26. VAI TRÒ PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ

Thứ bảy - 08/09/2018 19:01
VAI TRÒ PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ của ThS. Nguyễn Duy Đoài*
 
 

 

  1. Đặt vn đề

Phật giáo Nam tông có những đóng góp tích cc vào đời sống tinh thần của người Khmer ở Nam Bộ. Phật giáo Nam tông tác động vào nền tảng đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của người Khmer, được đng bào vận dụng vào cuộc sống một cách hài hòa và nhun nhuyn thông qua giáo lý của Đc Phật như Tam quy, Ngũ gii, Giới - Định - Tuệ, Bi - Trí - Dũng…, nhm hoàn thiện nhân cách đạo đức để góp phn vào việc xây dựng mt gia đình an vui hạnh phúc, một cộng đồng an lạc, một li sống có văn hóa để duy trì đời sống tâm linh của bản thân. Đó cũng chính là cầu nối trong sự giao lưu tiếp xúc văn hóa – tôn giáo của các dân tộc ở Nam Bộ. Vì vy, vic vận dụng giáo lý của nhà Phật vào cuc sống nhm đem lại lợi lạc cho bản thân và mi người. Điu này cũng được xem là một cảnh gii của hòa bình, tự do đích thực. Trong lịch sử Phật giáo có nhiều hạnh tu, nhiều pháp môn khác nhau, nhưng không mt hạnh tu, không mt pháp môn nào thóat ra khỏi giáo lý của Giới – Định – Tuệ. Bởi Gii – Định – Tuệ có trong Tam vô lu học, giúp cư dân Khmer vượt ra khỏi sự trói buộc của mọi phiền não trong cuộc sống hiện tại để có thể hoàn toàn tự tại đến được bờ giác ngộ, chng nhập quả vị để giải thóat hoàn toàn.






* Khoa Việt Nam hc, Trưng Đại hc Khoa hc Xã hi và Nhân văn, Đại hc Quc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
 
Phật giáo du nhập vào Việt Nam thế kỷ đu Công nguyên(1), ngoài Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Nam tông có hai nhánh chính là Phật giáo Nam tông Khmer và Phật Giáo Nam tông Kinh, cả hai chủ yếu thịnh hành ở Nam Bộ và Trung Bộ. Phật giáo Nam tông được truyn vào Việt Nam theo con đường của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ đi theo đường biển đến Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan tới vùng sông Mê Kông (Campuchia) và vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, được đông đảo người dân đón nhận, đặc biệt là trở thành
tôn  giáo  của  người  Khmer,  nên  gọi  là  Phật  giáo  Nam tông Khmer(2).

Phật giáo Nam tông đã có mặt ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ khoảng thế kỷ IV. Đến thế kỷ XIX, đại bộ phận các phum sóc của người Khmer đu có chùa thờ Phật. Tính đến tháng 6/2010, Pht giáo Nam tông Khmer đã có 452 ngôi chùa với 8.574 vị sư (=19,3% tổng số sư trong cả nước), tập trung chủ yếu ở 9 tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long là Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc
Trăng, Cà Mau(3).

Theo số liệu thống kê cuộc tổng điu tra dân số năm 2009, ngưi Khmer ở Việt Nam có 1.260.640 ngưi, chủ yếu sống tập trung ở Nam B(4). Có thể nói, Nam Bộ là mt vùng đa văn hóa
  1.  
  1. Nguyn Lang (1997), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn hc.
  2. Thạch Voi (1993), Phong tc tp quán ca ngưi Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Văn hóa Dân tộc, tr. 58.
  3. Dẫn theo Minh Nga, Gii thiệu sơ lược về Phật giáo Nam tông Khmer, Ban Tôn giáo Chính ph.
  4. Sóc Tng (397.014 người, chiếm 30,7 % dân số toàn tnh), Trà Vinh (317.203 người, chiếm 31,6% dân stoàn tnh), Kiên Giang (210.899 người, chiếm 12,5%
dân số toàn tnh), An Giang (90.271 người), Bạc Liêu (70.667 người), Cà Mau (29.845 người), Thành phố Hồ Chí Minh (24.268 người), Vĩnh Long  (21.820 người), Cn Thơ (21.414 người), Hậu Giang (21.169 người), Bình Phước (15.578 người), Bình Dương (15.435 người).
 
về tôn giáo, phong tc, tập quán,… cho nên đi sống tinh thần của cộng đng các dân tộc trong quá trình cng cư và phát triển kinh tế - xã hội đã có những mối quan hmật thiết, hài hòa cùng nhau trên nhiều lĩnh vc. Chính điu đó đã làm nên nhng nét đặc trưng riêng trong văn hóa tinh thần của ngưi dân Nam Bộ nói chung và ngưi Khmer nói riêng, bi họ là tộc người cư trú lâu đi nhất trên mảnh đất này trưc khi ngưi Việt và ngưi Hoa đến sinh sống. Hiện nay, ngưi Khmer ở Nam Bộ sống chủ yếu bằng nghề nông mang tính đc canh, ngoài ra còn có nhng hoạt động kinh tế như chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp.
  1. Phật giáo Nam tông trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ

Đi vi người Khmer, ngôi chùa là nơi sinh hoạt cộng đồng, cũng là nơi thể hiện tâm tư tình cm của mình. Bi ngưi Khmer nào từ khi sinh ra cho đến lúc mất đi đều dành trọn đi mình để gắn bó vi ngôi chùa. Ngôi chùa là trung tâm văn hóa của cộng đồng, nó như là một thiết chế truyền thống của ngưi Khmer trong cơ cấu tổ chc tự quản của cộng đồng phum sóc dưi sự hưng dẫn ca các vị trụ trì, sư sãi ở chùa. Họ là nhng ngưi gần gũi vi các tín đồ nên hiểu đưc tâm tư tình cảm, cũng như đi sống văn hóa tinh thần của Phật tử Khmer. Ngôi chùa đã trở thành nơi sinh hoạt tôn giáo của bà con Khmer trong phum sóc, họ đến đó để gặp gỡ và trao đổi học hỏi gia đo -
đi(1). Giáo lý của Đc Phật được ngưi Khmer ở Nam Bộ ly
làm cơ sở để vận dụng vào đi sống tinh thần cũng như trong nhng thiết chế văn hóa của cộng đồng. Ngoài ra, tín đồ ngưi Khmer ở Nam Bộ thưng đến chùa để trau dồi giáo lý Phật Đà


1  Trnh Thanh Hà (2002), Pht giáo Theravada trong đi sống văn a tinh thn ca cng đồng ngưi Khmer Nam Btỉnh c Trăng, tr. 39.
 
thông qua việc nghe các sư thuyết giảng, thc hành nghi lễ để trải nghim nhng hành vi trong cuộc sống vi mục đích nâng cao tâm hồn, trí hucủa mình ngày càng tốt đẹp hơn. Htự ý thc việc học giáo lý cũng như vic đến chùa đthọ gii vào nhng ngày sóc vng, đó chính là sự đóng góp cho cộng đng trong vấn đề nhân sinh quan, thế gii quan. Vi tinh thn vô ngã, vị tha, họ luôn đồng cm, chia sẻ vi nhng ngưi cùng hoàn cảnh hay không cùng hoàn cảnh.

Bên cạnh đó, họ còn tham gia vào nhng khóa tu học nhm học hỏi, trau dồi trí tuệ để rồi nhận thc về giá trị y và vn dụng trong cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Nhng giá trị đó đưc thể hiện thông qua tinh thần tự giác, tự nguyn của Gii - Đnh - Tuệ, theo tinh thần từ bi, hỷ xả, vị tha để tự chng chính mình. Vì Phật giáo là đo ca từ bi nên có giá trị thiết thc trong cuộc sống, mang lại sự cân bằng trong xã hội. Đó chính là tinh thần “tùy duyên bất biến, bt biến tùy duyên” để đem lại cuộc sống an lạc hạnh phúc cho con ngưi. Điều này đã đóng góp tích cc nhm làm phong phú thêm bn sắc văn hóa của cng đồng Khmer nói chung và văn hóa tinh thần của người Khmer nói riêng trong suốt chiều dài lch s.

Theo Nguyn Đăng Duy, “tư tưởng ca Phật giáo yêu hòa bình bác ái, làm phước, ở thiện, chịu đựng gian khổ về vật chất, sung sướng được cống hiến nhiều cho chùa là phương châm sống trong mọi sinh hoạt đời và đo của tất cả cộng đồng người Khmer”(1). Với tinh thn đó, mỗi người Khmer theo Phật giáo Nam tông phi thực hành giáo lý của Đc Pht theo lý tưởng của mình và phải làm những việc thiện tránh những việc làm bất thiện. Chính mình phi thực hiện giáo lý bằng cách vn mng



1 Nguyn Đăng Duy, 1997: Văn a tâm linh Nam B, NXB Hà Nội, tr 182.
 
của Pht giáo nm ở khả năng nm giữ và nhng nn tng đo đc phi áp dụng cng một cách đúng đn đngười học Pht đi vào thc hành”. Bởi Phật giáo là một đạo thực nghim, chứ không phải chiêm ngưỡng!(1), nên Phật giáo Nam tông không những nh hưởng trong tinh thần, đạo đức, lối sống của người Khmer mà còn thể hiện sự hòa nhập vào một cộng đồng, tức là từ giáo lý của Phật đem áp dụng vào đời sống hiện tại trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

Phật giáo Nam tông luôn hưng dẫn ngưi Khmer ở Nam Bộ vận dụng giáo lý để tu học và thc hành theo chánh truyền của Đc Phật, giúp họ bỏ nhng tp tục lc hu, mê tín, đơn giản hóa trong cách thphụng và nghi lễ. Chính nhng đặc thù sinh hoạt của Phật giáo Nam tông y đã thu hút nhiều ngưi Khmer ở Nam B.

Tín đồ Phật giáo trưc hết phải thọ Tam quy, Ngũ gii, tu theo thập thiện hạnh, tc là phải quy y Phật, Pháp, Tăng và giữ gii đã phát nguyện, mở rộng lòng thương tôn trọng sự sng, trau dồi trí huệ, tôn trng sự thật, trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ li nói đến vic làm, sống hỷ xả để dũng tiến trên đưng đạo để có nếp sống an vui, có được hạnh phúc chân tht. Phật tử Khmer phải thc hiện nhng điều Đc Pht dy trong kinh tạng như Kinh Thiện Sanh thì có trách nhim và bổn phận đối vi gia đình, gia tộc, cộng đồng, xã hội, nhưng vẫn biết hưng đến chánh pháp, biết thờ Phật, kính Pháp, trng Tăng, và hành trì theo giáo lý như Ngũ gii, Thp  thiện gii, Thập  nhị nhân duyên, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Duyên khi,… để tu học theo





1 Tp bài giảng ca Giảng viên Thích LTh, Hc viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 2013.
 
con đưng Gii - Đnh - Tuệ(1). Vì vy, ngưi Khmer phải học tập giáo lý của Đc Phật Thích Ca để có thể đạt tới trí huệ hoàn hảo, phải sống theo tinh thần từ bi và trí huPhật giáo (2) để thể tri ngộ trong cuộc sống đi thưng. Đó cnh là mc đích cao quý của lý tưng Phật giáo đưc vận dụng vào nếp sống nhm phát huy giáo lý của Đc Phật vào trong đi sống thc tại để có mt cuộc sống an bình và hạnh phúc.

Cách đây hơn 2.600 năm, Đc Phật đã đưa ra ngũ gii để cho các hàng đệ tử phng hành nhng y giáo của ngài, và từ xưa đến nay đã đưc tín đồ ngưi Khmer vận dụng vào đi sống tinh thần vi nhng chuẩn mc đo đc và nhân cách sống của mình. Năm gii của Phật go mang một ý nghĩa thù thắng đến vi mọi ngưi nhm đem lại sự cân bằng trong sinh hoạt để tạo nên một nếp sống trật tự an bình trong cộng đồng. Trong Kinh Di giáo, Đc Phật dy: “Chế tâm nhất xứ vô sự bất biện”. Khi tâm đưc chế đnh vào mt chỗ thì trí tuệ đưc khai thông, con ngưi sẽ nhận đưc giá trị trong cuộc sống. Đó chính là con đưng trung đạo của tam vô lậu: Gii – Ðnh – Tuệ. Bi, ngưi không sát sanh, hại vật là để kng tạo ra sự hận thù, để có một cuộc sống trong tương lai an vui, hạnh phúc, nhng ai không sát sanh thì có mt cuc sống an vui ttại. Lời dy đó đã góp phần tích cc trong việc giáo dục ngưi Khmer sống có nhân cách, giàu lòng nhân ái, tôn trọng sự sng của mọi loài và vạn vật, bi nhân cách
  1. Giới – Ðnh – Tuệ là nếp sng đạo hnh và trí tuệ được tập trung và đề cao trong Kinh Pp Cú, mt nếp sống hưng thưng mang li hnh pc cho bản thân mình và cho ngưi khác. Giới – Ðnh – Tuệ là đạo hnh ca cả người xuất gia ln người tại gia, http://www.tangthuphathoc.net
  2. Thugm: - Văn hu: Là phương pháp tu tập trí tuda vàosnghe hoặc trực tiếp nghiên cu, đọc tng giáo mà lãnh hi ý nghĩa phát sanh trí tuệ. - Tư huệ: Là trí
tuệ có được nhvào tư duy, xét đoán, trm tư vnhng lời dy ca Đức Phật mà khai sáng thêm trí tuệ. - Tu hu: Là tuphát sanh nhtu tập hành trì thông qua thin đnh, thnghim và thnhập được sthật ca các pháp. Chính nhờ tu humà có chánh trí, chng ngộ Niết Bàn tối thượng. Chính trí tunày thâm nhập tự tại vô ngã.
 
là cách đối xử trong con ngưi đi vi gia đình cũng như ngoài xã hội. Đó là một phương tiện để khai mở trí tuệ của con ngưi, giúp con ngưi biết đưc tưng đích thc của vạn pháp mà đem lại nhng giá trị của chân, thiện, m. Nó cũng là phương tiện để đánh thc Phật tánh vốn có ở trong mình để sau này đi vào sự con đưng giác ngộ, giải thóat.

Phật giáo Khmer không tách khỏi cuộc đi, bi đạo và đi là nhất thể, đem đến an lạc, hạnh phúc cho con ngưi trong kiếp sống hiện tại và tương lai. Từ nhng li dy của Đc Phật mà ngưi Khmer Nam Bluôn phấn đấu tự rèn luyn trí tuệ, trau di đc hạnh, thông qua nhng hành vi ng xử hay nhng cử chỉ của mình trong cuộc sống. Muốn cho tâm của mình đưc an vui thì đng để cho tâm tham, sân, si chi phối, nó sẽ làm cho tâm trí phiền não. Vì vy, trong cuộc sống hằng ngày, ngưi Khmer luôn gọt dũa cho tâm mình trong sạch, tnh thc để kim soát hành vi của mình.

Hơn thế na, Ðc Phật còn khuyên nên trau dồi chánh tư duy vô ngã, lòng từ và vô hại; tu tập chánh ngữ là từ bỏ li dối trá, độc ác; thc hành chánh nghiệp là từ bỏ sự sát sanh, trộm cưp dù trc tiếp hay gián tiếp, và chánh mng là tạo ra tài sản của cải một cách hp pháp, không bóc lột, đúng đạo lý. Vì vy, cách ứng xử trong cuộc sống của Phật giáo cũng đã góp phần trong quá trình giáo dc trong sự cạnh tranh lành mnh, làm giàu chính đáng bằng sức lao động của mình. Không tham lam bằng sức lao động của người khác, không cnh tranh bất chính bằng những thủ đoạn thâm độc. Trong Tam quy, Ngũ giới, Đc Phật khuyên không được nói dối cũng nhm hoàn thiện nhân cách, giáo dục con người biết tôn trọng sự tht, giữ chữ tín nhm mc đích xây dựng mối quan hệ với mọi ngưi; không trm cắp cũng
 
chính là muốn con người hoàn thin nhân cách, hành vi của mình. Đc Phật đã đưa ra giới luật này nhm khuyên mọi người cần tôn trọng tài sn của người khác, chính là giáo dục lòng tự trọng để phát triển nhân cách. Nó cha đng một luân lý đạo đc, chan cha lòng từ bao la và tinh thần phng sự vô ngã nhm mang lại sự bình đẳng cho mọi ngưi.

Vì vy, ngưi Khmer luôn mang lòng từ bi đến vi tất cả chúng sanh mà không hề có ý nim phân biệt nào cả. Chính lòng từ bi là nn tảng tạo ra tình thân ái gia con ngưi vi con ngưi, gia cộng đồng này vi cộng đồng khác và mọi loài chúng sanh. Đc Phật khuyên mọi ngưi tìm cu chân lý không nên tin vào quyền năng mà hãy thc nghim bằng trí tuệ và tự mình xem xét điều đó. Vì lẽ đó mà Phật giáo ra đi để thể hiện nim thương cảm, bằng tình thương, lòng từ bi và tuệ giác nên vẫn đang phn thnh và stiếp tục trưng tồn trên thế gian này. Ngưi Khmer luôn hành thiện, mở rộng lòng từ bi để tình yêu thương đó đến vi muôn loài mà không phân biệt không gian và thi gian sinh sống. Tình yêu đó không chthể hiện qua li nói, qua hành động mà còn thể hiện qua việc thiện nhm đem lại lợi lạc cho con ngưi, cho chúng sanh. Bằng nhng hành động cụ thể, thiết thc nhm giúp đỡ ngưi khác hay mọi loài dù vt chất hay tinh thần. Khi ngưi Khmer có tâm từ bi thì sẽ cm nhận đưc cuộc sống tự chủ, linh hoạt, sáng suốt, có sc mạnh cm hóa đến vạn vt, như Hòa thưng Thích Thanh Từ đã nói: “Từ bi như dòng suối mát lành để cho mọi ngưi tm gội khi não phiền nóng bc, từ bi cũng ví như bình nưc cam lồ mát mẻ, ngọt ngào, cu nguy cho
nhng ngưi đang bị la sân si thiêu đốt cháy cổ”(1). Nhng ai



1  Nguyn Sinh Kế, Triết lý nhân sinh Phật giáo vi đời sng tinh thần ca con người Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Chính tr, s4/2009, tr. 38.
 
biết sống thiện, hành thiện thì mới có thể mở rộng lòng từ bi để yêu thương đến tất cả mi ngưi, mọi loài. Đó cũng chính là đc hiếu sinh trong cuộc sống con ngưi cn biết yêu thương, tôn trọng bảo vệ ssống của muôn loài, vạn vật. Với tinh thần Từ bi và Trí tuệ trong toàn bộ hệ thống giáo lý kinh điển thì người giữ giới được an lc và giải thóat là nhờ trí tuệ và mang đến cho muôn loài, vạn vật. Niềm tin yêu hạnh phúc đó là từ bi. Chính điều này là nền tảng cơ bản để mang lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống. Đó cũng chính là tinh thần Tự giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn để nâng cao phẩm cht của sự sống, đem lại cho mình và cho mọi loài, mi vật an lạc. Điều đó cũng bắt nguồn từ thân, khẩu, ý của mình.

Trong gia đình, mọi thành viên mà trên thuận dưi hòa thì đưc xem như là một gia đình hạnh phúc, biết thương yêu nhau, đùm bọc che chở nhau trong cuộc sống. Vì ni Khmer luôn tin vào luật nhân qu, nên trong cuộc sống hằng ngày, họ phải m nhng việc thiện để tích đc và học giáo lý cũng như tụng nim mi ngày để sau này đưc giải thóat. Ngưi Khmer nhận thc đưc rằng, khi sng mà làm nhng việc ác do không hành theo chánh pháp thì khi chết phải đu thai vào kiếp ngạ qu, súc sanh. Bi nghiệp lc mà con ngưi gây ra nên phải luân hn, nghiệp báo.
Hơn thế na, ngưi Khmer luôn thể hiện chữ hiếu đối vi ông bà, cha mẹ. Bi bất hiếu với ông bà, cha mẹ là tội lỗi ln nhất của đi ngưi, còn đối vi vợ con thì phải dưng dục, bảo che để có một mái m gia đình hạnh phúc. Vì vy, để gia đình có cuộc sống lành mạnh, tín đồ Khmer đã thực hiện nhng li Pht dy. Chính gia đình là si dây ràng buộc để mi thành viên yêu thương nhau, hòa quyn vào nhau. Theo tinh thần đó mà ngưi
 
Khmer luôn có ý thc và trách nhim của mình như bổn phận đối vi sư, ông bà, cha m,.. Bi thể hiện lòng hiếu thảo vi ông bà, cha mtc là thể hiện mình là ngưi con Phật, cho nên ta thưng nói “tâm hiếu tc là tâm Phật, hạnh hiếu tc là hạnh Phật”. Điu này không chỉ thể hiện lúc ông bà, cha mẹ còn hiện tiền mà còn thể hiện khi qua đi. Khi trong gia đình có ngưi thân qua đi thì trong thi gian đó sẽ có ngưi thân trong gia đình sẽ xuất gia theo nhân duyên, hạnh nguyện của mình có thể là một tháng hay vài năm. Đó là sthể hiện tinh thần hiếu hạnh của con cháu mong ngưi quá cđưc vãng sanh lạc quốc, hay khi cha mẹ còn hiện tiền thì “như Phật còn tại thế”. Đó là sự tương quan hòa hp để mọi ngưi trong gia đình và cộng đồng gắn kết vi nhau.
Đi vi vợ chồng thì phải hiểu nhau, thông cảm cho nhau chính là bí quyết để dẫn đến tình yêu thương trong huyết thống nhm xây dng gia đình hạnh phúc, như li Phật dy: “Khi cả hai vợ chồng muốn thy mặt nhau trong nhng đời sau na, cả hai cùng có nim tin, cùng giữ gii, cùng bố thí, cùng tu tập trí tuệ thì trong đi hiện ti đưc thy mặt nhau và trong các đi sau các ngưi cũng thy mặt nhau(1).
Mt gia đình muốn hnh phúc thì phải bắt nguồn từ tình yêu thương để tình yêu y bao phủ lên tất cmọi chúng sanh. Vy, để có tình yêu thương trong gia đình vi ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái thì mọi thành viên trong gia đình phải có trách nhim, bổn phận để to nên quan hệ gắn bó mật thiết, đó là mối quan hệ gia ông bà – cha m, vợ - chng, cha mẹ - con cái. Phận làm con luôn nhớ đến công ơn sinh thành dưng dục của cha mẹ, giữ gìn truyền thống của gia đình,... Do đó, thấm nhuần


1  Qung Tánh biên son, Lời Phật dạy trong kinh tạng Nikaya, Nxb. Tng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2011.
 
tư tưng Phật giáo, ni Khmer luôn chăm sóc, phng dưng cha mẹ. Đó là một trong nhng bài học đầu tiên của ngưi Khmer trong cuộc hành trình để đi tìm sự khai thông trí tuệ. Từ đó, tinh thần “tri ân và báo ân” đối vi công ơn sinh thành dưng dục của phụ mẫu, cũng như tinh thần tứ ân để gắn liền trong truyền thống đạo lý tốt đẹp của ngưi Khmer ở Nam Bộ vi dân tộc cũng thm nhuần trong tinh thn truyền thống văn hóa m linh của dân tộc Khmer từ xưa. Cho nên ngưi Khmer ở Nam Bộ, khi chào đời đưc xem là tín đPhật giáo trong khuôn khổ gia đình vì khi đứa trẻ ra đi thì gia đình và cộng đồng đã tổ chc các nghi lPht giáo. Ln lên thì đưc gia đình, cộng đồng trong phum sóc và sư sãi giáo dục theo tinh thần Phật giáo. Đc biệt là đến tuổi trưng thành thì hu như ni con trai Khmer nào cũng vào chùa để tu học giáo lý một vài tháng hay một vài năm để sau này ra đi thì vận dụng giáo lý y vào đi sng theo tinh thần Phật giáo, ng như tích phưc cho bản thân cũng như trả ơn hiếu nghĩa cho cha mẹ, dòng họ. Vì vy, mỗi tháng, ngưi Khmer thưng đến chùa vào các ngày 5, 8, 15, 20, 23, 30 âm lch để dự kinh như kinh cu an, cầu siêu,…
Tín đồ ngưi Khmer sống trong tinh thần từ bi, hỷ xả vi các mối liện hệ của con ngưi, xã hội, nên họ luôn sống trong tinh thần lục hòa(1) của Phật giáo. Đó là sáu yếu tố đem lại an vui, đem lại hạnh phúc cho mọi gia đình. Nếu mọi người đều có tình thương như nhau, chia sẻ cm thông cho nhau và tha thcho nhau thì thế giới này sẽ là thiên đường đang hiện hữu. Hơn thế nữa, người Khmer thực hiện hạnh bố thí là nguồn lực để đưa họ đến sự giải thóat. Hnh bố thí này đưc ngưi Khmer nhn thc
rằng đó là yếu tố tác thành thiện nghiệp và phưc báu qua việc

1 Lục hòa gm: thân hòa đng trú, khẩu hòa vô tranh, ý hòa đng diệt, giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải, li hòa đồng huân.
 
bố thí vi lòng trắc n như thương cm nhng ngưi cô đơn, tàn tật, khó khăn,.. hay bố thí vi thái độ tín tâm để mong thọ phúc như là như là cúng dưng đến nhng bậc tu sĩ có gii hạnh và thy tổ vào dp lễ Dolta, mùa an cư kiết hạ,…
Đó cũng chính là mục đích để phát trin bồ đề tâm bi bố thí đưc xem là phương tiện đế đối trị tính tham ái và đưc thc hành để tránh khổ đau ở đi sau. Ngưi Khmer cũng suy nghĩ rằng thc hiện hạnh bố thí này sẽ đưc nhiu người yêu thương và quý trọng và sau này sẽ được sanh vào cõi tri. Đó cũng chính là sự thể hiện tinh thần của cộng đồng ngưi Khmer đã vận dụng và thc hành theo tinh thần chánh pháp, theo giới luật của nhà Pht.
Trong quá trình hội nhập, phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, nhng giá trị đạo đc lối sống đang phải đương đầu, tìm cách giải quyết, đó chính là những vấn đề mà xã hội ngày càng quan tâm hơn. Nhưng những giá trị của giáo lý Phật Đà luôn là nim tin, là chỗ da tinh thần của tín đồ Khmer. Nó đã đóng góp một vai trò quan trọng trong đi sống tinh thần của ngưi Khmer ở Nam Bộ để hình thành nên hệ giá trị nhân văn u sắc trong lòng dân tộc.
Cho nên, Phật giáo Nam tông Khmer luôn thể hiện tinh thần nhập thế nhm đáp ng mọi chúng sanh trong mọi hoàn cảnh, để dễ dàng tiếp cận mà học hỏi và vn dụng giáo lý của Đc Phật vào đi sống hằng ngày. Đó cũng là sự gắn kết tinh thần Phật giáo vi dân tộc và nhân loại trong sự phát triển trong quá khứ - hiện tại - tương lai. Phật giáo Nam tông Khmer đã góp phần tích cc trong vic giáo dục đạo đc và lối sống cho ngưi Khmer. Điều đó cũng chính là nhng chuẩn mc giá trị truyền thống ca dân tộc Khmer ở Nam Bộ. Có thể nói, Phật giáo Nam
 
tông là một di sản đạo đc vô cùng quan trng vi tinh thần yêu nưc, ý thc cộng đồng,… nên luôn thể hiện tính hiếu đạo, tính trung thc và đy nghĩa tình.
  1. Kết lun
    1. Einstein đã nói: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu đưc vi các nhu cầu của khoa hc hiện đại thì đó là Phật giáo… cây cầu Phật giáo đã kích thích con ngưi khám phá nhng tim năng ln lao nm sâu kính trong chính con ngưi và trong môi trưng sống chung quanh. Phật giáo vưt thi gian và mãi mãi
có giá tr(1). Có thể nói, Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong
đạo đc lối sống ca xã hội nói chung, vi người Khmer nói riêng; trở thành đim ta vng chắc trong đi sống tinh thần của tín đồ Khmer nhm góp phần đưa con ngưi đến vi nhng giá trị chân thin m.


TÀI LIỆU THAM KHO:
  1. Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Phật học tinh hoa, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1999.
  2. Nguyễn Đăng Duy, n hóa tâm linh Nam Bộ, Nxb. Hà Ni, 1997.
  3. Trnh Thanh Hà, Phật giáo Theravada trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Khmer Nam Btỉnh Sóc Trăng, Lun văn Thc sĩ, Trưng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.






1 Trần Hng Ln, Tìm hiểu chc năng xã hi ca Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, tr. 82.
 
  1. Nguyễn Sinh Kế, “Triết lý nhân sinh Phật giáo vi đi sống tinh thần của con ngưi Việt Nam”, Tp chí Khoa học Chính trị, số 4/2009.
  2. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn hc, 1997.
  3. Trần Hồng Liên, Tìm hiểu chức năng xã hội của Pht giáo Việt Nam, Nxb. Tổng hp Thành phố Hồ Chí Minh, 2010.
  4. Quảng Tánh biên son, Lời Phật dạy trong kinh tạng Nikaya, Nxb. Tổng hp Thành phố Hồ Chí Minh, 2011.
  5. Tập bài giảng của Ging viên Thích Lệ Thọ, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tnh phố Hồ Chí Minh, năm 2013.
  6. Minh Nga, Gii thiu sơ lưc vPhật giáo Nam ng Khmer, Ban n go Chính ph.
  7. Thạch Voi, Phong tục tập quán của người Khmer vùng Đng bằng sông Cửu Long, Nxb. Văn hóa Dân tộc, 1993.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây