25. PHẬT GIÁO NAM TÔNG VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY

Thứ bảy - 08/09/2018 18:58
PHẬT GIÁO NAM TÔNG VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY của Nguyễn Tiến Dũng*
 
 

 

Phật giáo Nam tông là mt trong nhng đặc trưng làm nên bản sắc của văn hóa ngưi Khmer ở Nam Bộ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng hiện nay, li ích từ đó mang lại đã phát triển, làm thay đổi cả bộ mặt kinh tế xã hội của thế gii. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập văn hóa, Phật giáo Nam tông của ngưi Khmer đã chịu nhng tác động ảnh hưng không ít. Bài viết này cố gắng làm rõ vai trò của Phật giáo Nam tông đi vi ngưi Khmer trong truyền thống để có thể nhận diện nhng tác động hiện nay nhm định hướng cho việc củng cố vị thế của Phật giáo Nam tông vi bản sắc văn hóa ca ngưi Khmer ở Nam Bộ trong thi kỳ hội nhập hiện nay.
  1. Người Khmer hin nay và người Khmer là tín đồ Phật giáo

Theo Tổng cục Thống kê năm 2009, ngưi Khmer ở Việt Nam có dân số là 1.260.640 người, tập trung sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ cụ thể : Sóc Trăng (397.014 ngưi, chiếm 30,7 % dân số toàn tnh và 31,5 % tổng số ngưi Khmer tại Việt Nam), Trà Vinh (317.203 ngưi, chiếm 31,6 % dân số toàn tỉnh và 25,2 % tổng số ngưi Khmer tại Việt Nam), Kiên Giang (210.899 ngưi, chiếm 12,5 % dân stoàn tnh và 16,7 % tổng số ngưi Khmer tại Việt Nam), An Giang (90.271 ngưi), Bc Liêu (70.667 ngưi), Cà Mau (29.845 ngưi), thành phố Hồ Chí


* Trường Đại hc Trà Vinh.
 
Minh  (24.268  ngưi),  Vĩnh  Long  (21.820  người),  Cần  Thơ
(21.414 ngưi), Hậu Giang (21.169 ngưi), Bình Phưc (15.578 ngưi), Bình Dương (15.435 ngưi).

Theo thống kê của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc tnh Trà Vinh năm 2010 trên toàn Nam Bộ có 171.621 hộ theo Phật giáo Nam tông; số lưng ở các tnh cụ thể như sau: Trà Vinh có
57.235 hộ, Sóc Trăng có 59.252 hộ, An Giang có 12.885 hộ, Kiên Giang có 24.761 hộ, Bạc Liêu có 6.520 hộ, Cà Mau có 1.630 h, Vĩnh Long có 3.252 hộ, Cần Thơ có 4.693, thành phố Hồ Chí Minh có 510 hộ,…

Theo Nguyễn Mạnh Cưng trong Pht giáo Khmer Nam Bộ: những vấn đề nhìn lại, thì ở Đồng bằng sông Cu Long có 434 chùa Khmer chiếm 3% trên tổng số ngôi chùa Phật giáo trong cả nưc 14.012. Trong khi đó tlệ dân số Khmer là 1,3 triệu ngưi chỉ chiếm 1,3% so vi dân số cả nước là 80 triệu ngưi(1); số lượng Phật tử ngưi Khmer có 986.831, có 8361 vị sư trong số 1.039.832 ngưi(2).

Ngưi Khmer ở Nam Bộ hầu hết theo Phật giáo Nam tông, duy chỉ có một bộ phn nhỏ theo Công giáo,Tin Lành và một số tôn giáo khác. Bộ phn nhỏ này do một số yếu tố khách quan như sống xa nơi cư trú truyền thống (phum, sróc), xa chùa hoặc vì một sự him khích nào đó mà tbPht giáo Nam tông như mâu thuẫn vi con sóc hoặc là sự lôi kéo của các tôn giáo khác ở vùng đồng bào Khmer, chyếu diễn ra ở các huyện gần biên gii



 
  1.  
  1. Nguyn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam B(nhng vấn đnhìn li), Nxb. Tôn go, tr. 63-64.
  2. Nguyn Mạnh Cường, 2008, Phật giáo Khmer Nam B(nhng vn đnhìn li), sđd, tr. 215.
 
Campuchia như: Tri Tôn, Tnh Biên của An Giang; trong thi gian gần đây ở Trà Vinh cũng xuất hiện tại huyn Trà Cú.
  1. Vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Nam Bộ

Vai trò của Pht giáo Nam tông trong đi sng văn hóa tinh thần của ngưi Khmer ở Nam Bộ đưc thể hiện chyếu và tập trung thông qua vai trò của ngôi chùa và gii sư sãi dân tộc.
    1. Vai trò ca chùa Khmer ở Nam Bộ

- Chùa là nơi truyền thụ Phật pháp: Đối với người Khmer, ngôi chùa từ lâu đã trở thành nơi tu học, rèn luyện nhân phm cho con em và Phật ttrong phum, sróc. Theo phong tục, các chàng trai Khmer khi đến tuổi trưởng thành phải xuất gia đi tu học trong một khoảng thời gian nhất đnh, theo các cấp bậc khác nhau; bậc Sa di bao gm những người từ 12 tuổi(1), đến dưới 20 tuổi phải thọ 105 giới; bậc Tkheo bao gm những người từ 20
tuổi trở lên thọ 227 gii, thời gian tu học dài hay ngắn là tùy vào căn duyên của mỗi người.

Trong thời gian tu hc, các vị sư sẽ được học chữ nghĩa, học giáo lý, hc kinh Phật và thực hiện các giới luật theo quy định. Đây chính là môi trường tt rèn luyện đạo hạnh và tri thức cho người xut gia.


Trong suy nghĩ của người Khmer, nhà có con trai mà không xuất gia là người có lỗi với dòng h, có lỗi với những đấng sinh thành. Cho nên khi kén rể, cha mcô dâu thường chọn những người đã hoàn thành Pht sự, và tin rằng, những người này đã có hiểu biết, được rèn giũa nhân phm và thấu hiểu kinh

1 Theo quan nim ca Phật tử Khmer, nhng đứa trẻ nào có thđui chim le le đều được xuất gia.
 
kệ, khi lập gia đình sẽ biết yêu vợ thương con, hòa đồng với m giềng trong phum, sróc.
  • Chùa là trung tâm văn hóa của đồng bào Phật t: Trong mi phum, sróc của người Khmer đều có mt hoặc hai ngôi chùa. Điều này là tùy vào các điều kiện: kinh tế; số lượng tín đồ và ranh giới giữa các phum, sróc. Theo kết quả khảo sát thực tế trên địa bàn các tnh thành Nam Bộ tmật độ đồng bào Khmer tập trung đông và có số lượng chùa cao là: Trà Vinh với 141 ngôi chùa, Sóc Trăng với 90 ngôi chùa, Kiên Giang với 72 ngôi
chùa, An Giang vi 64 ngôi chùa, Bạc Liêu với 22 ngôi chùa(1).
Dù tập trung với số lượng nhiều hay ít thì tt cả các ngôi chùa đều có vai trò chủ chốt là trung tâm văn hóa và là nơi tụ họp trong các ngày lễ ln của người Khmer như: Chol Chnam Thmay, Sel Đôlta, Dâng y,
  • Chùa là nơi dạy ngôn ngữ dân tộc: Từ trong truyền thống, việc dy và học chữ Khmer cho con em đng bào Khmer đu diễn ra tại chùa. Hin có 448 chùa trong tổng số các ngôi chùa Nam Bộ đều mở các lp dành riêng cho vic học tiếng Khmer và chữ Pali. Ngoài việc dạy chữ Khmer và chữ Pali cho các vị sư sãi đang tu học, còn nhằm mục đích giúp họ đọc được kinh kệ và nâng cao hiu biết về văn hóa của dân tộc. Bên cạnh đó, nhà chùa còn mở thêm các lớp dy chữ dành cho các bạn học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường trung học phổ thông và trường đại học, cao đẳng đóng trên địa bàn khi có nhu cầu.
 
  • Chùa là nơi dy ngh: Truyền thống tu học của nam thanh niên Khmer và theo chương trình học tập của nhà chùa mi tăng sĩ đang tu học ngoài việc học ch, học kinh Phật, khất

1 Hi Đoàn kết Sư sãi (2010), Danh sách ca ở Nam B
 
thực còn thực hiện các công việc khác như y cất Chánh điện, Sala, điêu khc,… Dĩ nhiên trong quá trình y dựng này không thể thiếu đội ngũ các nghệ nhân chuyên nghip, nhưng phần lớn trực tiếp do tăng sĩ và đồng bào Phật tử trong phum, sróc thực hiện. Trong quá trình xây cất, các nhà sư được học hỏi và luyện tập để nm bắt các kĩ thuật trong việc xây dựng; đó là tiền đề, là điều kiện thuận lợi giúp các tăng sĩ sau khi hoàn tục về gia đình có trình độ tay nghề để tạo dựng tương lai, góp phần bảo tồn văn hóa và xây dựng phum, sróc giàu đẹp.

- Chùa là trung tâm thông tin truyền thông ca phum, sróc: Hiện nay ở các chùa đu có phòng đọc sách, phòng văn hóa. Bên cạnh việc trang bị sách báo, tài liu tham kho bằng chữ dân tộc để phục vụ cho việc m hiểu, nâng cao kiến thc. Đặc bit là sự phối hp của nhà chùa và Nhà nưc trong vic nâng cao sự hiểu biết của nhân dân vpháp luật, khoa học, kthuật, kế hoạch hóa gia đình,… Tại thành phố Sóc Trăng, sự phối hp gia nhà chùa và Nhà nưc trong vic thành lập thư viện phưng tại các chùa điển hình như: chùa Som Rông phưng 5, thành phố Sóc Trăng, tnh Sóc Trăng.
    1. Vai trò ca sư sãi trong cộng đồng ngưi Khmer

Trong chùa, sư sãi là ngưi có vai trò đặc biệt, va là đại diện cho Đc Phật để chng giám nhng hành động, lòng thành kính của tín đồ, va là cầu nối gia đạo và đi, là ngưi dẫn dắt chúng sinh thc hành giáo lí của Đc Phật.

- Nhà sư là người đại diện cho Phật pháp: Sư là hiện thân, hiện tiền của Đc Phật. Đối với người Khmer, sư sãi có vai trò quan trọng trong đi sống tâm linh của họ. Trước nhất, sư sãi là người đang thực hin việc tu hành theo đo hạnh của Đc Pht
 
Thích Ca Mâu Ni, là người đảm nhận việc giáo hóa chúng sinh, truyền dy giáo lý đến mi người trong phum, sróc là cầu nối giữa Phật và người.

Ngoài vai trò là người đại diện cho Đc Phật truyn bá giáo lý, các sư sãi, đặc biệt là các vị trụ trì vai trò càng quan trng hơn, những lời của sư có ảnh hưởng rất lớn, tất cả các tranh chấp, mâu thuẫn trong phum, sróc đu được giải quyết ổn thỏa và công bằng khi có sự can thiệp của tng lớp này. Đôi khi, Sư cả còn là quan tòa phán xét những vụ việc có liên quan đến các hành vi trm cắp, gây mất tình đoàn kết trong phum, sróc.

Phật giáo Nam tông thực hiện giới luật theo đúng lời dy của Đc Phật, người phụ nữ không được phép xuất gia. Trong tâm thức của đồng bào Khmer, các vị sư luôn là bóng mát che chở cho họ những lúc khó khăn, bệnh tật,... Họ không đơn thuần là người thực hin sứ mệnh hoằng đạo, mà còn là người định hướng, tổ chc, các hoạt động văn hóa, tôn giáo, giáo dục cho tín đồ. Trong chng mực nào đó, họ còn là những nhân tố quan trọng làm nên tính đặc thù của văn hóa Khmer ở Nam Bộ.

- Nhà sư là người thầy quan trọng của thế hệ tr: Đối với Phật giáo Nam tông Khmer, mọi tu sĩ phi luôn đề cao chc năng giáo dục, trong đó việc giáo dục cho con em trong cộng đồng được coi là một nhim vụ quan trọng mà họ có trách nhim thực hiện. Do yếu tchiến tranh, đặc thù địa lý, điều kiện sinh sống tách biệt với các trung tâm nên trước đây bà con Khmer ít có cơ hi học tập tại các trường phổ thông, duy chỉ có thể học trong chùa. Vì thế, sư sãi Khmer là ngưi thy thực s.

Trong các trường chùa, các lớp bổ túc Pali, nội dung giảng dy là giáo lý, ngôn ngữ, văn hóa, và không thể thiếu giáo dục đạo đức, nhân cách con người. Các lớp học y do chính các sư
 
sãi đm trách, đưc gi là các sãi giáo. Qua các lớp hc, con em đồng bào được đào tạo kiến thức phổ thông. Từ đó tạo dựng cho họ những hành trang ban đầu, căn bản nhất trước khi bước vào cuộc sống ở tuổi trưng thành. Bên cạnh đó, các vị sư Khmer còn góp phần quan trng vào việc duy trì, phát triển các giá trị đạo đc xã hi tốt đẹp qua việc ly chính đạo hạnh và đc độ của mình ở thế tục làm gương cho xã hội, mà trước hết là trong cộng đồng Khmer.

- Nhà sư là cu nối giữa đạo và đời: Tuyt đại bộ phận người Khmer theo Phật giáo Nam tông, do đó khi nói đến số dân người Khmer ở Việt Nam cũng đng nghĩa với việc có thể hiểu đó là số lượng Phật t.

Đời sống thường nhật của đồng bào Khmer và Phật giáo không thể tách rời bi các yếu tố cơ hữu: sư sãi đều là con em của đồng bào, chùa là nơi tu hành của sư sãi, là nơi hành lễ của đồng bào, là nơi giáo dục, dy nghề, là trung tâm văn hóa của cộng đồng, là bảo tàng lưu giữ các hiện vật từ đồ thờ tế tự đến các hiện vật điêu khắc, chm trổ, ghe ngo (để dùng đua trong các lễ hội dân gian), sinh hoạt… Đng thời cũng xem là từ đường của cộng đng.

Sinh hoạt trong gia đình, cộng đồng phum, sróc đa phần đều gắn với Phật giáo. Các công việc của gia đình cũng như sinh hoạt văn hóa, lễ hội ca cộng đồng đều có sự tham dự của các vị sư. Đại bộ phn các ngôi chùa Khmer đã trở tnh nơi hội tụ, là nơi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Khmer. Các vị sư cũng chính là cầu nối gần gũi nhất để mọi người dân Khmer gửi gắm nim tin, ước nguyện của mình đến với Đc Phật và cõi Niết Bàn ở tương lai.
 
Nếu như nhà sư ở các tộc người khác chỉ chú trọng vic hành đạo thì sư sãi Khmer lại xuất hiện trong mọi hoạt động đời sống thưng ngày của người dân từ những chuyện vui như lễ hội, cưới hỏi, xây nhà,… hay cả những chuyn buồn như tang ma, bnh tật. Hơn thế, các vị sư còn đảm nhận cả chc năng tuyên truyền, hưng dẫn cách làm ăn, phổ biến pháp luật của Nhà nước. Do đó, có thể khẳng định, dù trong bất kì hoàn cảnh nào thì ảnh hưởng của sư sãi đối vi người Khmer cũng to ln; đó cũng chính là một trong những nét văn hóa đặc thù của đồng bào Khmer ở Nam Bộ.
  1. Một số vấn đề đặt ra đối với Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ trong thi kỳ hội nhp

Ngày nay, trong quá trình hội nhp kinh tế - văn hóa thế gii, ảnh hưng của nó đến nền văn hóa của người Khmer ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnh vc của đi sống xã hi, trong đó có Phật giáo.
    1. Vấn đề hành đạo và tu trì

Do điều kiện kinh tế khó khăn, cuc sống hiện đại diễn ra vi tốc độ nhanh mà ngưi Khmer ở Nam Bộ buộc phải tất bật vi công việc làm ăn dẫn đến thi gian nhàn rỗi ngày một thu hẹp, thi gian dành cho việc đến chùa tụng kinh, cúng dường ngày mt ít dần, chính vì nhng điều kiện khách quan của xã hội mà trong hoạt động hành đạo của sư sãi phải điều chnh cho phù hp. Hình thc khất thc, tụng nim, hành lễ ngày càng gim nhẹ về thi gian và đơn giản về nghi thc đó là những đng thái tích cc để Phật giáo Nam tông nhập thế cùng đồng bào Khmer trong cuc mưu sinh.

Chính vì nhng biến đổi của xã hội đương đi mà quá trình tu trì của sư sãi trở nên thóang hơn, giáo lý không còn hà khc
 
như trưc na. Ngày nay, đa số các chùa đều có ti vi, internet, báo, thư viện,… mục đích để gii sư sãi cập nhật thông tin, nâng cao trình độ và điều đặc biệt là hiểu biết về nhân sinh hơn. Slưng sư sãi có trình độ cao ngày mt tăng và khả năng hiểu biết uyên bác hơn, họ đã trở thành nhng trí sĩ, lc lưng nòng cốt trong quá trình phát triển giáo dục tri thc vùng đồng bào Khmer. Chính sư sãi đã trở thành nhng hình tưng tiêu biểu của ngưi Khmer trên cả hai phương diện Đạo và Đi. Họ là nhng ngọn đèn lung linh trong đêm tối dẫn dắt đồng bào Khmer trong cuộc khai hoang dân trí, chấn hưng dân khí đngưi Khmer vng bưc trên con đưng phát triển, m no, hạnh phúc.
    1. Vấn đề giáo dc trong nhà chùa

Hoạt động giáo dục ca nhà chùa trong bối cảnh hội nhập có phần gim thiểu về slưng học viên và thi gian tập trung hơn xưa. Tuy nhiên, vai trò giáo dục nhân cách, đạo đc của nhà chùa vẫn đưc cộng đồng xem trọng và tin tưng. Nhn đnh đưc tình hình và cần thiết phải thay đi chiến lưc giáo dục cho đồng bào, các chùa đã chđộng thi gian, sắp xếp lch học tp phù hp vi thời khóa biểu của con em đng bào Khmer đang theo học trong các trường chính quy. Chính xác là lch giảng dy ngôn ng, kinh kệ cho con em rơi vào ngày thứ by và chủ nhật hằng tuần và học tp trung vào ba tháng hè. Thc hiện theo nguyên tắc tự nguyn, dân chủ, nhà chùa kng ép buộc con em phải học tập, nhưng do kết quả mà các trưng chùa đã đạt đưc trong sự nghiệp giáo dục nhân cách ở vùng đồng bào mà cha mẹ có con em vào đtui học tp đu gi gm con mình đến chùa để học tập. Đồng thi, họ mong muốn giữ gìn truyền thng tốt đẹp của dân tộc thông qua giáo dục ngôn ng, văn hóa, kinh k
 
của gii sư sãi đcon em mình kế tha và phát huy các giá trị truyền thng y.

Vai trò giáo dục của nhà chùa đã rõ, song để đạt đưc nhng kết quả đó gii sư sãi, Acha đã bó lưng buộc bụng và sống mt lý tưởng cống hiến không vli cho con em đồng bào Khmer. Khó khăn vcơ sở vật chất: trưng lp không đm bảo, thiếu tài liệu giảng dy  và các thiết bị hỗ trợ khác, không lương,… Thi gian gn đây, những nhn thc không đúng, thiếu tầm nhìn của một bộ phận đồng bào mà slưng học sinh tham gia ở chùa ngày một ít, lp học ngày mt vắng vẻ, học viện không tha thiết lm dẫn đến việc bỏ học, trốn hc thưng xuyên,... Do đó cần có nhng chính sách htrợ của Nhà nưc trong hoạt động ging dy tại chùa mục đích là bảo tồn một tổ chc giáo dục ngoài hthống giáo dục quốc gia; đồng thi giữ gìn truyền thống tốt đp của người Khmer ở Nam Bộ trong việc đến chùa hc tập vào nhng thi gian rảnh ri.
    1. Vấn đề trùng tu và xây dựng chùa

Trải qua mt thi gian dài xây dng, các ngôi chùa Khmer có lch sử hàng trăm năm đang đi vào giai đoạn xuống cp trm trọng trong khi đó kinh phí trùng tu xây dng quá lớn, gánh nặng này đồng bào Khmer ở Nam Bộ nghèo khó, không thể chu đng nổi nếu như không có sự hỗ trợ của các mnh thưng quân, nhng ngưi hảo tâm giàu có là ngưi Khmer trong nưc hay ngoài nưc. Đó là một tín hiệu tích cc cho việc xây dng nơi thờ t. Tuy nhiên, vi hảo ý này đng thi cũng ny sinh nhng mặt tiêu cc, hạn chế đáng kể là hiện tưng trùng tu, tôn tạo hàng loạt các hạng mục, các công trình mà chưa qua quá trình nghiên cu, bàn luận để có mt cơ sở khoa học trong việc trùng tu, xây dng theo kiến trúc phù hợp và truyền thống.
 
Tác động từ ý mun chủ quan của một bộ phận ngưi bỏ tiền, bỏ của ra quá ln mà việc trùng tu chùa chiền ở ngưi Khmer có phần biến tưng, đi theo xu hưng lệch lạc không thể hiện đưc ý muốn của cộng đồng, dân tộc. Đng thi, vic trùng tu này không nhng không mang lại sự uy nghiêm, linh thiêng cho ngôi chùa mà trái lại nó phá vỡ đi cái kiến trúc truyền thng, màu sơn, nét vẽ của dân tộc - cái hồn, cái vn có của một cơ sở thờ t.

Chính vì nhng lý do trên, sự trùng tu và xây dng chùa chiền ở ngưi Khmer rất cần được sự quan tâm của cộng đồng, đặc biệt là gii tri thc, gii khoa học nghiên cu để khi trùng tu, xây dng chùa Khmer đưc tô lên vẻ đẹp mi, sự hoành tráng ưc lệ trên cơ sở cái nền của kiến trúc truyn thống và cái hồn của ngưi Khmer ở Nam Bộ.
    1. Vấn đề kinh tế ảnh hưởng đến nhà chùa

Nam Bộ hin có 457 ngôi chùa, vi khoảng hơn 9.000 sư sãi một con số đáng đưc chú ý và nghiên cu. Điều này cho thy vai trò, vtrí và nh hưng to ln của Phật giáo Nam tông đối vi cộng đồng ngưi Khmer ở Nam Bộ, truyn thng tu học đáng để khoe mẻ, tự hào. Tuy nhiên, ngoài góc nhìn vstồn tại và phát triển của một hoạt động thuộc lĩnh vc tôn giáo và vi góc nhìn của một nhà văn hóa mà còn dưi góc nhìn thuộc lĩnh vc kinh tế xã hội học để đặt vấn đề này trong sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nưc. Chúng tôi thy rằng, cần nhng lc lưng cơ sở vật chất đáng kể để đáp ng nhu cầu đi sống thưng nhật cho đội ngũ chức sắc và sư sãi, để đội ngũ ny yên tâm hành đạo đã trở thành mt thách thc đến sự phát triển kinh tế xã hội và đi sồng của đồng bào Khmer ở Nam Bộ mà chính
 
quyền các cấp, các tổ chc xã hội, bản thân nhng ngưi trong cuộc cần tiếp tục nghiên cu.

Từ thc tế, đi sống tu trì của các vị chc sắc và sư sãi cho thy, họ là nhng ngưi chuyên tâm lo việc Phật sự không tham gia vào quá trình sản xuất vật chất; ăn bằng việc khất thc, cúng dưng từ ngưi dân trong phum sróc chyếu trong cộng đồng ngưi Khmer; học go lý, kinh kệ là chính; đphụng sự cho cộng đng ngưi Khmer; chính cộng đồng người Khmer đến lưt mình chăm sóc lo lắng cung cấp lc lưng vật chất cho sư sãi trong điu kin bản thân đa số hộ dân trong cộng đồng ngưi Khmer đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế.

Trưc bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng trên tất cả các lĩnh vc vật cht và tinh thần trên gii, Phật giáo Nam tông vẫn sẽ còn có ảnh hưng ln và lâu dài đến vi đội ngũ chức sắc, sư sãi, Phật tử trong cộng đồng ngưi Khmer ở Nam Bộ. Do đó cần tiếp tục có nhng nghiên cu để đề xuất nhng chính sách, giúp cộng đồng ngưi Khmer giữ gìn đưc bản sắc Phật giáo Nam tông vi đi sống tinh thần của ngưi Khmer ở Nam Bộ trong bi cnh toàn cầu hóa hiện nay.


 

I LIU THAM KHẢO:

 
  1. Nguyễn Mnh Cưng (2008), Phật giáo Nam Tông Khmer: những vấn đề nhìn lại, Nxb. Tôn giáo Hà Nội.
  2. Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn.
  3. Trưng Lưu chủ biên (1993), Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Ni.
 
  1. Thạch MuNi (2012), “Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc: Thc Trạng và giải pháp” trong Hội thảo Tôn giáo – Phật giáo Khmer Nam tông.
  2. Viện Văn hóa (1987), Người Khmer Cu Long, Sở Văn hóa Thông tin Cu Long.
  3. Một số tư liệu điền dã của tác giả.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây