất nưc và nhớ ơn nhng ngưi đồng x. Vy điều tác giả nhận ra ở ngưi Khmer Nam Blà giá trị gì? Tác giả có nhận thy tư tưng Phật giáo Nam tông tn tại trong hệ ý thc ngưi Khmer ở Nam Bộ? Theo chúng tôi, chính vì nhng yếu tố đồng điu sâu sắc gia Tứ Đại Trọng Ân của Bu Sơn K
Hương trong lòng ngưi Việt và tinh thần Phật giáo Nam tông mà ngưi Khmer đang thụ hưng, nên gia hai cư tộc, gia hai tôn giáo này mi cùng chung sống hòa bình, hòa quyện sâu đm đến này nay. Do vy, không có lý do gì khi cho rằng “lòng hiếu thảo vi bố mvà kính trọng tổ tiên là hai yếu tố chính… điển hình trong văn hóa Việt hơn là văn hóa Khmer” và “lòng trung thành vi đất nước và nhớ ơn nhng ngưi đồng xmà gây “căng thẳng dân tộc” đưc?
Lối ứng xử hiếu hòa của người Khmer có từ trong tư tưởng Phật giáo. Họ đã thm nhuần từ những nghi lễ đầu tiên ca cuộc đời, từ trong những âm vang tụng kinh nơi chùa, đến khi lớn lên vào chùa tu. Lối ứng xử cộng đồng này làm nên sự hòa hợp dân tộc, hòa hợp tôn giáo giữa người Khmer với các tộc người khác trên vùng đất Nam B. Đây là đặc trưng rng mà một số nước
  1. PGS.TS. Choi Byung Wook, Vùng đt Nam Bộ dưi triều Minh Mạng (nhóm dịch: Lê Thùy Linh), Nxb. Thế giới, 2011, tr. 251.
  2. PGS.TS. Choi Byung Wook, Vùng đất Nam Bộ dưi triều Minh Mạng, sđd, tr. 251.
 
Đông Nam Á có cùng văn hóa Phật giáo như Campuchia, Myanmar, Thái Lan,… không có được. Ở những nước này, mối xung đt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác hoặc ngược lại thường xuyên xy ra, thm chí có những cuộc xung đột hết sức mãnh liệt.
Trong lối ứng xử gia các phum, sóc  với nhau, người Khmer ở Nam Bộ luôn thể hiện trên tinh thần giáo lý Phật giáo. Mỗi người Khmer ở Nam Bộ đều cho mình là con Phật nên xem mi người như người trong nhà. Mọi người sống trong phum, sóc, giữa các phum, c đều thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Tính cộng đồng, tính chặt chẽ của những người Khmer trong phum, sóc xuất phát từ tư tưởng đều là người mt nhà. Tính cộng đồng, sự đồng nhất mạnh mẽ tạo nên sự tách bit lớn với môi trưng bên ngoài, ngược lại, cũng chính từ lối tách biệt lớn này đã làm cho tính cộng đồng, tính đồng nht trong phum sóc càng phát triển mạnh hơn theo thời gian.
Lối ứng xử cá nhân với cộng đồng (trong và ngoài tc người) của người Khmer ở Nam Bộ cũng chịu sự tác động từ giáo lý Phật giáo. Trong giới luật Phật giáo, từ những giới cơ bản đến gii nghiêm ngặt của từng bậc tu như Sa di, Tkheo hay Phật tử đều phải thực hiện, ví dụ: không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, v.v...(1) giúp con người nhận thức về chân – thin
m, sống tốt đẹp hơn với bản thân, gia đình và xã hội. Nhng buổi sinh hoạt lễ hội ở chùa tạo nên tính cố kết cộng đng mnh mẽ, con người bỏ qua tất cả những him khích lẫn nhau để lòng nhẹ nhàng hơn khi đến Phật đài cầu phước cho cá nhân, gia đình và xã hội.



1 Lê Hương, Ngưi Việt gốc Mn, sđd, tr.140-150.
 
    1. Ứng xử vi thế giới tâm linh

Người Khmer ở Nam Bộ sống nghiêng về đời sng tinh thần, sống chủ yếu cho kiếp sau là chính. Do đó, cách ứng xử của họ với thế gii tâm linh vô cùng thực tế và chân thành, mang đặc trưng tính cách văn hóa tộc người về quan nim sống cao thượng, về một đức tin siêu việt vào hình tưng Đc Phật, về cõi Niết Bàn.  Nim  tihọ  đặt nơi tâm  linh không bao  giờ lay chuyển.
Bởi quan nim sng cho kiếp sau, nên người Khmer ng xử với chùa, Phật, sư sãi mang nim tin yêu đc biệt, không toan tính. Pht, chùa là tất cả trong cuộc sống ca họ. Họ dùng tiền kiếm được chi tiêu trong gia đình rất ít mà dùng phần lớn cúng vào việc xây dựng chùa, các hoạt đng trong chùa. Sau khi lo việc cưới xin cho con xong, họ đem một phn lớn tài sản cúng
vào chùa làm phúc để tích đức cho kiếp sau(1), mặc dù đời sng
thực tại của họ đang cc khổ và nghèo túng. Ngày nay, đến những vùng đồng bào Khmer ở Nam Bộ, chúng ta luôn bắt gặp hình ảnh ngôi chùa lúc nào cũng được xây ct uy nghi, lộng ly, trong khi đó, ngôi nhà của bà con lụp sụp, nhỏ bé, vật chất đơn sơ. Quan nim sống, ứng xử không tính toán với thế giới tâm linh được xem là một đặc trưng quan trọng để nhận diện tính cách, văn hóa trong niềm tin tôn giáo của người Khmer ở Nam Bộ.
Sống thiêng về thế gii tâm linh, nên luật tục quy định con trai lớn lên phải vào chùa tu được người Khmer thực hiện nghiêm ngặt (ngày nay đã gim đi nhiều). Người con trai nào mt lần trong đời phải vào chùa tu. Mặc dù luật tục đã ít nhiu

1 Bộ Văn hóa Thông tin, VVăn hóa Dân tc, Xây dng đi sống văn hóa vùng dân tc Khmer Nam B(Kyếu Hi thảo khoa hc), Hà Ni, 2004, tr.586.
 
tác động đến đời sng sản xuất của người Khmer, nhiều gia đình không có lực lưng lao động để cải thiện cuộc sống, lại phải thường xuyên đem vật chất, tiền của ra cúng dường cho chùa, sư sãi, làm cho cuộc sống ngày càng nghèo thêm, vy mà họ vẫn vui, đến ngày lễ hội vẫn vui vẻ dâng cúng chùa những gì gia đình có. Bởi lẽ đơn giản, họ cho rằng, được vào chùa tu, cúng dường, đi lễ chùa là mt nim vinh hạnh lớn lao, là người có phúc đức, cho nên sự vất vả, khó khăn trong cuộc sống không còn quan trọng nữa. Đây là nguyên nhân căn cốt làm cho cuộc sống ngưi Khmer còn nhiều khó khăn.
Trước khi tiếp nhận tư tưởng Pht giáo Nam tông, người Khmer ở Nam Bộ chịu nh hưởng sâu đm văn hóa Bà La Môn giáo. Trong quá trình lựa chọn Phật giáo Nam tông từ thế kỷ XIII, người Khmer ở Nam Bộ vẫn giữ lại văn hóa Bà La Môn giáo. Nói cách khác, từ thế kỷ XIII đến nay, văn hóa Phật giáo Nam tông và văn hóa Bà La Môn giáo tồn ti song song trong đời sống văn hóa của người Khmer ở Nam Bộ. Thm chí, hai nền văn hóa này đan cài vào nhau chặt chẽ. Yếu tố văn hóa này là cơ sở bổ trợ cho yếu tố văn hóa kia và ngược lại. Điển hình là cách trang trí các hình tượng trong và ngoài chùa, va có văn hóa Bà La Môn giáo vừa có văn hóa Phật giáo. Các tác phm văn học dân gian đu pha màu sắc Bà La Môn giáo và Phật giáo. Các lễ hội Bà La Môn giáo nhưng lại diễn ra ở chùa, hòa nhập với Phật giáo. Trong cách thờ cúng cũng đan xen giữa Bà La n giáo và Phật giáo. Đó là tinh thần vị tha, bình đẳng của Pht giáo như chính bản thân Đc Phật đã sinh ra và lớn lên, tu tập giữa các dòng văn hóa khác nhau.
Do cách sống nghiêng về tinh thần, nên người Khmer dễ dàng dung nạp nhiều hình thức thờ cúng khác nhau; xem mọi tôn
 
giáo đều quan trọng, đều có giá trị dẫn dắt con người về thế gii bên kia. Tính dung hợp này của người Khmer ở Nam Bộ thể hiện cách ứng xử công bằng với thế giới tâm linh. Nguồn gốc của tư tưởng công bằng này xuất phát từ tư tưởng bình đẳng của Phật giáo Nam tông. Chính tư tưởng bình đẳng, mà trong đi sống tâm linh và đời sống xã hội, người Khmer ổn định tư tưởng của mình, không gạt bỏ bất cứ văn hóa nào đã tồn tại trong tâm thức của họ. Nói cách khác, tư tưởng công bằng của Phật giáo Nam tông đã duy trì được mi giá trị tinh thần của người Khmer tồn tại từ trước đó. Cũng chính tính bình đẳng gián tiếp giúp cho Phật giáo Nam tông tồn tại vững bền cho đến ngày nay trong cộng đng người Khmer ở Nam Bộ, giữa lúc tộc người này đang hội nhập và chịu ảnh hưởng đa tôn giáo của các tộc người khác.
Hiện nay, một số nơi như vùng By Núi ở An Giang, cách ứng xử bình đẳng với các tôn giáo của người Khmer được thể hiện rõ nét. Ngoài thờ Đc Phật Thích Ca, người Khmer nơi đây còn thờ Phật A Di Đà, có gia đình thờ các Ông Đạo, thờ giáo chủ của Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa; tham gia lễ hội của các tôn giáo khác nhm đáp ứng nhu cu tinh thần của họ, cho kiếp sau.
Văn hóa ứng xử bình đẳng với thế gii tâm linh của người Khmer ở Nam Bộ là một đặc trưng riêng. Bởi rất nhiều nước có tôn giáo lớn trên thế giới nói chung, các quc gia có cùng văn hóa Phật giáo Nam tông nói riêng, sự bình đẳng chưa hẳn đã tồn tại; sự tranh giành tôn giáo, phân biệt đẳng cấp trong tôn giáo luôn diễn ra; gắn liền với sự phân biệt đẳng cấp này là xung đột tôn giáo, xung đột tộc người. Vì vy, có thể nói, tính bình đẳng của Phật giáo Nam tông được người Khmer ở Nam Bộ thực hiện

góp phần quan trọng trong việc vun đp tính bình đẳng tôn giáo, hòa bình tôn giáo và dân tộc ở Việt Nam.

Kết luận

Ở vùng đất đa tôn giáo và đa dân tộc, trong quá trình cộng cư, người Khmer ở Nam Bộ đã hình thành cho mình một phong cách sống, một nét văn hóa ứng xử rất độc đáo. Cách ứng xử này thể hiện tính hòa hợp dân tộc và tinh thn tôn giáo. Điu này góp phần quan trng tạo nên lối sống vì đo, vì đời trong bi cảnh hòa hợp dân tộc, hòa hợp tôn giáo từ xưa đến nay. Tinh thần tôn giáo đến tinh thần thực hành tôn giáo là mt hệ ý thức sống quan trọng của người Khmer ở Nam Bộ, cần được giữ gìn và phát huy trong thi đại ngày nay, khi mà tôn giáo dần có khuynh hướng bị thế tục hóa, làm mất đi những giá trị bản thể của tôn giáo và dân tộc. Quan trọng hơn, quá trình thế tục hóa này làm phát sinh mâu thuẫn hệ ý thức tôn giáo, mâu thuẫn dân tộc. Vì vy, vic tạo ra môi trường, gìn giữ môi trường tôn giáo, gìn giữ đặc trưng ứng xử của người Khmer ở Nam Bộ là hết sức quan trọng, ngăn chặn lại sự tan chy của hệ ý thức thế tục hóa vào tôn giáo, mt trong những nguyên nhân dẫn đến mt đi bản thể giá trị của tôn giáo và gây mất đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc./.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây