12. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐOÀN KẾT SƯ SÃI YÊU NƯỚC Ở CÁC TỈNH TÂY NAM BỘ - MỘT MINH CHỨNG SÂU SẮC CHO SỰ GẮN BÓ ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VIỆT NAM

Thứ bảy - 08/09/2018 12:40
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐOÀN KẾT SƯ SÃI YÊU NƯỚC Ở CÁC TỈNH TÂY NAM BỘ -
MỘT MINH CHỨNG SÂU SẮC CHO SỰ GẮN BÓ ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VIỆT NAM

ThS. Nguyễn Văn Thanh*
 
1. Quá trình hình thành và tchức hoạt động của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước
Ở các tỉnh Tây Nam bộ, tuyệt đại đa số đồng bào dân tc Khmer đều theo Phật giáo Nam tông Khmer và đời sống văn hóa, tinh thần luôn gắn bó vi ngôi chùa. Chùa là nơi trang nghiêm thờ phụng, nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào, vừa là trung tâm bảo tồn, phát huy ngôn ngữ, chữ viết, phong tục và truyền thống văn hóa nghệ thuật tốt đp của dân tộc Khmer, đng thi, cũng là nơi tập hợp đoàn kết các tầng lớp dân cư.
Đàn ông được khuyến khích vào chùa tu, có thể tu trọn đời hoặc một thời gian. Việc đi tu mang nhiều ý nghĩa: Tu để trả hiếu cho ông, bà, cha mẹ; tu để thực hiện tình cm trách nhim với đất nước; tu để tlòng thành kính với Đc Phật. Theo truyn thống Phật giáo Nam tông Khmer không có nữ đi tu nên không có Ni giới, nhưng nữ giới lại chịu ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng đạo đức Phật giáo. Người tu theo hệ phái này phi giữ giới luật






* Phó Trưng ban Dân tộc và Tôn go, Ủy viên Thưng trực Hi đồng Tư vấn vTôn go, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tquc Việt Nam.
 
nghiêm chỉnh. Người tu ở bậc Sadi phải giữ 105 giới; người thụ giới Tkhiêu lại phi giữ 227 giới.
Đồng bào Khmer có truyn thống đoàn kết yêu nước, trải qua các thời kỳ kháng chiến có nhiều chc sắc, chc việc, trí thức tôn giáo và đồng bào Phật tử đã cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong thời bình các vị sư sãi yêu nước luôn quan tâm tham gia công tác xã hội, ủng hộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hin tốt phương châm Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội, thực hành đường hướng “Tốt đời, đp đạo” trong hoạt đng tôn giáo.
Thời Mỹ ngy, chính quyền bắt đóng tất cả các trường chùa; cm không cho dy chữ Khmer, chữ Pali, giáo lý trong chùa, hạn chế mọi sinh hoạt lễ hội của Phật giáo. Đổi tên chùa và phum, sóc Khmer sang tiếng kinh. Tổ chc lính kín để theo dõi các chùa và phum, sóc Khmer; ai có hành vi chống đối đều bị xử tội. Chính quyền Ngy còn dùng quyn lực cho lục soát và bắn phá nhiều chùa Khmer trong vùng kháng chiến. Bắt sư sãi đi lính, ly một số chùa làm căn cứ quân sự, làm nơi đóng quân và đàn áp các cuộc biểu tình của sư sãi.
Trưc tình hình đó, năm 1963, khu y Tây Nam bộ đã có chủ trương giúp đPht giáo Nam ng Khmer hình thành nên tổ chc Hi đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam nhm quy tụ sư sãi, đồng bào Phật tử Khmer nêu cao tinh thần yêu nước, sát cánh cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam đu tranh vì sự nghip độc lập dân tộc, đóng góp sc ngưi, sc của cho cách mạng giải phóng dân tộc, thng nhất đất nước.
Năm 1964, trong bối cảnh phong trào đấu tranh của Phật giáo khắp Vit Nam lên cao, skthị và đàn áp Phật giáo của
 
chính quyền ngy quyền đã kéo theo strỗi dy ca phong trào đòi tự do sinh hoạt Phật giáo. Tại Trà Vinh, nơi tập trung đông nhất sư sãi và tín đPhật giáo Nam tông Khmer, các vị cao tăng của Phật giáo Nam ng Khmer đã thành lp tổ chc Hội đoàn kết sư sãi khu Tây Nam bộ do sư cả Suvannathera Thạch Som làm Chtch. Đây là tổ chc tin thân của Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc Tây Nam bộ sau này.
Hi đoàn kết sư sãi khu Tây Nam bộ là bộ phận nằm trong y ban Mặt trận giải phóng khu Tây Nam bthuộc Mặt trận Dân tộc giải phóng min Nam Việt Nam. Hội có nhim vtập hp, đoàn kết sư sãi, tín đPhật giáo Nam tông Khmer, ủng hộ cách mng, đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc. Kể từ khi đưc thành lập đến ngày giải phóng min Nam thống nhất Tổ quốc, Hi đoàn kết sư sãi khu Tây Nam bộ đã có nhiu đóng góp tích cc vào sự nghip giải phóng dân tộc, vận động chc sắc, tín đồ tham gia cách mng, nhiều sư sãi hưng ng lời kêu gọi của cách mạng đã “ci áo cà sa, khóac chiến bào”, cùng các tầng lp
nhân dân đu tranh đi đến thắng lợi cuối cùng1.
Trong c m tiếp theo, Hi đoàn kết sư sãi yêu nưc ln lưt đưc thành lp tại mt sđịa phương ở khu vc Tây Nam b(Ba Xuyên, sau này là c Trăng và Bc Liêu; An Xuyên, sau này là Cà Mau; Kiên Giang; Vĩnh Bình, sau này là Trà Vinh...)2. Hi đoàn kết sư i yêu nưc ti nhng đa phương này đã p phn đáng kcùng Hi đoàn kết sư i yêu nưc Tây Nam b, đoàn kết, tp hp chc sắc, n đPht giáo Nam
  1.  
  1. Các vsư tiêu biu có thkđến như: Nhà sư Hu Nhem (Cà Mau); nhà sư Dương Sóc, nhà sư Kim Nang, nhà sư Kim Sum (Trà Vinh); nhà sư Lâm Hùng, nhà sư Danh Hoi, nhà sư Danh Tp, nhà sư Danh Hom (Kiên Giang)
  2. Vũ Minh Giang (Chbn), Lược sử vùng đt Nam b, NXB Thế giới, 2008
 
tông Khmer cũng như đng o c n tc cùng sinh sng trong khu vc, đi theo cách mng, vn động c nhà sư, Ban Qun trc chùa và đông đo đng o dân tc Khmer tham gia kháng chiến. Hi cũng tham gia vn động c chùa xây dng cơ sbí mt ngay ti chùa, mt schùa là nhng cơ scách mng tin cy, nuôi giu n btrong suốt thi chiến tranh.
Năm 1975, khi đt nưc hoàn toàn thng nht, Hi đoàn kết sư sãi yêu nưc Tây Nam bcũng như Hi đn kết sư sãi yêu nưc các đa phương khu vc Tây Nam btiếp tc là lc lưng tp hp, đoàn kết sư i n đPht giáo Nam tông Khmer vào các phong trào xây dng và bo vTquc, phát trin kinh tế xã hi, gigìn và phát huy bn sc văn hóa dân tc trong vùng đng bào Khmer.
Năm 1981, ththeo nguyện vọng của đông đảo chc sắc, tăng ni, tín đPhật giáo cả nưc, Ban Vn đng thống nhất Phật giáo Việt Nam đã tổ chc Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quc lần thứ nht, thành lập Giáo hội Pht giáo Việt Nam. Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc Tây Nam bộ là mt trong 09 tổ chc, hệ phái Phật giáo lúc by giờ đã tự nguyện thống nhất thành lập lên Giáo hội Phật giáo Việt Nam1.





1 09 tổ chc, hphái đó là:
  1. Hi Phật giáo thng nhất Việt Nam
  2. Giáo hi Phật giáo Việt Nam Thng nht
  3. Giáo hi Phật giáo Cổ truyn Việt Nam
  4. Giáo hi Tăng gNguyên thủy Việt Nam
  5. Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước
  6. Giáo hi thiên thai giáo quán tông
  7. Giáo hi Tăng gkhất sĩ Việt Nam
  8. Hi đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam B
  9. Hi Phật hc Nam Việt.
 
Từ đây, hoạt động của Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc Tây Nam bộ, tổ chc đại diện cho Phật giáo Nam tông Khmer chính thc nm trong hoạt động chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Sau năm 1981, Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc không còn tổ chc cấp khu vc, nhưng vẫn duy trì tổ chc ở cấp đa phương. Hiện nay, ti khu vc đng bng sông Cu Long, 8 đa phương có tổ chc Hi đoàn kết sư i yêu nước, đó là: Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang.
Vcơ cấu tổ chc, Hội đoàn kết sư i yêu nưc tnh, thành phố hin có 3 hình thc: c tnh Kn Giang và Trà Vinh, Hội đưc tchc ở 3 cp (cp tỉnh - cấp huyện và cơ s); tnh c Trăng, Hi đưc tổ chc 2 cấp (cp tỉnh và huyn); c tnh, thành phố: Cà Mau, Bc Liêu, Hậu Giang, Vĩnh Long và Cn Thơ, Hi đưc tổ chc chỉ ở cấp tnh, không có cấp huyn và cơ s. Nhiệm kca Hi ở cp tnh, cấp huyện là 5 năm; cấp chi hi nhiệm klà 2,5 năm.
Ban Chấp hành Hi đoàn kết sư sãi yêu nưc cấp tnh có:
    • 01 Chtch (hoặc Hi trưng)
 
    • 01 Phó Chủ tch Thưng trc
    • Các Phó Chủ tch
 
    • Các y viên chuyên trách
 
    • Thư ký
    • Thủ qu

Ban Chp hành Hi (Chi hội) đoàn kết sư sãi yêu nưc cp huyn có:
    • 01 Hội trưng
 
    • Các Phó Hội trưng
 
    • Các y viên chuyên trách
 
    • Thư ký
    • Thủ quỹ Tại c chùa:



STT



Đa phương



Nhim k

Số thành viên Ban Chp
hành



Nời đứng đu

1

Kiên Giang

V (2009 - 2014)

35

HT. Danh Nhưng

2

Sóc Trăng

VII (2012 - 2017)

48

HT. Dương Nhơn

3

Bạc Liêu

V (2008 - 2013)

15

HT. Lý Sa Mouth

4

Trà Vinh

V (2009 - 2014)

24

HT. Thạch Oai

5

nh Long

I (2009 - 2014)

15

TT. Sơn Ngc Huynh

6

Cà Mau

V (2011 - 2016)

37

TT. Thạch Hà

7

Cần Thơ

V (2011 - 2016)

25

HT. Lý Sân

8

Hậu Giang

II (2011 - 2016)

15

ĐĐ. Lý V

Tng cng

214
 
Có vị đng đầu gọi là Sãi c. Đây là ngưi đng đu chùa (trtrì). Trưc đây sãi cthưng là vsư ln tui, tu nhiu năm, đạo hnh trang nghiêm, tiếp đó có các vị Sãi phó, là các vPhó Trụ trì, các vị Acha là nhng ngưi chuyên dy giáo lý trong chùa và các sư tăng tu học. Thông thưng, một ngôi chùa Khmer có khoảng 20 - 25 vị sư tu học.























Về Hi viên, Hi ở c Trăng quy đnh tt cả các vsư i tbc Sadi trở n trong Pht go Nam tông Khmer ti địa phương đều là hi viên ca Hi đoàn kết sư i yêu nưc. Mt shi ở các tnh, thành phố kc li quy đnh chnhng vsư i t18 tui trở lên, có tnh đPht hc cơ bn, không bị klut đo, không vi
 
phạm pháp lut nhà nưc, nếu tán thành Điều lệ hi, tnguyn làm đơn xin gia nhập tđưc xét kết np vào Hi.
  1. Hoạt động ca các hội đoàn kết sư sãi yêu nước - Một minh chng sâu sắc cho sự gắn bó đng hành cùng dân tộc ca Phật giáo Nam tông Khmer Việt Nam
Như đã trình bày ở trên, sư i Pht giáo Nam ng Khmer là nhng ngưi có mt vai trò đc bit quan trng trong đi sng ca đng bào Khmer. Sư i được nhân dân sùng kính. Nhìn vmt nh chính thì sư sãi không tham gia sn xut và qun lý xã hi, nhưng tiếng nói và ý kiến ca chư tăng có ý nghĩa quan trng đi vi sinh hot ca mi phum, sóc. Mi tín đđu nghe li nói ca c vsư, vì cho đó là li nói ca Pht và tin tưng làm theo. Vi xã hi, nhà sư là thiêng liêng bt khm phm trong sut thi gian mc áo cà sa. Pháp lut chtruy tkhi bHi đng kỷ lut sư i trc xut vthế gian. Vi các đa phương có tchc Hi đoàn kết sư sãi yêu nưc, hu hết các v sư Khmer đu tham gia vào Hi và do đó, tchc Hi đoàn kết sư sãi yêu nưc vn gimt vtrí đặc bit quan trng, có ảnh hưng đến nhiu vn đxã hi và đi sng sinh hot tín ngưng, tôn giáo ca ngưi n Khmer khu vc Tây Nam b.
Trong giai đoạn hiện nay, sự gắn bó đồng hành cùng dân tộc của Phật giáo Nam tông Khmer đưc thể hiện sâu sắc qua nhiều phương diện, trong đó có sthể hin qua hoạt động và vai trò, nhim vụ của Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc, trong cả lĩnh vc Thế sự và một số lĩnh vc thuộc công tác Phật s.
Chc năng, nhim vụ của Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc là tập hp, vận động các chc sắc, sư sãi, tín đPhật giáo Nam tông Khmer nêu cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, chấp
 
hành tốt chủ trương đưng lối của Đảng, chính sách pháp lut của Nhà nưc, hưng ng tham gia tích cc các phong trào thi đua yêu nưc, các cuc vận động của Mặt trận và đa phương, góp phần xây dng và bảo vệ Tổ quốc.
Qua thc tế hot đng, các Hội Đoàn kết sư sãi yêu nưc của 8 tnh đã thể hiện tốt vai trò là trung tâm đoàn kết, vận động bà con dân tộc Khmer tích cc lao động sản xuất, nâng cao đi sống, xóa đói gim nghèo, xây dng nông thôn mi. Bên cạnh đó, cùng vi sự phối hp, giúp đỡ của các cp chính quyn, Hi Đoàn kết sư sãi yêu nưc đã vn động đng bào dân tộc Khmer không ngng phát trin kinh tế để ổn đnh đi sống, xây dng quê hương, phum, sóc giàu đẹp và nơi thtự trang nghiêm; vận động con em ngưi dân tộc học tập văn hóa, học nghề để tmình tạo cuộc sng bền vng; phát huy nhng truyn thống, phong tc tập quán tốt đẹp của dân tộc Khmer và dân tộc Kinh trong quá trình đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, p phần quan trọng trong việc giáo dc, gìn gi, bảo tồn và phát huy bản sc văn hóa dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo của Phật giáo Nam tông Khmer.
Hội còn làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, qua đó, các vị sư sãi, Achar, Ban Quản trị chùa và bà con Phật tử Khmer ngày càng nâng cao ý thc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nưc. Các phong trào thi đua yêu nưc, các cuộc vn động ln của Mặt trận Tổ quốc các cấp luôn đưc Hội Đoàn kết sư sãi yêu nưc quan tâm, động viên sư sãi và đng bào Phật tử Khmer tham gia tích cc, góp phần nâng cao dân trí, đảm bảo trật tự an toàn xã hội và tăng cưng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
 
Hi Đoàn kết sư sãi yêu nưc còn là tổ chc có đóng góp quan trng trong việc vận động, đoàn kết sư sãi, Phật tử Khmer sống tốt đi, đẹp đạo, theo đúng phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hi"; thc hiện việc tu, hành đạo đúng theo chính pháp, đúng pháp luật; phát huy truyền thống đoàn kết của các dân tộc Khmer, Kinh, Hoa trong cộng đng, ra sc xây dng và phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp.
Hi đoàn kết sư sãi yêu nưc đã tích cực tham gia phát triển giáo dục, xóa mù chữ phổ thông và chữ Khmer cho sư sãi và thanh thiếu niên; tăng cưng việc mlp học trong trưng chùa để giảng dy kinh luật, giáo lý cho tăng sinh, mở lp tiếng Khmer, song ng, bổ túc văn hóa, học nghề cho con em đồng bào dân tộc Khmer... Hội cũng vận động sư sãi, tín đPhật giáo Nam tông Khmer trong hoạt động lễ nghi tôn giáo theo hưng thiết thc, tránh phô trương, thc hành tiết kiệm và bài trmê tín, dị đoan; vận động tín đồ và đồng bào dân tộc tham gia thc hiện chính sách xã hội, chăm sóc gia đình liệt sĩ, gia đình nghèo, tích cc tham gia hoạt động xã hội; vận động đồng bào, Phật tử luôn đoàn kết và chp hành sự điều hành quản lý của chính quyền đa phương, tạo mối quan hệ thân thin với các tôn giáo bạn để cùng nhau góp phần xây dng quê hương.
Theo truyn thống của đồng bào dân tộc Khmer, dân tc và tôn giáo luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, quan nim khi sinh ra đều xem mình là tín đPhật giáo Nam tông Khmer. Ngôi chùa kng chỉ là nơi sinh hoạt phật sự mà còn là trung tâm giáo dục cho cộng đồng về đạo đc, văn hóa, sinh hoạt tâm linh, hội tụ các vị sư sãi và đồng bào Pht tử tiếp nối truyền thống Phật giáo Nam tông Khmer trong lòng dân tộc, đoàn kết
 
tương trợ lẫn nhau, giúp nhau xóa đói gim nghèo. Trong nhng năm qua, các cấp Hội luôn quan m đến vic trùng tu, tôn tạo các cơ sở thờ t. Đưc sự giúp đ, tạo điều kiện của cấp y Đảng, chính quyn và Mặt trận các đa phương, Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc cùng vi Ban Quản trị chùa đã vận động, quyên góp sa cha, tôn to nhiều ngôi chùa Khmer khang trang, đẹp đẽ, trở thành nơi sinh hoạt thưng xuyên của tín đồ, Phật tử tại mi phum, sóc.
Hàng năm, các lễ hội ln của đồng bào Khmer như Tết Chol Chnam Thmay, Sen đol ta, Ok om bok, lễ Dâng y, Phật đản, lễ hội đua thuyền, ghe ngo… đều đưc Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc các địa phương tham gia tổ chc trọng thể, theo đúng truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer. Việc làm đó không chỉ tạo nên không khí phấn khi, đoàn kết trong đồng bào Khmer mà còn góp phần thc hiện bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, đm đà bản sắc dân tộc.
Hi đoàn kết sư sãi yêu nước còn tích cc trong việc phát huy sc mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thi đua lao động, sản xuất, nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kthuật trong đng bào dân tộc Khmer; xây dng cơ sở hạ tầng làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đi sống kinh tế ở đa bàn có đông đng bào dân tộc Khmer; xây dng tổ chc hội ngày càng vng mạnh, hoạt động đi vào nn nếp, không ngng nâng cao về trình độ nhận thc trong tình hình mi của đất nưc, lý luận chính tr; tăng cưng sc mnh đoàn kết nội bộ, kiện toàn tổ chc hội; tích cc tham gia đóng góp xây dng, chính quyn, mt trận, các đoàn thể trong sạch, vng mạnh…
 
Phát huy truyền thống tương tr, giúp đỡ trên cơ sở phương châm sng "tt đi đp đạo", Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc các cấp trong nhng năm qua, với vai trò, chc năng, nhim vụ, đã phối hp với chính quyền, Mặt trận, đoàn thể đưa hoạt động của Phật giáo Nam tông Khmer đi vào nn nếp, tích cc vận động sư sãi, tín đồ tham gia có hiệu quả vào các phong trào như cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Học tp và làm theo tm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận đng “Ngày vì người nghèo”…
Các cấp Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc cũng luôn quan tâm ti phương tiện hành trì đạo hạnh theo truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer, vi sự hỗ trợ của các cấp chính quyn đã in ấn hàng ngàn quyển kinh sách bằng chữ Khmer, chữ Pali phát đến tận chùa. Nhm nâng cao trình đPhật học và thế hc của chư tăng Khmer, hàng năm có rất nhiều vị sư được các cp Hội cử đi hc ở các trưng trong nước như Trưng Bổ túc văn hóa Pali trung cấp tnh Sóc Trăng, Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và đi du học ở nưc ngoài.
Hoạt động từ thiện xã hội cũng luôn luôn đưc Hội đoàn kết sư sãi yêu nưc quan tâm, coi là một trong nhng công tác trọng tâm, đưc các sư sãi, đồng bào tín đồ, Phật tử tích cc hưng ng, nhất là các phong trào giúp đỡ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, phong trào xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xây dng nhà tình thương, cứu trợ đồng bào bị lũ lụt, thiên tai… vi giá trị vật chất quyên góp ủng hộ hàng năm lên đến hàng trăm tỉ đồng. Ngoài ra, Hội còn có nhim vụ góp phần chăm lo và bảo
 
vệ quyền li hp pháp, chính đáng của sư sãi và đồng bảo Pht tử Khmer theo quy đnh của pháp luật.
Trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở các tnh Tây Nam bộ, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước tiếp tục là tổ chc tập hp vận động sư sãi, đồng bào Phật tử Khmer phát huy tinh thần yêu nước, phụng đạo giúp đi, phát huy truyền thống “Hộ quc an dân” của Phật giáo nlch sử đã tng ghi nhận; không ngng tu dưỡng đạo đc, thc hiện tốt nghĩa vụ công dân, tăng cưng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nêu cao tinh thần hòa hp, bình đẳng các tôn giáo để “hoằng dương Chánh pháp, li lạc quần sinh, thực hiện các hoạt động phật sự theo phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hi”, tích cực thi đua yêu nưc, có nhiều cng hiến để đy nhanh phát triển kinh tế - xã hội ở đa phương, góp phần thc hiện thắng li sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nưc, xây dng và bảo vệ Tổ quốc, vì dân giàu, nưc mnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
  1. Một số đxuất, kiến nghị nhm tiếp tc phát huy vai trò ca Hi
  • y ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chc năng ở trung ương cần sm rà soát mọi mặt (ưu đim, thuận lợi cũng như hạn chế, khó khăn) về tổ chức, cơ chế và điều kiện hoạt động hiện nay của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước ở 8 tỉnh Tây Nam bộ. Từ đó đề xuất lãnh đạo Đảng, Chính phủ có cơ chế chính sách đặc thù cho tổ chc và hot động của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nưc vì đây là tổ chc thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tnh, thành phố trong khu vực, nhất là quy định về việc hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động thường xuyên, đột xuất, phụ cấp đối với các chc danh lãnh đo và chuyên trách
 
văn phòng của Hội (hoặc quy định về số biên chế tối thiểu đối với cơ quan văn phòng chuyên trách, giúp cho lãnh đạo Hội xây dựng, tổ chc triển khai các hoạt đng.
  • Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần có Thông bạch hướng dẫn chuyên đề cho Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo ở các tỉnh Tây Nam bộ về việc phối hợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau và thng nhất hành động giữa Ban Trị sự và Hội đoàn kết sư sãi yêu nước trong việc triển khai các công tác Phật sự và Thế sự ở địa phương. Qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động của cả Giáo hội và Hội, đồng thời tăng cường tình đoàn kết, hòa hợp giữa tăng ni và chư tăng Phật giáo ở địa phương. Thông qua Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tiếp tục hỗ trợ Hội đoàn kết sư sãi yêu nước trong vic in ấn và nhập kinh sách phục vụ việc tu học của sư sãi, tín đồ Phật tử Phật giáo Nam tông Khmer. Số kinh sách y sẽ được chuyn trực tiếp đến từng chùa hoặc do các chùa đăng ký nhập từ Campuchia sẽ được hỗ trợ về thtục.
  • Các cơ quan chức năng tiếp tục xem xét, phát hiện, biểu dương, khen thưng cho nhng vị sư sãi có công lao, đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chng Mỹ và trong giai đoạn đổi mi, xây dng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay để kp thi động viên sư sãi, đng bào Phật giáo Nam tông Khmer.
  • Có kế hoạch và lộ trình cthể để sm gp sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer nâng cao về cả trình độ Thế học và Phật học; về khả năng sử dng chữ Quốc ngữ và nói tiếng phổ thông1.

1 Về trình đPhật hc: Kinh điển Phật giáo Nam tông hầu hết bng chPali. Phần đông sư sãi lại không thành thạo chnày, sngười gii chPali ít. Đây là mt hạn chế ln ca sư sãi trong việc tiếp nhận và truyn bá giáo lý, phbiến các chủ trương chính sách ca Đng và Nhàớc. Tuy nhà nưc đã được mở trưng B

Một vấn đề khác là chùa có cơ ngơi ln, cơ sở vật cht không nhỏ, sư trẻ thiếu kinh nghim trong việc qun lý, điều hành các hoạt động trong chùa và trong quan hvi chính quyền, Mặt trn cũng như trong phục vụ tín ngưng tôn giáo cho Phật tử và nhân dân.































túc Văn hóa Pali Trung cấp ở Sóc Tng, nhưng nội dung chyếu hc Bổ túc Văn hóa, chPali chỉ có mt stiết hc rất ít. Sư sãi sau khi tt nghiệp khóa hc ở đây về chPali chưa phải là thành tho. Sư không giỏi chPali, đọc Kinh Phật vnghĩa lý không hiểu được bao nhiêu, khó có thging giải cho tín đPhật thiểu được giáo lý mà thực hành theo.
Cũng do đặc t, biệt truyn ca hphái nên hin nay số lượng chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer có trình đTrung cấp Phật học không nhiu, trình đCao cấp Phật hc lại càng hạn chế.
Sư trụ trì chùa phần đông ở đtui còn trẻ, ssư trẻ ngày chưa có nhiều kinh nghim, chưa có trình đvmi mặt nhất là v Phật học và Thế hc. Số sư trẻ chiếm tlệ cao đặt ra nhiều vấn đề cn phải suy nghĩ, bởi sư trụ trì là người qun lý chùa, là ngưi thy ng dẫn vmi mặt từ giáo lý, tổ chức lễ nghi, đến quan hệ ứng xử trong chùa và xã hi...
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây