15. TÍNH NHÂN BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG THEO NĂM GIỚI QUA MỘT SỐ KINH TẠNG PALI

Thứ bảy - 08/09/2018 12:53
TÍNH NHÂN BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG THEO NĂM GIỚI QUA MỘT SỐ KINH TẠNG PALI của ThS. Võ Văn Thành* ThS. Lê Thị Thanh Tâm**
 
 

 

Trong bài tham luận y, chúng tôi tìm hiểu tính nhân bản của đạo đc Phật giáo Nam tông nói chung, Phật giáo Khmer nói riêng theo năm gii luật cơ bản của Phật giáo và qua một số Kinh tạng Pali như Kinh Pháp Cú (Dharmapada), Kinh Tăng Chi Bộ, Kinh Mi Tiên vấn đáp, Kinh Trung B,v.v…

Từ xưa ti nay, nhiều nhà nghiên cu trong và ngoài Phật giáo quan tâm đến khía cạnh nhân bản ca đạo đc học Phật giáo, đặc biệt là nhng li nói của Đc Phật còn đưc lưu giữ lại mt cách chân thật và sống động thông qua các bộ kinh tạng Pali của Phật giáo Nam tông. Chúng tôi là thế hệ nhng ngưi nghiên cu đi sau, được may mắn đọc nhiều kinh tạng Phật giáo Pali thông qua nhng bản dịch của Hòa thưng Thích Minh Châu.

Đến nay, vấn đề đạo đc trong Phật giáo, dù Phật giáo Bắc tông hay Phật giáo Nam tông, có tính thống nhất và ít bị tranh cãi nhất. Lý do, vì đạo đc Phật giáo da trên mối quan hệ gia ngưi và ngưi trong xã hội. Năm gii theo Phật giáo, dù Nam tông hay Bắc tông đều thống nhất, gm:
  1. Không sát sinh mà lại phóng sinh, tôn trng sự sống của muôn loài.
 
  1. Không ly của kng cho mà li bthí.



* Trung tâm Nghiên cứu Tôn go, Viện Khoa hc Xã hi vùng Nam B
** Trường Đại hc Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.
 
  1. Không tà m, mà sống theo nếp sống trong sáng, chánh hạnh.
 
  1. Không nói dối, lúc nào cũng nói li chân thật, li đoàn
 
kết.


 
  1. Không uống các cht say, lúc nào cũng ăn uống điều độ,
 
giữ gìn thân thể khỏe mnh, trí óc sáng suốt tnh táo.

Đc Phật nói, đạo đc không phải là quan hệ gia thần thánh vi con ngưi, mà là quan hgia nhng con ngưi vi nhau. Nói ch kc, đo đc phát sinh tnhng hành vi ng xgia con ngưi vi con ngưi. Hơn thế, Đc Pht và Pht giáo còn mrng đo đc là mi quan hgia con ngưi vi các loài hu nh khác.

Mi Tăng ni và Phật tử đều sống theo năm gii và mưi thiện là yêu cầu sơ đng nhất, cũng là căn bản nhất của ngưi con Phật. Đc Pht tng thuyết pháp như vy trong Kinh Tăng Chi Bộ: nếu một ngưi sống theo năm pháp ác như sát sanh, ly của không cho, sng không phm hạnh, nói láo, đm say trong rưu sẽ bị rơi vào Đa Ngục; ngược lại sống theo năm pháp thiện như từ bỏ sát sanh, từ bỏ ly của không cho, từ bỏ không phm hạnh, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say trong rưu sẽ đưc sanh lên cõi Tri. Trong Phẩm Năm pháp, Đc Phật thuyết rằng:

“Thành tu năm pháp, này các T-kheo, T-kheo như vy tương xng bị rơi vào Đa ngục. Thế nào là năm pháp? Sát sanh; ly của không cho; sống không Phm hạnh; nó láo; đm say rưu men, rưu nu. Thành tu năm pháp này, này các Tỷ - kheo, T-kheo như vy tương xứng bị rơi vào Đa ngục. Thành tu năm pháp, này các T-kheo, T-kheo như vy tương xng
 
đưc sanh lên cõi tri. Thế nào là năm pháp? từ bỏ sát sanh, từ bỏ ly ca không cho, từ bỏ không phm hạnh, từ bỏ nói láo, từ bỏ đm say rượu men, rưu nấu. Thành tu năm pháp này, này các T-kheo, vị T-kheo như vy tương xứng đưc sanh lên Thiên gii(1).

Chúng ta thy rng, Đc Phật luôn nhắc năm gii này (năm pháp) luôn gắn liền vi nhau. Việc chia ra tng gii (pháp) để phân tích dưi đây chỉ là cách làm để có thể hiểu rõ hơn năm gii của Phật giáo.
  1. Giới không sát sinh mà lại phóng sinh, tôn trọng sự sống của muôn loài

Không sát sanh là gii lut đu tiên trong năm gii lut cơ bn nht ca Pht giáo, dù Nam tông hay Bc tông. Đtrthành mt Pht t, vic đu tiên là thc hành gii không sát sinh và bn gii cơ bn còn li. Đtrthành Sa di thì phi thnhiu gii n, Tỳ kheo phi gi250 gii,v.vGii không t sinh không chnh cho Pht t, mà còn dành cho tt cngưi bình thưng khác không phi là Pht t. Tt cchúng ta, nhng con ngưi bình thưng trong xã hi skhông lấy vic sát sanh làm nim vui, làm stch. Vic sát sanh mang li nhiu hqubt hnh cho đng loi và các loài hu nh. Pht giáo kch lit phn đi vic đi săn bn thú đlàm vui, vic giết hi các sinh vt khác không nhm mc đích nuôi sng bn thân mình mà chnhm cu vui.

Mi con ngưi, mi loài hu tình đu có quyn sng, chúng ta không có quyn tưc đoạt sinh mnh ca ngưi khác, c loài vt khác. Pht giáo không cm ăn tht. Đc Pht sinh thi cũng



1 ng Chi BKinh tp 2: 754-755.
 
không cm tăng chúng, Pht tti gia ăn tht. Tuy các tăng sĩ Pht giáo Nam tông đưc phép ăn tht, nhưng Pht giáo cũng quy đnh cthnhng trưng hp đưc phép ăn và nhng trưng hp không đưc phép ăn, nếu không sdn đến vic phá gii. Tht đưc phép ăn đó gi là tht trong sch, gm: mt không nn thấy ngưi giết; tai không nghe ngưi giết tht; không phi đcho mình ăn mà
giết(1). Ngoài ra, khi đi đưng, nếu tht con vt bcon vt khác giết
hi, thì ngưi xut gia có thăn được. Vì vy, ở các nưc theo Phật giáo Nam tông, các nhà sư khất thc có thể ăn bất cứ loại thc ăn gì, kể cả tht nếu đó là món tht trong sạch.

Không nhng không sát sinh mà Phật giáo lại còn khuyên phóng sinh, tôn trọng ssống của muôn loài, vì mọi chúng sinh có quyền bình đẳng và mạng sống của mỗi chúng sinh chỉ có mt và rất quý mà bất kỳ ai cũng không có quyn tưc đi. Trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada) có Phẩm Hình phạt (Dandavagga) cho thy giá trị nhân bản của Phật giáo: Mọi ngưi sợ hình phạt, Mi người sợ tử vong. Ly mình làm ví dụ, Không giết, không bảo giết” [K129], hay: “Mọi ngưi sợ hình phạt, Mọi ngưi thương sống còn. Ly mình làm ví dụ, Không giết, không bảo giết” [Kệ 130]. Hai bài kệ trên của Kinh Pháp Cú rất có ý nghĩa. Chúng ta hãy ly bản thân mình làm gương, nếu sợ chết, sợ bị giết hại thì nhng ngưi khác, nhng sinh vật khác cũng rất yêu quý mng sống ca mình, mi sự sống đều thiêng liêng và bình đẳng. Phật tử thc hành gii không sát sinh mà ngưc lại là phóng sinh đem lại li ích cho bản thân, xã hội và môi trưng sống của chính mình. Vào nhng ngày lễ đặc biệt của Phật giáo, Phật tử đem cá, chim, các con vật đi phóng sinh tại nhng môi



1 Thích Minh Châu - Minh Chi 1991: 685.
 
trưng thích hp sẽ làm cho tâm hoan h, mở rộng lòng từ đến mi loài, tiêu trừ lòng sân hận, hiếu sát. Con cá, con chim đưc về vi môi trường sinh sống sẽ sinh sôi, ny nở làm cho môi trưng sng được cải thiện tốt hơn.
  1. Giới không trm cp (lấy của không cho) mà lại còn bố thí

Ở các nưc Phật go Nam tông, như Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Sri Lanka,v.v… tăng sĩ sống bằng khất thc, chỉ nhận lãnh thc ăn và các vật dụng đưc Phật tử tại gia thành tâm cúng dưng. Còn Pht tử tại gia thì đưc khuyến khích nuôi sống mình và gia đình mình bằng nhng nghề chính đáng. Chánh mạng, mt trong Bát chánh đạo, là sống bằng nghề nghiệp chính đáng, lương thiện.

Về trm cắp (ly của không cho), có hai loi. Một loại là trm cắp trc tiếp, nghĩa là chiếm đoạt một hay nhng cái gì thuộc quyn sở hu của ngưi khác. Loại trm cắp thứ hai là gián tiếp bằng la đảo hay gian ln. Nói tóm lại, đo đc Phật giáo lên án mọi hành vi thlợi, biển thủ, không trung thc, không lương thiện. Đối vi Phật t, cái gì đã không cho thì không ly. Đó là phương châm bất di dch, trong mi giao dch gia Phật tử với nhau, cũng như giữa Phật tử vi ngưi ngoài. Theo phân tích của Minh Chi, một hành vi đưc xem là trm cắp, là ly ca không cho khi có nhng điu kiện sau đây: của cải, đồ đạc, vật dụng của ngưi khác; ngưi ly biết rõ, đó là của cải, đồ đạc, vật dng của ngưi khác; có ý chiếm đoạt; dùng thủ đoạn để chiếm đoạt; hành vi cụ thể chiếm đoạt; dùng phương tiện hay phương pháp chiếm đoạt là như thế nào, một khi đã có sự chiếm đoạt mà ngưi đương sự, có của bị chiếm đoạt không
 
bằng lòng, thì đó là trộm cắp, là ly của không cho, và ngưi chiếm đoạt nhất đnh sẽ chu quả báo tương ng(1).

Phật giáo khuyến khích con ngưi không đưc trm cắp, mà ngưc lại còn khuyến khích họ nên bố thí tùy theo hoàn cảnh và khả năng. Phật tử ti gia có của thì bố thí của (tài thí). Ngưi xuất gia không có của cải vật chất nhưng cũng có cái để bố thí đó là bố thí pháp (pháp thí). Bố thí pháp là bố thí cho quần chúng nhng lời khuyên làm lành, lánh d, hưng quần chúng đến cuộc sống tốt đp hơn. Từ bỏ nhng pháp bất thiện, thc hành nhng pháp thin có ích lợi cho bản thân và xã hội, cộng đồng. Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Đc Phật có thuyết về bố thí như sau: “Này các T-kheo, có hai loại bố thí này. Thế nào là hai? Bố thí tài vật và bố thí pháp. Nhng pp này, này các T- kheo, là nhng loại bố thí. Tối thắng trong hai loại bố thí này,
này các T-kheo, tc là pháp thí”(2). Bố thí pháp đưc Đc Phật


đánh giá rất cao. Bố thí pháp chính là giáo hóa mà Đc Phật gọi là giáo hóa thần thông, tc nhng li giáo hóa, bố thí pháp của chư tăng giúp cải biến một con ngưi từ ngưi xấu, trở thành mt con ngưi tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Biết thông cm, chia sẻ, quan tâm, giúp đ, hy sinh bản thân vì ngưi khác. Lại có nhng ngưi không giàu có, cũng không có pháp để pháp thí nhưng họ có thế lc và sc mạnh, họ có thể thc hành cái mà trong kinh Phật gọi là vô úy thí, nghĩa là bố thí sự không sợ hãi, bảo vệ cho chúng sanh, mọi người khỏi sợ hãi và lo âu. Ngoài ra còn có bố thí tùy hỷ (y hỷ thí), tc là chia sẻ nim vui vi mọi ngưi, trong tâm hn không my may có ý nim ghen ghét đk.
  1. Xem bài Mt số vn đề ca đo Đc Phật giáo (bản thảo lưu tại gia đình).
  2. Kinh Bộ Tăng Chi 2005, tập 1: 168.
 
Hạnh bố thí đng đầu 10 hạnh trong các hnh Ba-la-mt của Phật giáo Nam tông(1), đng đầu sáu hạnh Ba-la-mật của Phật giáo Bắc tông(2), đng đầu bốn nhiếp hạnh, chung cho cả Nam tông và Bắc tông (bố thí, ái ng, li hnh, đồng s). Cho nên, chúng ta cần hiểu rõ nội dung của bố thí và nhng điều kiện để cho mỗi hành vi bthí đạt đưc hiệu quả cao nhất, nhiều nhất. Trong Kinh tng Pali, Đc Phật phân tích nhng tình huống bố thí không đem lại nhiều phưc báo cho ngưi bố thí:
“Này các T-kheo, có tám bố thí này. Thế nào là tám? Vì có ngưi đến, nên bố thí; vì sợ hãi, nên bố thí; vì nghĩ rằng: ‘Ngưi y đã cho ta’, nên bthí; vì nghĩ rằng: Ngưi y sẽ cho ta’, nên bố thí; vì nghĩ rằng: ‘Bố thí là tốt’ nên bố thí; vì nghĩ rằng: ‘Ta nấu, nhng ngưi này không nấu. Tht ta không xng đáng là ngưi nấu lại không cho ngưi không nấu’; vì nghĩ rằng: ‘Do ta bố thí này, tiếng tốt sẽ đưc truyền đi’ nên bố thí; vì trang nghiêm tâm, trang btâm, nên bthí. Này các T-kheo, có tám bố thí này”. Lại na, “Này các T-kheo, có tám căn bản để bthí. Thế nào là tám?Vì lòng dục nên bố thí; vì sân hận nên bố thí; vì ngu si nên bố thí; vì sợ hãi nên bthí; vì nghĩ rằng: ‘Trưc tổ tiên đã bố thí, trưc đã làm. Ta không xng đáng là ngưi để truyền thống này bbỏ phế’ nên bố thí. Vì nghĩ rằng: ‘Sau khi cho bố thí này, khi thân hoại mng chung, sẽ đưc sanh lên thiện thú, Thiên gii, cõi đi này’ nên bố thí. Vì ngrằng: Khi ta bố thí này, tâm được tnh tín, do tâm hân hoan, hỷ đưc sanh’ nên



 
  1.  
  1. Bố thí Ba-la-mật, Tgiới Ba-la-mt, Viễn ly Ba-la-mật, Trí tuệ Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mt, Nhẫn nhc Ba-la-mt, Trung thực Ba-la-mt, Quyết tâm Ba-la-mật, TBa-la-mật, Xả Ba-la-mt.
  2. Bố thí Ba-la-mật, Tgiới Ba-la-mật, Nhn nhc Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật, Thiền đnh Ba-la-mật, Trí tuBa-la-mt.
 
bố thí. Để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm nên bthí. Này các Tỷ kheo, có tám căn bn để bố thí(1).

Thc hành gii không trộm cắp (hay ly ca không cho) mà lại còn bố thí cho thy tính nhân bản sâu sắc của Phật giáo. Chúng tôi nghĩ rng, nếu gii không trm cắp (hay ly của không cho) Pht giáo đưc phổ biến rộng, smang lại một tác dụng giáo dục rất ln đối vi xã hội hiện nay.
  1. Giới không tà dâm (từ bỏ phm hạnh)

Theo Phật giáo, gii không tà dâm (từ bỏ phạm hạnh) có liên quan sâu rng đến quần chúng. Phật giáo phân biệt chính dâm và tà dâm. Chính dâm là việc quan hệ tình dục chính đáng vi các đối tưng là v/ chồng của đương s. Còn lại đều là tà dâm. Trong Kinh Tăng Chi B, Đc Phật có Phẩm sắc bàn về sự thu hút của nhng đối tưng khác gii tính mà nó xâm chiếm và ngự trị tâm đương sự: “Ta không thy một sc nào khác, này các T-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm ngưi đàn ông nsắc ngưi đàn bà. Này các T-kheo, sắc ngưi đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm ngưi đàn ông. Ta không thy một tiếng nào khác, này các T-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm ngưi đàn ông, như tiếng ngưi đàn bà. Này các T-kheo, tiếng ngưi đàn bà xâm chiếm và ngự trị m người đàn ông. Ta không thy một hương… một vmt xúc nào khác, này các T-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm ngưi đàn ông, như hương… v… xúc ngưi đàn bà. Này các T-kheo, xúc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm ngưi đàn ông.




1 Kinh Tăng Chi Btp 3: 607-608.
 
Ta không thy mt sc nào khác, này các T-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm ngưi đàn bà, như sắc ngưi đàn ông. Này các T-kheo, sắc ngưi đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm ngưi đàn bà.

Ta không thy một tiếng… một hương… một vmột xúc nào khác, này các T-kheo, xâm chiếm và ngtrị tâm ngưi đàn bà, như tiếng… hươngv… xúc ngưi đàn ông. Này các T- kheo, xúc người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà”(1). Như vy, Đức  Phật không tránh né  vi thị chúng về chuyện sắc gii dẫn đến việc quan hệ tình dục với ngưi khác gii. Nhưng vấn đề là không phm gii tà dâm đối vi ngưi Phật tử tại gia.

Đi vi tăng sĩ, là sứ giả của Như Lai thì tuyt đối không dâm dục. Trong Kinh Tăng Chi B, phm Dâm dục, Đc Phật phân tích sâu về vấn đề này như sau: Ở đây, này Bà-la-môn, có Sa-môn hay Bà-la-n, tự xem mình sống phạm hạnh mt cách chơn chánh, tuy không có hành dâm vi nữ nhân, nhưng hưng thụ đưc nữ nhân thoa, bóp, tm, xc dầu. Vy thích thú, ưc muốn, bị kích thích bi nữ nhân. Này Bà-la-môn, đây gi là phm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phm, bị nhim ô, bđim chm. Này Bà-la-môn, đây là hành phm hạnh không thanh tnh, bị liên hệ, bị hệ ly với dâm dục, không giải thóat khỏi sanh, già, chết,
sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng không thóat khỏi khổ”(2). Nói
về gii không tà dâm, Kinh Pháp Cú có đoạn: “Không phóng dật, đưng sống, Phóng dật là đưng chết. Không phóng dật, không chết, Phóng dt, như chết rồi” [Kệ 21]. Làm thế nào để

 
  1. Kinh Tăng Chi Bộ tập 1: 9-10.
  2. Kinh Tăng Chi Btp 3: 350
 
không phm giới tà dâm? Chỉ có một cách đó là tu tập tâm. Khi nhiếp phục được tâm rồi thì có thể chế phục đưc khẩu và hành là chuyện dễ dàng. Kinh Pháp Cú cho chúng ta thy tm quan trọng của việc tu tập tâm, kim soátm đừng nghĩ tà quy, nghĩ đến chuyện m dục là quan trọng và có ý nghĩa như thế nào: “Khó nm gi, khinh động. Theo các dục quay cuồng. Lành
thay, điều phục tâm. Tâm điều, an lạc đến”(1).

Tóm lại, việc giữ gii không tà dâm có ý nghĩa rất quan trọng trong đi sng của tng cá nhân, dù là tăng sĩ hay Phật tử tại gia. Việc giữ gii không dâm dục có thể bắt đầu từ việc tu tập tâm. Khi tâm đưc nhiếp phục, điều phục thì chuyện giữ gii không tà dâm không khó.
  1. Giới không nói dối, lúc nào cũng nói lời chân thật, lời đoàn kết

Phật giáo khuyên tất cmọi ngưi không nên nói dối, vì nói dối là căn nguyên của mọi chuyện xấu xa, độc ác, làm pvỡ hòa hp gia đình, Tăng chúng, cộng đồng, đánh mất nim tin của ngưi khác đối vi bn thân. Đối vi Phật giáo, nói dối tai hại trên nhiều mặt. Thứ nhất, nói dối ảnh hưng tiêu cc đến sự ổn đnh xã hi. Con ngưi chỉ có thể sng chung vi nhau trong một bầu không khí tin cy lẫn nhau, tin rng, trong giao tiếp, mọi ngưi đều nói lời chân thật. Thứ hai, trên bình diện cá nhân, nói dối có tác dụng phản ng dây chuyn. Tc là, li nói dối này kéo theo li nói dối khác, rồi một lời nói dối khác na, cho ti khi bản thân bị bao bọc bi tm màn dối trá do chính mình tạo ra. Một con ngưi như thế ngày càng tách ri xa đích giải thóat và giác ng, ngày càng sa vào vòng tội li khó gỡ ra đưc. Một

1 Kệ 36, Kinh Pp Cú 2000: 15
 
ngưi đã sống không thật vi ngưi khác, và vi bản thân mình, thì sẽ không bao giờ tìm ti sự thật, chứ đng nói vic giác ngộ sthật. Trong Kinh Trung B, Kinh giáo gii La-Hầu-La, Đc Phật ly hình ảnh ẩn dụ là chậu nưc rất có ý nghĩa để giảng về nói dối vi Rahula: “Rồi Thế Tôn, sau khi đmt ít nưc còn li trong chậu nưc, bảo Tôn giả Rahula: - Này La Hầu La, ông có thy mt ít nước còn lại trong chậu nưc không? - Thưa vâng, bạch Thế Tôn. - Cũng ít vy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của nhng ngưi nào biết mà nói láo, không có tàm quý (không biết xấu hổ-ngưi viết)... Rồi Thế Tôn lật úp chậu nưc y và bảo Tôn giả Rahula: - Này Rahula, ông có thy chậu nưc bị lật úp không? - Thưa vâng, bạch Thế Tôn. - ng lật úp vy, này Rahula, là Sa-môn hnh của nhng ngưi nào biết mà nói láo,
không có tàm quý(1). Ở một đoạn kinh sau, Đc Phật nói:
“Cũng vy, này Rahula, đối vi ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thi Ta nói rằng ngưi y không có việc ác gì mà không làm. Do vy, này Rahula, ‘Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi’, này Rahula, ông phải học tập như vy(2).

Khi một ngưi làm vic sai trái, dối trá mặc dù cộng đồng không biết dẫn đến vic anh ta không cm thy xấu hổ vi cộng đồng, nhưng lương m anh ta cũng phán xét và biết tự xấu hổ vi bản thân. Nếu một con người vô tàm, vô quý tc là không biết tự xấu hổ vi chính bản thân mình và xấu hổ vi ngưi khác, thì con ngưi đó không có chuyn gì ác mà không dám làm như Đc Phật nói. Thc vy, nhng li nói dối khi chúng ta nghĩ là bình thưng, đôi khi nói dối là nói để mà chơi nhưng thật ra nó có tác dụng rất tai hại cho bản thân ngưi nói dối và cho
  1. Kinh Trung B2005, tp 2: 172-173.
  2. Kinh Trung B2005, tập 2: 174.
 
cộng đồng. Chúng ta thử nghĩ, một cá nhân có tính thích nói dối để mà chơi, mua vui hết lần này ti lần khác, rồi đến khi anh ta nói thật trong lúc gặp nguy him, hay cn giúp đỡ thì ai mà tin đưc. Khi không nói dối, thì chúng ta tự động nói li chân thật, li đoàn kết đúng lúc, đúng nơi sẽ dẫn đến nhng lợi ích vô cùng ln lao cho cá nhân và cộng đồng.
  1. Giới không dùng các chất say, mà ngưc lại ăn ung điu độ để có được thân khỏe mnh, trí óc minh mẫn

Từ hơn 2.500 năm trưc, Đc Phật đã nhận ra sự nguy hại của các chất say đối vi cá nhân và cng đng. Một cá nhân khi đã dùng các chất say, thì anh ta không còn kiểm soát đưc hành vi của mình. Anh ta như con voi điên loạn, phá phách lung tung. Đến khi anh ta tnh ra thì đã mun, hối hận cũng không kp na, bị mất uy tín, bị tù ti, bị loại ra khỏi cộng đồng trong nhng trưng hp gây hại nghiêm trọng. Trong mt xã hội, nếu có nhiều ngưi dùng các chất say, rưu bia, cht ma túy hay nhng hình thc đầu độc tâm thần khác thì hậu quả khôn lưng. Trong Kinh Trường B, Đc Phật thuyết Kinh giáo thThi-ca-la-việt (Kinh Singàlovàda) về tác hại của rưu: “Này gia cht, đam mê các loại rượu có sáu nguy him: Tài sản hiện tại bị tổn thất, đấu tranh tăng trưng, bệnh tật dễ xâm nhập, thương tổn danh dự để lâm tàng, và thsáu là trí lc tổn hại. y gia cht, đam
mê các loại rưu có sáu nguy him nvy(1). Ngày nay, nhng
hình thc của chất say còn phát triển mạnh lên gấp bội lần nma túy, cần sa, ma túy tổng hp,... thì gii không dùng các chất say cần phải đưc tuyên truyn và giáo dục và giải thích mnh hơn na để cá nhân và cộng đồng nhận thy sự xấu hại của


1 Kinh Trường B2001: 533.
 
chúng. Nếu việc tuyên truyền, giáo dục gii không dùng các chất say có tác dụng rộng rãi thì cá nhân và xã hội tiết kim đưc một slưng ln tiền bạc, đạo đc cá nhân và xã hội đưc nâng cao, cuộc sống của mọi ngưi trở nên tốt đẹp hơn. Giữ cho đầu óc tnh táo, rèn luyn thân thể khỏe mnh, đầu óc minh mẫn có ý nghĩa rất ln đối vi hnh phúc của tng cá nhân và cộng đồng.

Khi một Phật tử giđưc năm gii trên thì anh ta sthc hành đưc 10 điều thiện một cách tự nguyn, đem lại nhiều li ích cho bản thân và cộng đồng. Mưi điều thiện là không sát sanh, không trm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưi, không nói thêu dệt, không nói li thô ác, không tham lam, không sân hận, không si mê. Trong đó, không sát sanh, không trm cắp, kng tà dâm thuộc về thân nghiệp; không nói dối, không nói hai lưi, không nói thêu dệt, không nói li thô ác thuộc về khẩu nghip; không tham lam, không sân hận, không si mê thuộc về ý nghiệp.
  1. Vài nhận xét về tính nhân bản ca đạo đức Phật giáo Nam tông qua một số kinh tạng Pali

Theo Minh Chi, đo đc Phật giáo phân biệt rõ ràng thiện và ác. Ông cho rằng: “Gần đây, có một số ít ngưi, chu ảnh hưng ca thuyết hoài nghi Phương Tây, cho rằng thiện và ác rất khó phân biệt, thm chí họ còn nói: Cc ác là thiện, cc thiện là ác”(1). Đi vi Phật t, hành vi thiện hay ác là rõ ràng minh bạch: Sát sanh là ác, phóng sanh là thiện, hiếu sanh là thiện. Ly của không cho là ác, bố thí là thiện. Tà dâm, sống tà hạnh là ác, sng chánh hạnh là thiện. Nói láo là ác, nói chân thật là thiện. Nói


1 Xem: Ý nghĩa ngày lễ Phật đản m nay: Sng theo nếp sống đo đc Phật giáo
(Tài liệu lưu ở gia đình).
 
chia rẽ là ác, nói đoàn kết là thin. Nói li ác là ác, nói li du hiền dễ nghe là thin. Nói li vô nghĩa, không đúng thi là ác, nói li có ích, nói đúng thi là thin. Tham là ác, không tham là thiện. Sân là ác, không sân là thiện. Tà kiến là ác, không tà kiến là thiện.

Phật giáo Nam tông hay Phật giáo Bắc tông đều xem trng việc giữ gii của Tăng ni, Phật t. Ảnh hưng tích cc của việc thc hành năm gii trong xã hội ngày nay cho thy bằng chng hùng hồn về tính nhân bản của nhng li Đc Phật đã dy cách đây hơn 2.500 năm. Chúng tôi nghĩ rằng, nhng gii (pháp) này nên đưc phổ biến rộng rãi hơn na đối vi xã hội. Khi đưc phổ biến rộng rãi, chúng sẽ có tác dụng ngăn chặn nhng hành động bạo lc, giết chóc, nhng hành vi trm cp, nhng thói hư tật xấu trong quan hệ tình dục ba bãi đã và đang làm tan nát nhiều gia đình. Đưc như vy, xã hội sẽ trở nên tiến bộ hơn, lành mạnh hơn, cuộc sống ca con ngưi có ý nghĩa hơn.



TÀI LIỆU THAM KHO:
  1. Kinh Bộ Tăng Chi, tập 2, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn giáo, 2003.
  2. Kinh Bộ Tăng Chi, tập 1, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn giáo, 2005.
  3. Kinh Bộ Tăng Chi, tập 3, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn giáo, 2005.
  4. Kinh Mi Tiên vấn đáp, HT. Gii Nghiêm dch, Nxb. Tôn giáo, 2005.
  5. Kinh Pháp Cú, Thích Minh Châu dch, Nxb. Tôn giáo, 2000.
 
  1. Kinh Trung Bộ, tập 2, Thích Minh Châu dch, Nxb. Tôn giáo, 2005.
  2. Kinh Trường Bộ, tập 2, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn giáo, 2001.
  3. Thích Minh Châu-Minh Chi, Từ điển Phật học Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, 1991.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây