PHẬT BỬU NI TỰ NGÔI CHÙA NI ĐẦU TIÊN CỦA TIỀN GIANG

Thứ bảy - 09/03/2019 08:45
PHẬT BỬU NI TỰ NGÔI CHÙA NI ĐẦU TIÊN CỦA TIỀN GIANG VÀ QUÁ TRÌNH TRUYỀN THỪA, PHÁT TRIỂNTKN. Như Trang
PHẬT BỬU NI TỰ NGÔI CHÙA NI ĐẦU TIÊN CỦA TIỀN GIANG VÀ QUÁ TRÌNH TRUYỀN THỪA, PHÁT TRIỂN
 
TKN.  Như Trang
1. LỜI DẪN

Phật Bửu Ni tự hiện tọa lạc tại phường 1, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Chùa được thành lập năm 1947, tên gọi đầu tiên là Phước Bửu Ni tự. Đến năm 1949, chùa được đổi tên thành Phật Bửu Ni tự. Đây còn là ngôi chùa Ni đầu tiên của tỉnh Tiền Giang, đồng thời trở thành một trong những địa chỉ hoạt động sôi nổi của tổ chức Ni bộ Bắc Tông ở khu vực Tây Nam Bộ trước năm 1975. Người khai sơn ngôi chùa này chính là vị danh Ni nổi tiếng không chỉ của Tiền Giang mà còn của cả miền Nam Việt Nam thời trước: Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh (1916 - 1982) - Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt nhiệm kỳ II (1968 - 1972). Trải qua quá trình hình thành và phát triển hơn 60 năm, ngôi chùa Phật Bửu gắn liền với bao thăng trầm, hưng phế của thời gian, nhưng mạng mạch truyền thừa vẫn được chư Ni duy trì nhằm kế tục sự nghiệp của Ni trưởng khai sơn, đoàn kết, gắn bó giữ gìn truyền thống tông phong nhằm thắt chặt đạo tình linh sơn. Vì thế, ngày nay, chùa là một niềm tự hào lớn của Ni giới Tiền Giang, một chốn tu học trang nghiêm, xứng đáng là ngôi già lam.
Nhân dịp Đại lễ Tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo và chư tiền bối Ni tại tỉnh Tiền Giang năm 2019, tôi xin giới thiệu về lịch sử ngôi chùa Phật Bửu cũng như quá trình truyền thừa, phát triển của các thế hệ trong hơn 60 năm qua. Qua đây góp phần khơi gợi niềm tự hào về truyền thống của Ni giới trên mảnh đất Tiền Giang cây trái hiền hòa, phong cảnh tươi đẹp, con người thanh lịch.

2. NGÔI CHÙA NI ĐẦU TIÊN CỦA TIỀN GIANG

Ngày nay, chùa nằm tại trung tâm của thị xã Cai Lậy với cảnh náo nhiệt mỗi ngày của phố chợ. Tuy nhiên, thuở ban đầu xây dựng, Phật Bửu Ni tự được hình thành trên mảnh đất đầm lầy, thưa vắng người sinh sống.

Được biết, Ni trưởng Liễu Tánh, sau quá trình tu học tại Ni viện Diệu Đức (Huế), trở về Nam gặp cảnh chiến tranh loạn lạc, sau về lại quê hương Cai Lậy để tìm đất cất chùa, tiếp độ đệ tử tu tập. Vào năm 1947, thân phụ của Ni trưởng phát tâm dành mảnh đất với diện tích khoảng 1.000 m2 để xây dựng Tự viện, tạo điều kiện cho Ni trưởng hoằng dương chánh pháp tại quê nhà. Ban đầu, ngôi chùa khá đơn sơn, vốn được tạo lập bằng vật liệu chủ yếu là tre lá. Hoàn cảnh thời bấy giờ tuy khó khăn nhưng đã không làm Ni trưởng lung lay chí nguyện tu học, dấn thân phụng sự Đạo pháp. Một năm sau đó (1948), hội đủ nhân duyên, Ni trưởng Liễu Tánh đã thế phát xuất gia cho nhiều vị đệ tử: “Về đến Cai Lậy, Thầy cố gắng tìm miếng đất để cất chùa Sư nữ hiệu là Phật Bửu vào năm 1947. Các đệ tử Minh Huệ, Minh Lạc, Minh Viên, Minh Nhựt, Minh Thiền, Minh Hạnh, Minh Ngọc, Minh Bổn phát tâm xuất gia. Vài năm sau, các cô Minh Thông, Minh Thuận, Minh Thiện, Minh Từ, Minh Thành, Minh Kỉnh, Minh Hiếu, Minh Nhã, Minh Hiền, Minh Quang, Huệ Đức, Huệ Thảo,…”[1] Cho nên, nhân dân trong vùng còn gọi là chùa Sư nữ. Đồng thời, đây cũng là một hiện tượng đặc biệt, vì lần đầu tiên ở vùng đất Tiền Giang xuất hiện một ngôi chùa chuyên biệt cho Ni chúng tu tập. Trước đó, chỉ có các chùa Tăng, chư Ni lại ít ỏi và chủ yếu nương tựa để chấp tác, làm công quả. Ở đây, có thể khẳng định, Phật Bửu Ni tự chính là một trong những ngôi chùa Ni hình thành sớm ở vùng đất Nam bộ. Tại Sài Gòn, ngôi chùa Ni Hải Ấn được thành lập năm 1934 bằng sự vận động của Sư cụ Diệu Tịnh. Ở Bến Tre, Tổ Khánh Hòa khai sơn Ni viện Vĩnh Bửu năm 1939, làm nơi tu học của Ni chúng. Tiếp đó, cũng trên mảnh đất Sài Gòn, Kim Liên Ni tự là nơi đào tạo Ni chúng từ năm 1947, đồng thời chùa Huê Lâm được Sư trưởng Như Thanh khai sơn trong năm này. Vì thế, có thể nói rằng, Phật Bửu Ni tự trở thành một trong những địa chỉ mở đầu cho sự phát triển Ni đoàn ở Nam bộ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.

Những năm đầu vừa mới thành lập chùa, mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn, nhưng Ni trưởng Liễu Tánh vẫn quyết tâm vừa tổ chức giảng dạy Kinh, Luật vừa tự túc kinh tế bằng việc thêu may, bán trái cây và thức ăn chay để có kinh phí nhằm duy trì sinh hoạt cho đại chúng. Nhờ đó, những năm về sau, chùa Phật Bửu nhanh chóng trở thành một Ni viện lớn, quy tụ nhiều Ni chúng đến xuất gia, tu tập: “Từ năm 1948 đến năm 1960, Phật Bửu Ni Học đường luôn có Ni chúng theo học gần 50 người dưới sự dạy dỗ của Hòa thượng Phước Trường và Sư bà.[2]

Năm 1956, Ni bộ Nam Việt được thành lập tại Sài Gòn. Sau đó, một Đại hội của Ni giới Định Tường (Tiền Giang ngày nay) được tổ chức với sự tham dự của quý Sư bà Bảo An, Hải Huệ, Thanh Lương, Huyền Huệ,… tại Phật Bửu Ni tự. Ni trưởng Liễu Tánh vừa đảm nhiệm Vụ phó Ni bộ Nam Việt vừa được suy cử trở thành người đại diện cho Ni bộ tỉnh Định Tường thời bấy giờ. Năm 1957, lớp Sơ đẳng Phật học dành cho Ni được mở ngay tại chùa. Ngoài ra, tổ chức Gia đình Phật tử Chánh Giác ra đời, quy tụ Phật tử tham gia hoạt động khá hiệu quả, sôi động vào Chủ nhật hằng tuần cũng như các dịp lễ, vía. Vì thế, trong thập niên 50, 60 của thế kỷ trước, Phật Bửu Ni tự trở thành một trung tâm các hoạt động Phật sự của Ni giới Tiền Giang. Mặt khác, với tâm nguyện hoằng dương chánh pháp, Ni trưởng Liễu Tánh còn thành công quy tụ nhiều người dân trong vùng đến chùa nghe pháp, thực hành tu tập. Năm 1957, trước cảnh tang tóc của chiến tranh, Ni trưởng đích thân tổ chức Trai đàn chẩn tế rất lớn để cầu siêu cho vong linh, thu hút đông đảo nhân dân đến tham dự. Bên cạnh đó, bằng tấm lòng từ bi của người con Phật, Ni trưởng cho mở Ký Nhi viện tại chùa để cưu mang, đùm bọc trẻ em bơ vơ, mất cha mẹ do tình cảnh chiến tranh ngày một lan rộng.

Mặt khác, gắn liền với sự phát triển và đóng góp công lao lớn đối với chùa là Hòa thượng Pháp Tạng (1890-1968), Trụ trì chùa Phước Trường (nay thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Ni trưởng Liễu Tánh cầu pháp với Hòa thượng và từng tu học tại chùa Phước Trường suốt ba năm, đích thân được Hòa thượng giảng dạy về nghi thức Thiền môn, về Phật học lẫn Hán học. Hòa thượng là người giới thiệu Ni trưởng ra Huế nhập chúng tu học tại Ni viện Diệu Đức. Đây chính là nhân duyên quý báu để Ni trưởng được học tập, nghiên tầm giáo điển Đại thừa, lĩnh hội Luật tạng từ chư Tôn thiền đức nơi đất thần kinh. Đặc biệt, vào năm 1949, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Pháp Tạng, Trung Tiểu Giới đàn Chí Thiền tổ chức tại chùa để trao truyền Giới luật Phật cho Ni chúng. Đây chính là Giới đàn Ni đầu tiên của tỉnh Tiền Giang. Tiếp đó, nhờ vào uy tín, đức độ của Hòa thượng, thực hiện tâm nguyện tiếp Ni độ chúng, Ni trưởng khai mở các Giới đàn vào năm 1958, năm 1960 do đích thân Ni trưởng làm Đàn đầu Hòa thượng truyền giới. Tư liệu hình ảnh tại Phật Bửu Ni tự lưu lại cho biết: Trước năm 1975, đã có nhiều vị Hòa thượng nổi tiếng thời đó đến viếng thăm và giảng dạy giáo lý tại chùa như: Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Thanh Từ, Hòa thượng Huyền Vi… Đặc biệt, trong chuyến thăm Việt Nam năm 1960, Đại đức Narada từ Tích Lan đến viếng chùa. Ông trao tặng xá lợi Thánh tăng đến Hòa thượng Pháp Tạng và Ni trưởng Liễu Tánh. Đây là niềm vinh dự lớn cho Ni chúng chùa Phật Bửu. Viên xá lợi này là một bảo vật được chùa gìn giữ đến hôm nay.

Mặc dù Ni trưởng Liễu Tánh bận bịu Phật sự khá nhiều, nhất là cùng gánh vác trọng trách với quý Ni trưởng lãnh đạo Ni bộ Bắc tông, nhưng ngôi chùa Phật Bửu luôn được Người dành cho sự quan tâm, ưu ái lớn. Để ổn định cho Ni chúng tu học lẫn thuận duyên hoằng pháp, Ni trưởng tiến hành trùng tu, sửa chữa lại chùa vào hai năm 1953, 1961 với sự hỗ trợ, giúp sức của hai đệ tử thân cận Minh Thiền và Minh Hạnh. Nhờ đó, ngôi chùa Phật Bửu được kiên cố hóa bằng bê tông, khang trang và đẹp hơn lúc ban đầu. Hiện tại, tổng diện tích đất chùa gồm 875m2, phía trước là khoảnh sân rộng, trong sân có ngôi bảo tháp cao 8m uy nghiêm. Tháp này thờ linh cốt của Ni trưởng Liễu Tánh. Chánh điện chùa Phật Bửu rộng 120 m2, rất thoáng mát và rộng rãi. Nét đặc biệt trong bày trí tượng thờ chánh điện là duy nhất thờ một pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Kế đó, tại gian nhà hậu Tổ, chùa đặt bàn thờ trên cao nhất Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (bằng tranh sơn dầu), phía dưới đặt hình ảnh ba vị Hòa thượng Ân Sư của Ni trưởng Liễu Tánh: Hòa thượng Huệ Đăng, Hòa thượng Chí Thiền, Hòa thượng Pháp Tạng. Cuối cùng là ảnh của các vị danh Tăng Việt Nam thời hiện đại như: Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Hoà, Hòa thượng Bửu Huệ, Hòa thượng Thiền Tâm,… Gian nhà khách ngày nay chính là giảng đường của lớp học cho Ni chúng trước năm 1975. Tại gian nhà nghỉ của Ni chúng, phía trên lầu thiết kế phương trượng của Ni trưởng Liễu Tánh để hàng đệ tử mỗi ngày hương khói thờ phụng, đồng thời lưu giữ những kỷ vật liên quan của người khai sơn ngôi Phật Bửu Ni tự. Về kỷ vật quý của Ni trưởng Liễu Tánh, chùa Phật Bửu hiện còn trưng bày: Khung tranh thêu nổi chữ Hán “Tổ Ấn Trùng Quang” thờ ở gian nhà Tổ, hai câu đối thêu nổi chữ Hán: “Nhất hoa hiển thoại châu sa giới. Ngũ diệp lưu phương biến đại thiên”.

Tóm lại, là ngôi chùa Ni đầu tiên trên mảnh đất Tiền Giang, đồng thời trải qua hơn 70 năm hình thành và phát triển, Phật Bửu Ni tự gắn liền với nhiều hoạt động nổi bật của Ni giới tỉnh nhà (giáo dục, từ thiện xã hội, giới đàn truyền thừa, sinh hoạt Phật tử, hoằng pháp,…). Vì vậy, chùa là một trung tâm sinh hoạt, tu tập của chư Ni tỉnh Tiền Giang trước đây. Nhắc đến ngôi chùa Phật Bửu không thể không nhắc đến Ni trưởng Liễu Tánh - vị danh Ni của Tiền Giang, bậc Tôn túc lãnh đạo Ni bộ Nam Việt nổi tiếng một thời. Vì vậy, đây là niềm tự hào lớn của nhiều thế hệ chư Ni chùa Phật Bửu.

3. KẾ VÃNG KHAI LAI, TRUYỀN THỪA MẠNG MẠCH

Từ ngày thành lập đến nay, mạng mạch truyền thừa ngôi Phật Bửu Ni tự được các thế hệ kế vãng khai lai, nhờ đó mà công đức và dấu ấn của Ni trưởng sáng lập được lưu truyền. Về sau, nhiều thế hệ tiếp tục giữ gìn, mở mang đạo nghiệp để xứng đáng là ngôi Tổ đình của Tông phong Phật Bửu.
Xin được kể lại đôi nét về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Liễu Tánh - người đặt nền móng cho việc hình thành, phát triển Phật Bửu Ni tự. Ni trưởng vốn sinh trưởng tại Cai Lậy, xuất thân trong gia đình tin kính Tam bảo. Năm 12 tuổi, Ni trưởng quy y với Tổ Phi Lai - Chí Thiền (1861 - 1933) - một danh Tăng nổi tiếng đất Nam kỳ tại chùa Phi Lai (Châu Đốc, An Giang) và được Tổ ban Pháp danh Diệu Tánh. Lúc này, Ni trưởng mới vừa tròn 13 tuổi. Sau khi Hòa thượng viên tịch, Ni trưởng về quê nhà lo phụng dưỡng mẫu thân. Đến năm 15 tuổi, Ni trưởng thọ Sa di Ni giới tại chùa Khánh Quới với Hòa thượng Tâm Bờ
  • Phước Chí. Năm 20 tuổi, sau mùa An cư kiết hạ ở chùa Thiên Phước, Ni trưởng thọ Tỳ kheo Ni, đồng thời xin y chỉ với Hòa thượng Pháp Tạng. Đến năm 24 tuổi, Ni trưởng được Hòa thượng cho ra Huế tu học tại Ni viện Diệu Đức. Sau đó, Ni trưởng về lại quê nhà lúc 27 tuổi, hầu cận Hòa thượng và được Tổ ban pháp danh Nhựt Trinh Phổ Tiết, hiệu Liễu Tánh, nối dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Năm 1947, Ni trưởng khai sơn chùa Phật Bửu, thu nạp nhiều đệ tử Ni rồi chăm lo đào tạo Kinh Luật, hoằng dương Chánh pháp. Đặc biệt, Ni trưởng là một trong những cộng sự đắc lực cho Sư trưởng Như Thanh trong việc vận động chư Ni hợp tác thành lập Ni bộ Nam Việt tại chùa Huê Lâm năm 1956. Tại Đại hội này, Ni trưởng Liễu Tánh được bầu làm Phó Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt, Trưởng ban Ni bộ tỉnh Định Tường. Sau đó, năm 1960, Ni trưởng thành lập Pháp Hoa Ni viện (Quận 1, TP. Hồ Chí Minh). Vào nhiệm kỳ II (1968-1972) của Ni bộ Nam Việt, Ni trưởng được đại hội tín nhiệm suy cử làm Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt. Đến năm 1982, sau khi ân cần phó chúc công việc cho hàng đệ tử, Ni trưởng an nhiên thị tịch về chốn vô tung bất diệt tại Pháp Hoa Ni viện, hưởng thọ 66 tuổi đời, 47 hạ lạp. Tháp thờ Ni trưởng được đặt trong khuôn viên Phật Bửu Ni tự. Trong cuộc đời hành đạo của mình, Ni trưởng Liễu Tánh trực tiếp đào tạo nhiều đệ tử đạo hạnh, tích cực hành đạo tại tỉnh Tiền Giang cũng như nhiều địa phương: Cố Ni trưởng Minh Ngọc (Quan Âm Tu viện, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang), Ni trưởng Minh Viên (Phật Bửu Ni viện, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), Ni sư Minh Nhẫn (Chùa Huỳnh Long, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), Ni sư Minh Nguyện (Chùa Phước Hòa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền giang), Ni sư Minh Thiền (Chùa Pháp Hoa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), Ni sư Minh Từ (Chùa Long Tường, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), Ni trưởng Minh Hiền và Huệ Đức (Chùa Pháp Hoa, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng), Cố Ni trưởng Minh Thành (Chùa Pháp Minh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Ni sư Minh An, cố Ni sư Minh Hòa, Ni sư Minh Phước, Ni sư Minh Trọng (Chùa Pháp Hoa, Thành phố Hồ Chí Minh),… Bản thân Ni trưởng là một bậc chân tu thạc đức, thông tuệ giáo lý, am hiểu Kinh Luật, có năng lực nổi trội về hoằng pháp và tổ chức điều hành do được thọ giáo trực tiếp từ các vị cao Tăng, danh Ni nổi tiếng đương thời.

Hỗ trợ Ni trưởng Liễu Tánh quản lý ngôi chùa Phật Bửu chính là ba vị đệ tử Minh Thiền, Minh Hạnh, Minh Viên. Chư Ni chia việc để trông coi, gìn giữ, quản lý Ni chúng trẻ. Đến năm 1975, khi lâm bệnh duyên cùng sức khỏe suy yếu, Ni trưởng Liễu Tánh giao phó việc chu toàn bổn tự cho hai đệ tử Minh Hạnh và Minh Viên.

Sau khi Ni trưởng Liễu Tánh viên tịch, Ni trưởng Minh Hạnh (1927-2001) kế thế trụ trì. Ni trưởng quê ở xã Nhị Mỹ, huyện Cai Lậy, xuất gia với Ni trưởng Liễu Tánh tại chùa Phật Bửu vào năm 20 tuổi. Ni trưởng, với lòng một mực hiếu hạnh với Thầy Tổ, cùng bản tánh hiền hậu, hòa nhã, siêng năng và thiết tha cầu học, nên được Hòa thượng Pháp Tạng lẫn Bổn sư, huynh đệ quý mến. Ni trưởng rất ham học hỏi về nghi lễ Thiền môn, nên được Hòa thượng trao truyền rồi thành thục sử dụng pháp khí trong các khoa nghi. Năm 1960, Ni trưởng tốt nghiệp lớp Sơ cấp Phật học tổ chức tại chùa Phật Bửu. Đặc biệt, mặc dù Ni trưởng Liễu Tánh bận bịu Phật sự của Ni bộ, Ni trưởng Minh Hạnh là người đóng góp công sức cho việc giữ gìn, trùng tu, mở rộng ngôi chùa mà không hề than van khó nhọc. Ngoài việc chăm lo cho Ni chúng, Ni trưởng đích thân tham gia vào công tác nuôi trẻ mồ côi với lòng từ bi vô bờ bến. Với công hạnh và đức độ của bản thân, Ni trưởng Minh Hạnh là người được Ni trưởng Liễu Tánh ân cần phó chúc nhiệm vụ Trụ trì Phật Bửu Ni tự sau khi viên tịch. Trong giai đoạn khó khăn của đất nước, Ni trưởng Minh Hạnh đã tổ chức cho Ni chúng trong chùa tu tập theo đúng quy củ thiền môn, tự túc lao động, tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương. Đặc biệt, với tinh thần tùy duyên bất biến, Ni trưởng cùng với Ni trưởng Minh Thiền, Minh Viên âm thầm duy trì việc An cư kiết hạ cho Ni chúng tại chùa. Năm 1996, chùa Phật Bửu là một trong hai điểm An cư cho trên 50 hành giả Ni trong toàn tỉnh. Với công hạnh này, Ni trưởng được đại chúng cung thỉnh vào Ban Chức sự Trường hạ với ngôi vị Chủ hương. Ngoài ra, Ni trưởng được suy cử làm ngôi Thiền chủ tại khóa An cư kiết hạ chùa Sắc Tứ Linh Thứu, làm Chủ hương mùa hạ An cư tại Phật Bửu Ni tự năm 1996, làm Thiền chủ Trường hạ chùa Từ Ân năm 1998. Đến năm 2001, công viên quả mãn, Ni trưởng xả báo an tường tại chùa Phật Bửu, hạ lạp 40 năm. Ni trưởng xứng đáng là một đệ tử xuất sắc của Ni trưởng Liễu Tánh, làm trọn công hạnh với Thầy Tổ, huynh đệ, phát dương ngôi già lam Phật Bửu. Vì thế, Ni trưởng Minh Hạnh là một tấm gương lớn cho Ni chúng bổn tự noi theo.

Đến năm 2000, Ni trưởng Minh Viên kế nghiệp Trụ trì Phật Bửu Ni tự. Đến năm 2008, khi thành lập Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang, Ni trưởng Minh Viên được Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang cùng toàn thể Ni chúng cung thỉnh vào ngôi vị Giáo phẩm Chứng minh Phân ban, trở thành bậc Tôn túc của Ni giới Tiền Giang. Ni trưởng sinh năm 1936, kế đó xuất gia tại chùa Phật Bửu lúc 12 tuổi. Vốn có căn lành, Ni trưởng được Bổn sư tạo điều kiện bồi dưỡng học vấn liên tục, từ bậc Tiểu học lên đến bậc Trung học. Năm 1961, Ni trưởng đăng đàn thọ giới Tỳ kheo Ni tại Tổ đình Từ Nghiêm. Trong thời gian tu học tại Sài Gòn, Ni trưởng Minh Viên đã tốt nghiệp khóa học Tá viên điều dưỡng tại Bệnh viện Chợ Rẫy (1962) để làm nền tảng phụng sự xã hội sau này. Ngoài ra, với chí nguyện thượng cầu Phật đạo nên bản thân Ni trưởng tham gia học, rồi tốt nghiệp Trung đẳng Phật học tại Ni trường Dược Sư. Đến 1966, với ước vọng hạ hóa chúng sanh và dấn thân phụng sự Đạo pháp, Ni trưởng tình nguyện tham gia khám chữa bệnh tại Chẩn y viện chùa Sắc Tứ Khải Đoan, đồng thời làm giáo viên dạy học Trường Tiểu học Bồ Đề (Buôn Ma Thuộc). Do tình hình chiến tranh lan rộng nên vào cuối năm 1968, Ni trưởng quay về Phật Bửu Ni tự phụ giúp Bổn sư giảng dạy các sư đệ, mở lớp học tình thương dạy chữ cho trẻ em nghèo địa phương. Sau ngày giải phóng đất nước, Ni trưởng tích cực tham gia vào công tác xã hội, tiến hành tu sửa chùa, quản chúng tu học, tổ chức An cư kiết hạ cho Ni chúng toàn tỉnh vào hai năm 1991, 1996 tại chùa Phật Bửu. Năm 2002, Ni trưởng Minh Viên được Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong giáo phẩm Ni trưởng. Với đức độ và đạo hạnh sâu dày, khiêm cung nhu hòa, luôn thương tưởng đến hàng hậu học, Ni trưởng Minh Viên được thỉnh vào ngôi vị Thiền chủ các Hạ trường Ni của tỉnh nhiều năm liền, cung an chức sự làm Tam sư tại các Đại giới đàn Ni. Phải nói rằng, Ni trưởng Minh Viên kế nghiệp Bổn sư, tiếp tục gánh vác trọng trách phát triển ngôi chùa này ở một giai đoạn mới. Bên cạnh việc kế thừa thành tựu của hai vị Ni trưởng Liễu Tánh và Ni trưởng Minh Hạnh, bằng năng lực cùng đức độ của mình, Ni trưởng Minh Viên là người giữ gìn sự đoàn kết tông phong, truyền pháp cho hàng đệ tử, mở rộng các hoạt động từ thiện - xã hội của chùa trong thời gian qua.

Hiện tại, tiếp nối nhiệm vụ Trụ trì của Ni trưởng Minh Viên là Ni sư Thích Nữ Như Trang. Ni sư là người con của vùng đất Cai Lậy, phát tâm xuất gia lúc còn nhỏ. Đến năm 1979, nhân duyên hội đủ, Sư đến xuất gia tại chùa Phật Bửu. Ni sư Như Trang từng tham gia học tại Trường Cơ bản Phật học Thiên Minh (1989-1992). Sau khi tốt nghiệp trở về, Ni sư chung lo chấp tác, làm Phật sự tại chùa, nhất là công tác hướng dẫn Phật tử tu học. Hiện tại, Ni sư Thích Nữ Như Trang được suy cử làm Ủy viên Văn hóa Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang, Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử thị xã Cai Lậy. Tại chùa, Ni sư tổ chức khóa tu Bát quan trai mỗi tháng hai lần, khóa tu cho 50 người khiếm thị địa phương,… Ngoài ra, chùa còn tặng quà cho người nghèo, nạn nhân chất độc da cam. Đặc biệt, chùa Phật Bửu còn là điểm tập trung bố tát cho 20, 30 vị Ni trên địa bàn thị xã Cai Lậy từ nhiều năm nay.

Tóm lại, qua tìm hiểu quá trình truyền thừa và phát triển của Phật Bửu Ni tự, chúng tôi có thể rút ra những điểm nổi bật sau đây:
  • Thứ nhất, quá trình truyền thừa ở chùa đã qua bốn đời Trụ trì và bốn thế hệ tiếp nối liên tục. Cho nên, sự truyền thừa của Ni chúng bổn tự mang tính liên tục, không đứt đoạn, mặc dù có thời điểm Phật Bửu Ni tự gặp nhiều khó khăn trong chiến tranh hoặc sau năm 1975. Nhìn chung, các thế hệ nối truyền mạng mạch từ Ni trưởng Liễu Tánh rất ý thức việc giữ gìn truyền thống tu tập của người khai sơn, luôn đề cao tinh thần nghiêm trì Giới luật và quy củ thiền môn, thông hiểu nội điển và ngoại điển trở thành đường hướng, mục tiêu tối hậu của Ni chúng Phật Bửu.
- Thứ hai, bên cạnh việc tu tập, bất cứ trong hoàn cảnh nào, chư Ni tại Phật Bửu Ni tự quan tâm đến việc phụng sự Đạo pháp và xã hội, góp phần hoằng dương Chánh pháp trên mảnh đất Cai Lậy bằng nhiều hoạt động có ý nghĩa.
  • Thứ ba, từ Ni trưởng Liễu Tánh cho đến các vị Trụ trì lẫn chư Ni tu học, phần nhiều xuất thân từ vùng đất Cai Lậy hiền hòa, thanh lịch, mến mộ Phật pháp. Cho nên, sự hình thành Phật Bửu Ni tự là một nhân duyên lớn đưa đến việc xuất gia tu tập của nhiều nữ Phật tử địa phương. Qua đây, cho thấy Cai Lậy là nơi gắn với sự phát triển giai đoạn đầu của Ni giới Tiền Giang và cũng là nơi sản sinh ra nhiều vị danh Ni thạc đức cho Phật giáo tỉnh nhà.
 
  • Thứ tư, trong 60 năm qua, quá trình truyền thừa và phát triển của Phật Bửu Ni tự đã hình thành nên Tông phong Phật Bửu. Đây là một trong những tông phong Ni ở Nam bộ, gắn liền với tên tuổi các vị danh Ni nổi tiếng như: Tông phong Vĩnh Bửu - Ni trưởng Như Huệ, Tông phong Phật Bửu - Ni trưởng Liễu Tánh, Tông phong Huê Lâm - Sư trưởng Như Thanh, Tông phong Phước Huệ - Ni trưởng Như Hoa,… Được biết, hằng năm, Tông phong Phật Bửu họp mặt vào ngày 19 tháng Hai âm lịch. Ngoài ra, hàng môn đồ pháp quyến còn quy tụ tại Lễ Giỗ Ni trưởng Liễu Tánh vào ngày 12 tháng Chín âm lịch. Có khoảng 50 vị là môn đồ, pháp quyến của Ni trưởng về chùa dâng hương tưởng niệm vị Ân Sư khả kính của mình với niềm nhớ thương trong muôn một.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Phật Bửu Ni viện, Tiểu sử Thầy Bổn sư Liễu Tánh, bản photocopy.
  1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Kỷ yếu Đại hội Ni bộ Bắc Tông, 1972.
  1. Tỳ kheo Ni Như Đức (Biên soạn), Lược sử Ni giới Bắc Tông, Hà
 
[1] Phật Bửu Ni viện, Tiểu sử Thầy Bổn sư Liễu Tánh, bản photocopy, tr. 5.
[2] Tỳ kheo Ni Như Đức (Biên soạn), Lược sử Ni giới Bắc Tông, Hà Nội, NXB.Tôn giáo, 2009, trang 104

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây