SỰ NGHIỆP KẾ THỪA NƠI TỔ ĐÌNH SẮC TỨ LINH THỨU

Chủ nhật - 10/03/2019 06:10
SỰ NGHIỆP KẾ THỪA NƠI TỔ ĐÌNH SẮC TỨ LINH THỨU
TKN. Trung Nhã – TKN. Trung Hữu
SỰ NGHIỆP KẾ THỪA NƠI TỔ ĐÌNH SẮC TỨ LINH THỨU
TKN. Trung Nhã – TKN. Trung Hữu

Nói đến Phật giáo Tỉnh Tiền Giang không thể không nhắc đến Chùa Sắc Tứ Linh Thứu. Và khi nhắc đến Chùa Sắc Tứ Linh Thứu không thể không nghĩ đến Ni trưởng Thích Nữ Như Chơn. Năm nay,  Tỉnh hội Phật giáoTiền Giang hân hạnh tổ chức Lễ tưởng niệm thường niên đối với Thánh Đại Tổ Đại Ái Đạo. Lễ tưởng niệm cũng là dịp để tôn vinh chư Tiền bối Ni mà sự tu hành và cống hiến của quý Ngài, xứng đáng là tấm gương sáng ngời lưu danh muôn thuở.
Ni trưởng Như Chơn, tự Diệu Chơn, hiệu Trí Hiển, húy Nhựt Hương, sinh năm 1917 tại làng Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Người là đệ tử đắc pháp với Sư Tổ Hoằng Khai Kiểu Đạo, hiệu Thiện Minh Hồng Khê chùa Hội Phước-Tân Thạch, Bến Tre. Thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41.
Thân sinh của Ni trưởng là cụ ông Nguyễn Văn Thiện, thân mẫu là cụ bà Đoàn Thị Nga, thuộc gia đình trung lưu, đạo đức. Là con gái út trong một gia đình có 10 anh em, nên Ni trưởng rất được cha mẹ thương yêu chiều chuộng. Nhà ở gần chùa Sắc Tứ Linh Thứu nên Ni trưởng thường theo mẹ đến chùa lễ Phật trong những ngày rằm vía. Do vậy dần dần Ni trưởng đã mến mộ Phật pháp. Với lòng kính tin Tam bảo, Người thường xuyên đến chùa công quả, tụng kinh để kết duyên lành. Năm 16 tuổi thọ Tam quy Ngũ giới với Ngài Chơn Huệ trụ trì chùa Sắc Tứ Linh Thứu.
Năm 1935, tròn 18 tuổi, cha mẹ muốn cho lập gia thất, nhưng Người đã từ chối và xin được xuất gia. Được cha mẹ bằng lòng, Ni trưởng đến chùa Bảo Tàng, xã Tầm Vu, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, thế phát xuất gia. Sau khi xuất gia, Ni trưởng vân du tầm sư học đạo. Hễ nghe nơi nào có mở các lớp học Phật pháp là Người tìm đến xin học. Năm Đinh Sửu 1937, Ni trưởng đến chùa Long Thạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, đảnh lễ Ni sư Thích Như Trí Diệu Kim (Bảo An) xin nhập chúng, theo Hòa Thượng Bửu Chung học giáo lý và Hòa Thượng Hoằng Thông học sự. Năm 1938, Ni trưởng đến chùa Hội Phước ở Rạch Miễu tỉnh Bến Tre để xin thọ tam đàn cụ túc do Tổ Sư Hoằng Khai truyền thọ. Suốt 5 năm  tu học tại đây, Người đắc pháp với Cụ Tổ Hoằng Khai Kiểu Đạo.
Năm Canh Thìn 1940, Tổ Hoằng Khai Hồng Khê khai trường Hương tại chùa Thiên Phước, Tân Hương, Khánh Hậu, Long An, Ni trưởng cùng các huynh đệ xin nhập hạ ba tháng. Trong lần An cư này Người được đại chúng công cử làm chánh chúng trong Ban Chức Sự trường hạ.
Năm Quý Mùi 1943, cụ Tổ Khánh Anh khai lớp gia giáo tại chùa Linh Phong dạy về Duy Thức Học, Ni trưởng cùng với chư huynh đệ tham học. Từ năm 1944 đến năm 1948, Ni trưởng theo học kinh, luật tại chùa Vạn An,  chùa Viên Giác – Bến Tre, hội Lưỡng Xuyên Phật Học (Trà Vinh). Sau đó lại được học Trường Cao Cấp cùng với Ni Sư Thông Huệ, do Hòa Thượng Thiện Hòa từ Huế về dạy tại chùa Bảo An Bến Tre. Năm 1957- 1968, Hòa Thượng Trí Tịnh mở lớp tại chùa Vạn Đức ở Thủ Đức dạy Đại Thừa Chỉ Quán và Pháp Hoa Thông Nghĩa, thì hai Ni trưởng cũng chuyển về đó học hai năm.
Năm 1950, quê nhà chiến tranh loạn lạc, Hòa Thượng Thành Đạo trụ trì chùa Sắc Tứ Linh Thứu về Sài Gòn, giao trọng trách Phật sự tại Tổ Đình Linh Thứu cho ba vị Ni trưởng kề vai gánh vác.
Đặc biệt dưới thời Ni trưởng Như Chơn, Tổ đình Sắc Tứ Linh Thứu là một nơi tu học lý tưởng, là địa điểm chư ni trong và ngoài tỉnh tìm đến nương tựa, trao dồi tam vô lậu học. Sau đây là một số công tác Phật sự của Ni Trưởng Như Chơn gắn liền với Tổ đình Linh Thứu.
Năm 1956, Ni trưởng Như Thanh thành lập Ni Bộ Nam Việt, Người được cung thỉnh vào Ban Quản Trị Ni Bộ Việt Nam. Năm 1957, Ni trường Dược Sư – Gò Vấp được dời về Tổ Đình Sắc Tứ Linh Thứu và mở lớp gia giáo bốn năm. Lớp có 20 ni sinh, giao cho Ni trưởng Thông Huệ quản lý, cùng với Ni trưởng Như Chơn và Ni trưởng Như Nghĩa đảm trách giảng dạy. Từ năm 1973-1979 Ni trưởng giữ chức vụ Đại Diện Ni Bộ Bắc Tông tỉnh Định Tường (tên cũ của Tỉnh Tiền Giang).
Từ năm 1960 – 1975, thời kỳ mà tình hình chính trị cũng như kinh tế đất nước vô cùng khó khăn, nhưng ba Ni trưởng đã rất cố gắng để khởi công đại trùng tu ngôi Già lam, lần lượt xây dựng lại từ Chánh điện, nhà Tổ, rồi đến Cổng tam quan, Thiền đường, Giảng đường.
Trong quá trình hành đạo, Ni trưởng Như Chơn đã đóng góp công lao rất nhiều cho Giáo hội, cho Phật pháp, vì vậy đã được Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật giáo tỉnh Tiền Giang đề nghị tấn phong Ni trưởng trong lần Đại Hội Phật Giáo Tòan Quốc kỳ II, tháng 11 năm 1987 tại Hà Nội. Ni trưởng cũng được Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh mời vào làm thành viên Mặt Trận Tổ Quốc nhiệm kỳ IV.
Với uy tín của bản thân và điều kiện thuận lợi của ngôi chùa, năm 1987, Tỉnh hội Phật giáo Tiền Giang mở khóa An cư Kiết hạ cho chư Ni tại chùa Linh Thứu, Ni trưởng đương kim chức vụ Chủ Hương trường Hạ, Ni trưởng Như Nghĩa làm Hóa Chủ, Ni trưởng chùa Vạn Phước Kim Sơn làm Thiền Chủ. Nhờ oai lực Tam Bảo, sự hộ trì của Tỉnh hội Phật giáo nên khóa An cư năm đó được thành công viên mãn. Sau khóa An cư, chùa Linh Thứu lại bước vào giai đoạn trùng tu mới sau nhiều năm đình trệ, đến năm 1991 thì công trình viên mãn.
Dù tuổi cao sức yếu nhưng vì tiền đồ Phật pháp, Ni trưởng vẫn luôn luôn gương mẫu đảm nhiệm chức vụ Chủ Hương trường hạ nhiều năm liền tại Tổ đình. Ngoài ra Giáo hội Tỉnh cứ 5 năm khai đại Giới đàn truyền giới cho Tăng Ni trong tỉnh, Tổ Đình Linh Thứu luôn là điểm chính để tổ chức Giới đàn Ni. Ni trưởng phải đảm trách ngôi vị Đàn đầu truyền giới cho Ni chúng trong các Đại Giới đàn An lạc, Đôn Hậu, Từ Lâm, Thiên Trường.
Đến năm 1994, sức khỏe ngày một yếu dần, muốn dành nhiều thời giờ cho việc chuyên tu, Ni trưởng giao lại trọng trách đồng trụ trì cho các vị đệ tử Ni sư Như Quang, Ni Sư Như Thanh, và Ni Sư Như Phú. Dù không còn chính thức làm trụ trì nhưng sự hiện diện của Ni trưởng là niềm an ủi và động viên mạnh mẻ cho ban trụ trì cũng như ổn định việc tu hành của đại chúng.
Gần cả cuộc đời cống hiến cho Giáo hội và lo cho đại chúng, những tưởng sau khi giao trách nhiệm trụ trì cho đệ tử, Ni trưởng có thể an nhàn những năm tháng cuối đời, nào ngờ đâu thế sự trớ trêu, ba vị kế thừa thì hai vị đều sớm quy Tây, chỉ còn lại Ni sư Như Phú, thế là Ni trưởng phải tiếp tục gánh vác Phật sự. Có thể nói, 3 huynh đệ Như Chơn, Như Nghĩa và Thông Huệ là một biểu hiện của tinh thần hòa hợp. Ba vị đồng làm trụ trì, mỗi người phụ trách một mảng để chia sẻ Phật sự và dạy dỗ ni chúng một cách hòa hợp, mà không phải ai cũng làm được. Đây thật sự là một tấm gương mà chúng ta ngày nay cần phải học tập. Dưới sự giáo dục của ba vị, nhất là Ni trưởng Như Chơn, hàng chục đệ tử và hàng trăm đệ tôn đã được trưởng thành từ mái chùa Linh Thứu thân thương, trong đó có những vị có vai trò quan trọng trong Giáo hội Tỉnh nhà như Ni trưởng Như Bình, Ni sư Như Quang, Ni sư Như Minh v.v…
Do gánh vác nhiều trách nhiệm nặng nề nên sau một thời gian lâm trọng bệnh. Ni trưởng đã an tường thị tịch, để lại bao niềm kính tiếc cho Môn đồ pháp quyến cùng tăng ni và Phật tử gần xa.
“Vun công bồi đức suốt cuộc đời
Thuyền từ tế độ khắp nơi nơi
Vang danh Ni trưởng chùa Linh Thứu
Hạnh tu giới đức đẹp đạo đời.
Hóa duyên ký tất ánh sao rơi
Đồ chúng giờ đây khóc nghẹn lời
Tràng phan bảo cái hương trầm đốt
Cực lạc xin Người hãy thảnh thơi”.
Một trong những đệ tử ưu tú của Sư bà Như Chơn là Ni sư Thích nữ Như Quang.
Ni sư Như Quang pháp hiệu là Quang Huy, sinh năm Giáp Thân 1944, tại Nhơn Thạnh Trung, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An (nay là Nhơn Thạnh Trung, xã Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Long An). Sinh ra và lớn lên trong một gia đình gia phong lễ giáo, nhờ đó Ni sư đã hấp thụ những tinh hoa của Tổ phụ. Vốn phúc duyên sẵn có nên khi còn thuở ấu thời Người đã tầm sư học đạo. Người đã xuất gia tu học với 3 vị Ni Trưởng Thông Huệ, Như nghĩa và Như Chơn ở tuổi mười hai tại Tổ Đình Sắc Tứ Linh Thứu. Từ đó Ni sư được nuôi dưỡng bằng cơm thiền sữa pháp và trưởng thành trong môi trường giáo dục lý tưởng dưới sự hướng dẫn của 3 vị Tôn Sư. Trong quá trình hành đạo, năm 1985, Ni sư được GHPG Tỉnh Tiền Giang phân công làm Phó thư ký kiêm Chánh văn phòng của Giáo hội tỉnh nhà, trong suốt qua 3 nhiệm kỳ liên tiếp.
Từ năm 1991 đến năm 1993, Tỉnh hội bố trí Ni sư làm ủy viên Ban trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang, ủy viên ban văn hóa huyện Châu Thành, kiêm Phó ban Tăng sự đảm trách bên ni giới. Với những cống hiến to lớn cho Giáo hội như vậy, năm 1993 Ni sư Như Quang được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong Giáo phẩm Ni sư. Cùng năm, Ni sư đảm trách chức vụ ủy viên Ban hướng dẫn Phật tử tại Tỉnh nhà. Lúc bấy giờ Phật giáo tỉnh nhà đã được đi vào nề nếp, các công tác Phật sự ngày càng nhiều, từ việc tổ chức các khóa bồi dưỡng trụ trì, tổ chức các đại giới đàn cho đến an cư kiết hạ v.v… Ni sư đã không từ nan bất cứ công việc gì. Khi tỉnh nhà có tổ chức Hạ trường cho ni giới, Ni sư phụ trách thư ký Nhà thiền tại các Hạ trường. Ni sư đã cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài, đào tạo một thế hệ tiếp nối Tăng Ni trẻ với đầy đủ giới-đức-hạnh ưu khả dĩ tiếp nối sứ mệnh kế vãng khai lai.
Ngoài những công tác Phật sự của Giáo hội ra Ni sư còn tham gia nhiều công tác khác tại địa phương. Với tinh thần đạo và đời bất ly, Ni sư đã đồng hành với chính quyền địa phương trong công tác từ thiện xã hội, như cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, phát quà cho người nghèo và xây nhà tình thương cho người người nghèo ở vùng sâu vùng xa. Dù bận rộn với những trọng trách do Giáo Hội giao phó, Ni sư cũng không quên trách nhiệm và bổn phận của mình tại tổ đình Sắc Tứ Linh Thứu. Ni sư rất chăm lo đời sống của đại Chúng. Ni sư luôn đồng hành với đại chúng trong mọi sinh hoạt. Ngày 20/ 05/ 1994, Ni sư Như Quang cùng với hai huynh đệ nữa là Ni sư Như Thanh và Ni sư Như Phú được thầy bổn sư là Ni Trưởng Thượng Như Hạ Chơn truyền trao ngôi vị trụ trì, trên tinh thần “tiền tam tam – hậu tam tam”.
Với Ni chúng ở Tỉnh nhà, Ni sư cũng luôn thương yêu giúp đỡ bằng tình thương của người chị để các em có điều kiện thuận lợi trên bước đường tu học. Ni sư đã thành lập gia đình phật tử Oanh Vũ. Gia đình Phật tử Oanh Vũ là gia đình Phật tử duy nhất của Phật giáo Tỉnh Tiền Giang thời bấy giờ.  
Dù thân mang trọng bệnh, nhưng Ni sư luôn hoan hỷ để Thầy và ni chúng yên tâm. Cơn vô thường đến, Ni sư viên tịch vào một ngày đầu Xuân năm Bính Tý (1996), ở tuổi 54.
“Sắc Tứ mai vàng buồn rơi trong gió
Đàn én nhỏ chao nhẹ giữa tầng không
Văng vẵng nghe một tiếng chuông ngân
Nhớ Tôn sư đã về nơi miên viễn.”
Ni sư ra đi để lại niềm xót thương vô hạn cho Ni trưởng và hàng đệ tử còn thơ dại. Cả cuộc đời Người đã hi sinh cho Đạo pháp và tha nhân đến quên cả bản thân mình. Cuộc đời Người là bài học quý mà chúng con cần phải học. 
Giờ đây những đệ tử của Ni sư đều đã trưởng thành, tiếp nối hạnh nguyện phụng sự đạo pháp, lợi lạc tha nhân. Có người đã trụ trì, có người đi tu học và hành đạo ở những trú xứ khác, trong và ngoài nước. Những người còn lại thì tiếp tục tu học và hành đạo tại tổ đình Sắc Tứ Linh Thứu. Có những vị chuyên tu, có những vị theo học và hoàn thành các chương trình giáo dục Phật giáo như cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Dù rằng mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau nhưng tất cả chúng đệ tử cũng như đàn hậu học đều nhớ đến Ni sư, bậc Thầy khả kính với tất cả tấm lòng tôn kính và biết ơn sâu sắc. Trên những dặm đường chúng con đi, mỗi một Phật sự chúng con làm, chúng con tin chắc là có sự gia trì của Ni sư để chúng con được thành tựu và vững chãi trên con đường mà mình đã chọn.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây