Nội san Ni giới Tiền Giang tiếp bước tiền nhân ...

Thứ bảy - 09/03/2019 07:18
 
















Ni trưởng THÍCH NỮ TỊNH NGHIÊM
Trưởng Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang Ni THÍCH NỮ TUYẾT LIÊN
Phó Trưởng Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang
ng chủ biên)












 
 
 







 

LỜI M ĐẦU




N
 
ăm 2019, Ni giới Tiền Giang đăng cai tổ chức Lễ Tưởng niệm Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo toàn quốc. Đây là một dấu ấn mangtính lịch sử và là niềm vinh dự tự hào của Ni giới Tiền Giang.
Buổi lễ được tổ chức long trọng hàng năm, luân phiên tại các tỉnh thành trong cả nước, với tinh thần “Ẩm thủy tư nguyên”, nhằm tôn vinh công hạnh của Thánh Tổ Ni và chư vị Trưởng Lão Ni tiền bối Việt Nam, hướng đến mục đích “Đoàn kết hòa hợp - Trưởng dưỡng đạo tâm - Trang nghiêm Giáo hội”.
Lễ Tưởng niệm Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo là dịp để Ni giới gặp gỡ trong tinh thần đoàn kết, trao đổi kinh nghiệm trong sinh hoạt tổ chức Ni đoàn, tiếp nhận sự chỉ đạo thiết thực và cụ thể của chư Tôn đức lãnh đạo Giáo hội, của Quý Ni trưởng lãnh đạo Phân ban và sự góp ý chân tình qua các bài tham luận mang đậm nét “Ôn cố tri tân”, đây là những kinh nghiệm quý báu cho chư Ni trong tiến trình tiếp nối tiền nhân, phụng sự chánh pháp.
Quyển sách này là một món quà quý báu, nhằm lưu lại niềm vinh dự, tri ân đến Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh, huyện, các cơ quan chức năng đã quan tâm, dành nhiều sự ưu ái cho Phân ban Ni giới Tiền Giang nói riêng và Ni giới cả nước nói chung, ghi nhận những bài viết đầy tâm huyết do quý vị học giả đã trải lòng trên trang giấy, chia sẻ những nhận định nhiều kinh nghiệm; những lời dạy quý báu của chư Tôn đức lãnh đạo, chư Tôn đức Phân ban Ni giới Trung ương; của chư Ni đầy nhiệt huyết có những ý tưởng hướng đến lý tưởng tiếp nối tiền
 
nhân, phụng sự chánh pháp, phục vụ nhân sinh. Đồng thời cũng lưu lại những hình ảnh chỉ trong khoảnh khắc mà thành thiên thu của Ni giới Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
Mỗi năm một tỉnh, mỗi lần một Phân ban và mỗi năm sẽ có thêm một quyển sách, những trang Kỷ yếu này là tư liệu quý báu lưu lại cho hậu nhân biết được những hoạt động của Ni giới Việt Nam đương đại, những nét son điểm thêm cho trang sử Phật giáo nước nhà.
Trong quá trình thu thập tài liệu và biên soạn dù đem hết nhiệt tâm, nhưng cũng không sao tránh khỏi những sai sót nhất định, mong được sự góp ý, chỉ dạy quý báu của chư Tôn đức và quý độc giả.
Kính chúc chư Tôn đức Tăng Ni pháp thể khinh an, kính chúc quý Phật tử, chư độc giả kiết tường an lạc.
Ban Biên soạn
 







 

MAHĀ PAJĀPATĪ GOTAMĪ, VỊ NI TRƯỞNG CAO QUÝ


TK. Bửu Hiền



N
 
gày lễ Binara Fullmoon Poya Day có một ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Phật giáo. Hằng năm lễ được cử hành rất trọng thểở đất nước Phật giáo Sri Lanka, đúng vào ngày rằm tháng Tám ở Việt Nam. Chính trong ngày lễ Binara Fullmoon Poya Day này, Giáo hội Tỳ kheo ni được thành lập. Khi ấy vào mùa hạ thứ tư, Đức Phật đang ngự ở ngôi đại viên Nigrodhārāma, tại thành Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ), Di mẫu Mahā Pajāpatī Gotamī tha thiết xin Đức Phật cho phép nữ giới được xuất gia trong Giáo pháp của Ngài (Buddha Sāsana).
Nhân dịp Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang chuẩn bị tổ chức Đại lễ Tưởng niệm Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo, chúng tôi xin đóng góp một bài viết ngắn về cuộc đời và hành trạng cao quý của một trong những vị đại đệ tử của Đức Phật: vị Thánh Ni Mahā Pajāpatī Gotamī.
Vào thời kỳ Đức Phật Tổ Padumuttara (một trong những vị Phật thời quá khứ), tiền kiếp của Ni trưởng Gotamī một vị tín nữ, sanh trưởng trong một gia đình danh tiếng thành phố Haṃsavatī. Vị tín nữ nhân duyên được nghe Đức Phật thuyết giảng Chánh pháp. Trong một buổi giảng Pháp, Đức Phật Padumuttara tán thán công đức của một vị Ni trưởng (rattaññū), xác nhận vị Ni trưởng một vị thánh nhân có tuổi hạ cao nhất bên hàng Ni giới. Lúc ấy vị tín nữ liền mong ước thành đạt địa vị đó trong tương lai trình bày nguyện vọng của mình lên Đức Phật.
 

Sau khi quán xét nhân duyên đầy đủ, ngay giữa hội chúng Đức Phật Tổ Padumuttara ban bố lời thọ ký: “Kể từ đây cho đến một trăm ngàn đại kiếp trở về sau, một vị Phật Tổ có pháp hiệu là Gotama sẽ xuất hiện trên thế gian. Vị tín nữ nầy sẽ trở thành dì mẫu của Đức Phật Gotama, nuôi dưỡng Ngài, sau đó được xuất gia và trở thành một vị Ni trưởng cao quý.
Bắt đầu từ giai đoạn lịch sử đó, vị tín nữ đã tinh tấn trau dồi phước đức để vun bồi cho ý nguyện thành đạt. Vị ấy sau đó đã tái sanh luân chuyển giữa hai thế giới Chư Thiên và nhân loại.
Đến thời kỳ của Đức Bổn Sư, vị ấy tái sanh vào trong hoàng tộc Mahā Suppabuddha nơi thành phố Devadaha. Vị này em gái của Mahā Māyā, có tên là Gotamī. Khi hai vị đến tuổi trưởng thành, đức vua Suddhodana đến cầu hôn cả hai và rước về vương quốc của dòng hoàng tộc Sakya.
Sau khi hạ sanh Thái tử Siddharta được bảy ngày, Hoàng Hậu Mahā Māyā băng hà. Đức vua Tịnh Phạn tiến cử cô em Gotamī lên làm chánh hậu. Khi đó người con của bà là Nanda chào đời. Gotamī gởi Nanda cho vú nuôi chăm sóc và đích thân bà nuôi dưỡng Thái tử Siddharta.
Sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài chuyển vận bánh xe Pháp luân, tế độ những người hữu duyên với Phật pháp. Khi Đức Phật đang ngự ở giảng đường Kūṭāgāra trong thành Vesālī, Ngài nghe tin Phụ vương lâm trọng bệnh. Đức Phật cùng với chư vị đệ tử lần hồi trở về kinh thành Ca Tỳ La Vệ để thăm hỏi Phụ vương. Nơi hoàng cung, Đức Phật đã thuyết một thời pháp an trú cho thân phụ vào thánh quả. Đức vua Tịnh Phạn chứng đắc quả vị A la hán ngay trên giường bệnh và sau đó nhập vô dư y Niết Bàn.
Sau khi đức vua Tịnh Phạn viên tịch không bao lâu, hoàng hậu Gotamī đi đến gần bên Đức Phật và xin được phép xuất gia. Lúc đó là vào mùa hạ thứ tư của Đức Bổn Sư, khoảng năm 584 trước Tây lịch. Dì mẫu xin phép như vậy cả ba lần và lần nào Đức Phật cũng từ chối.
Thất bại nhưng không nản chí, Dì mẫu tự tay xuống tóc, đắp y và rời khỏi hoàng cung sau khi nghe bài pháp Kalahavivāda Sutta thuộc Tiểu Bộ Kinh. Cùng lúc đó, năm trăm vị hoàng thân dòng Thích Ca đi xuất gia. Rồi năm trăm công nương, vợ của các vị hoàng thân cũng xuất gia
 

theo Dì mẫu Gotamī. Dì mẫu dẫn đầu đoàn năm trăm vị nữ tu, đầu trần chân đất, cả đoàn đi một quãng đường thật xa đến kinh thành Vesālīđể tiếp tục xin Đức Phật cho phép nữ giới xuất gia. Lần này, Đức Phật cho phép nữ giới xuất gia, kèm theo Bát kỉnh pháp (the eight important rules).
Sau khi xuất gia, Ni trưởng Gotamī đến bên Đức Phật, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Đức Phật giảng pháp cho Dì mẫu. Dì mẫu học một đề mục Thiền định từ nơi Đức Phật, nỗ lực chuyên cần tu tập, và chỉ trong một thời gian rất ngắn, Dì mẫu thành đạt thánh quả A la hán cùng với thắng trí và tứ tuệ phân tích. Năm trăm vị Tỳ kheo ni trong hội chúng của Người đều thành đạt pháp lục thông sau khi lắng nghe bài pháp Nandakovāda Sutta thuộc Trung Bộ Kinh.
Một ngày nọ, Đức Thế Tôn ngồi giữa hội chúng các vị thánh nhân đệ tử nơi chùa Kỳ Viên, Ngài xác nhận rõ địa vị của vị Ni trưởng Gotamī là vị đệ tử Thinh văn có tuổi hạ cao nhất bên Ni giới.
Để nói lên lòng tôn kính tri ân Đức Thế Tôn, và bày tỏ công hạnh của mình, Ni trưởng đã nói lên bài kệ, được ghi chép lại trong tập Trưởng Lão Ni Kệ (Tiểu Bộ Kinh) như sau:
‘‘Buddha vīra namo tyatthu, sabbasattānamuttama; Yo maṃ dukkhā pamocesi, aññañca bahukaṃ janaṃ. Sabbadukkhaṃ pariññātaṃ, hetutaṇhā visositā; Bhāvito aṭṭhaṅgiko maggo, nirodho phusito mayā.
Mātā putto pitā bhātā, ayyakā ca pure ahuṃ; Yathābhuccamajānantī, saṃsariṃhaṃ anibbisaṃ. Diṭṭho hi me so bhagavā, antimoyaṃ samussayo; Vikkhīṇo jātisaṃsāro, natthi dāni punabbhavo.
Āraddhavīriye pahitatte, niccaṃ daḷhaparakkame; Samagge sāvake passe, esā buddhāna vandanā.
Bahūnaṃ vata atthāya, māyā janayi gotamaṃ; Byādhimaraṇatunnānaṃ, dukkhakkhandhaṃ byapānudī’’ti.
 
 

Dịch nghĩa:

“Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc tôn kính, bậc cao quý nhất trong tất cả chúng sanh, vị đã giải thoát cho con và nhiều người khác thoát khỏi đau khổ.
Sự khổ đã được hiểu biết. Tham ái là nguyên nhân của khổ đã trừ diệt. Con đường Bát Chánh Đạo đã được tu tập. Nay con đã thành đạt Niết Bàn.
Trước đây, con đã từng là mẹ, là con, là cha, là anh em, là ông bà. Do không hiểu biết, con đã luân chuyển luân hồi không có điểm kết thúc.
Con đã diện kiến được Đức Như Lai. Đây là kiếp sống cuối cùng của con. Cuộc hành trình trải qua vòng sanh tử đã hoàn toàn kết thúc. Sẽ không còn sự tái sanh nữa”.
Ni trưởng là một trong những vị đệ tử lỗi lạc nhất của Đức Phật. Thành quả mà Mahā Pajāpatī Gotamī đạt được trong kiếp sống hiện tại chính là do phước báu mà Người đã tạo trữ ngay từ thời Đức Phật Padumuttara, cách nay đã hơn một trăm ngàn đại kiếp, một khoảng thời gian xa diệu vợi.
Trải qua bao kiếp sống ở hai thế giới nhân thiên, vị tín nữ tâm đạo nhiệt thành đã làm tất cả mọi công đức chỉ để hoàn thành tâm nguyện trên. Điều này nói lên được ý chí quyết tâm và sự kiên trì, bền bỉ của Người. Chúng ta hãy nhớ lại giai thoại Người xin phép Đức Phật cho phép nữ giới xuất gia gặp phải khó khăn như thế nào, nhưng cuối cùng Ni trưởng cũng vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Sau khi được xuất gia, Ni trưởng khép mình vào nếp sống kỷ cương của vị tân xuất gia, sống thiểu dục, tri túc, chuyên cần tinh tấn, nên chỉ trong một thời gian rất ngắn mà thành đạt được đạo quả A la hán cùng với năng lực của tứ tuệ phân tích. Một thành quả rực rỡ không thua kém gì các bậc Cao Tăng, thạc đức. Hơn thế nữa, Ni trưởng còn lãnh đạo, hướng dẫn cho hội chúng bao gồm năm trăm vị công nương đồng xuất gia. Các vị ấy, cũng trong một thời gian rất ngắn sau khi xuất gia, thành đạt được quả vị A la hán cùng với pháp lục thông. Do đó, Ni trưởng rất
 

xứng danh với tên gọi của Ni trưởng là Mahā Pajāpatī Gotamī, có nghĩa là “Người có hội chúng đông đảo”.
Mahā Pajāpatī Gotamī đã từng nói vinh dự được làm Hoàng hậu, được làm Thái hậu, điều đó người phụ nữ nào cũng có thể đạt được. Nhưng đặc ân được làm mẹ của một vị Phật (mother of the Buddha) thì thử hỏi có được mấy ai? Hôm nay, Ni trưởng đã đạt được ân phước đó. Tất cả đều là nhờ nơi oai lực của Đức Thế Tôn.
Tập kinh Apadāna thuộc Tiểu Bộ Kinh đã ghi lại những lời cảm thán thật xúc động của Ni trưởng khi bày tỏ lời tri ân sâu xa đến Đức Thế Tôn như sau:
‘‘Cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn! Con mẹ của Ngài. Ngài người cha tinh thần của con. Ngài là vị bảo hộ, là người đem lại hạnh phúc bất tử cho con.
Cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn! Thân thể tứ đại của Ngài do con nuôi dưỡng. Pháp thân của con do chính Ngài sanh ra.
Khi xưa con đã nuôi dưỡng Ngài bằng chính dòng sữa của con. Hôm nay, Ngài đã nuôi dưỡng Pháp thân của con bằng dòng sữa ngọt ngào Chánh pháp, đem lại an lạc muôn đời’’.
Cuộc đời cao quý của Ni trưởng Mahā Pajāpatī Gotamī đã nói với chúng ta một điều rất rõ ràng: Giáo pháp của Đức Phật rực rỡ như vầng thái dương, đem lại hạnh phúc và an lạc đến cho muôn người, cho muôn loài.
Đạo giải thoát không phân nam nữ Cửa vô sanh chẳng luận giàu nghèo Lệ cùng mặn, máu cùng màu
Muôn sông rồi cũng chảy vào đại dương.
 







 

TƯỞNG NIỆM THÁNH TỔ NI ĐẠI ÁI ĐẠO

TKN. Tuyết Liên



Khấu đầu đảnh lễ
Đức Đại Ái Đạo Thánh Ni Tự ngàn xưa sách sử còn ghi
Quốc mẫu Kiều Đàm từ giã cung vi Xả bỏ vinh hoa,
Cầu xuất gia giải thoát. Cùng 500 nữ nhân họ Thích
Tháp tùng Ngài vượt vạn dặm sơn khê Chân son rướm máu,
Y phục nhuốm phong trần. Đến thành Quảng Nghiêm, Trước cổng Đại Lâm Vệ Xá
Ba lần cầu xin, ba lần bị khước từ
Nhưng lòng son sắt không hề lay chuyển. Tất cả bền lòng kiên nhẫn
Nhất định chẳng quay về
Lệ ướt mặt, một lòng cầu khẩn
 








Xin Tôn giả A Nan mở lòng bi mẫn Giúp một lời thưa cùng Đức Thế Tôn Nữ nhân bấy lâu chìm đắm phong trần
Nay mong được dự phần trong Chánh pháp Thọ pháp lạc đoạn trừ dục lạc
Pháp Bát kỉnh lòng son ghi tạc
Nguyện thọ trì như anh lạc nghiêm thân. Gương thánh Ni xưa cao quý trong ngần Nay hậu duệ nguyện thâm ân khắc dạ Nguyện khơi rạng ánh đèn Thiền cao cả Nguyện noi gương chư Thánh giả ngàn xưa. Nguyện tiếp nối kế thừa
Nguyện phụng hành Chánh pháp Nay Ni giới nhất tâm đoàn kết
Thành tâm thiết Lễ Tưởng niệm tiền nhân. Hương đăng hoa dâng trước án tiền
Tâm phủ phục kiền thiền Hương ngũ phần mây báu Nước bát đức thanh lương. Chúng đệ tử cúng dường
Cầu Thánh đức từ bi minh chứng Cầu gia trợ Ni đoàn bền vững
Nguyện Ni lưu phát triển phong quang.
 

Cầu Tam bảo phóng quang Hộ quốc gia hưng thịnh
Hộ Ni đoàn thanh tịnh Hộ quốc thới dân an.
Ni giới Tiền Giang thành tâm tưởng niệm
 







 

NI GIỚI TIỀN GIANG TIẾP NỐI PHÁT TRIỂN

NT. TN. Như Đức


 
  1. ĐẤT CỦA NHỮNG BẾN SÔNG
Nhắc đến Tiền Giang, chúng ta nhớ đến đầu nguồn phát nguyên của dòng Mekong hùng vĩ. Nhắc đến Ni giới chúng ta nhớ đến sự khai sáng của bậc Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo. Dòng chảy của từ bi trí tuệ nối tiếp, đi qua nơi nào đều lưu dấu những bến bờ an lạc. Ni giới Tiền Giang vinh hạnh đóng góp vào trang sử mở đầu Ni bộ Nam Việt với sự có mặt của quý Ni trưởng Phật Bửu - Cai Lậy, Ni trưởng Phổ Đức - Mỹ Tho, Ni trưởng Linh Thứu - Mỹ Tho, Ni trưởng Bạch Vân - Bến Tre, Ni trưởng Vĩnh Bửu - Bến Tre… Bến Tre tuy không phải tỉnh Tiền Giang nhưng nằm trên lưu vực của sông Tiền, và là nơi tiếp biển. Miền đất phong phú với những bến sông phù sa tràn bờ, nuôi lớn vườn cây hoa trái. Miền đất tâm linh các bậc tiền bối trưởng thượng nuôi lớn chí nguyện vươn đến khung trời cao rộng. Và hôm nay, nơi dòng sông đổ về biển, trên một bờ dừng chân, con cháu Ni lưu tổ chức Lễ Kỷ niệm Đức Thánh Tổ Ni, kính dâng thành quả tu tập và hoài bão hướng đến tương lai.
  1. KẾ THỪA SỰ NGHIỆP
Sự có mặt hôm nay của chúng ta là tiếp nối của vô số nhân duyên. Đượctrong một pháp hội Ni chúng vững mạnh cũng một nhân duyên sâu dày. Chúng ta cảm nhận biết bao nhẫn nại kiên trì của các bậc tiền bối khai sáng Ni lưu. Như dòng sông từ đầu nguồn, chảy qua khe hẹp
 

đèo cao, tuôn đổ không ngừng vượt hết thảy chướng ngại, mở rộng lòng sông để hòa vào đại dương. Một lần đi du lịch Tây Tạng, nhìn dòng chảy dưới hẻm núi cao nguyên, nước băng băng, ào ào bất kể đá cát, tôi đã liên tưởng đến những đầu nguồn của Ni giới Việt Nam, từ đầu thế kỷ.
Thời gian không cách nhau bao xa, chỉ chừng 100 năm, nhưng nhìn lại quãng đời tu học của chư vị Trưởng lão Ni thời ấy thật vô cùng khó khăn, thật dày công kiên nhẫn. Xuất gia tuổi trẻ, học đạo và hành đạo tự mình vươn lên, dò nguồn Phật pháp thâm sâu từ Bắc, Trung, Nam, nơi nào có trường lớp, có chân sư dạy đạo, chư vị đều một lòng theo học tìm cầu. Cất chùa độ Ni, mở lớp dạy chúng, đăng đàn truyền giới, sách tấn hậu lai đều là bản nguyện mở rộng con đường cho người nữ xuất gia. Cho đến khi Đại hội Ni bộ Nam Việt (1956) trùng phùng như nước trăm sông về biển, chân trời mới soi tỏ những bước chân Ni chúng trẻ. Việc tu học ổn định, sự nghiệp hành hóa nâng tầm, thiết lập đạo tràng từ phố thị đến vùng xa, mở rộng cửa hóa độ và tiếp nhận nhiều nguồn tri thức hiện đại tối tân.
Ni chúng hôm nay từ phong cách tu học, trú, làm việc, nhiếp chúng, tổ chức đạo tràng đều bắt kịp thời đại, mạnh dạn tiến bước không thua ai. Con sông có nhớ về dòng chảy xưa cũ, rất tri ân vì mình được có mặt nơi phương trời cao rộng, được thừa hưởng bản sắc phong thái tự tin và vươn lên. Để xứng với gia tài tiền nhân trao gởi, chúng ta nhìn lại con đường mình đi và hoạch định những bước tương lai sẽ đến.
  1. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Ni chúng Tiền Giang đã sống, tu học trên một vùng đất phong phú, tiếp cận với thành phố văn hóa giáo dục lớn của đồng bằng Nam Bộ. Với tất cả ưu điểm và thừa kế gia tài của các bậc Ni trưởng tiền bối, năng lực của chư Ni luôn được phát huy mở rộng không ngừng. Có một đôi điều nhận định để chúng ta cùng xem xét bàn thảo trong ngày lễ quan trọng này.
Đâu là định hướng cho con đường phát triển tương lai? Ni chúng hiện nay đầy đủ sung mãn trong đời sống cư trú, nhanh nhẹn thông minh tiếp thu kiến thức, rất giàu khả năng đi vào cuộc đời. Muốn thành tựu sự
 

nghiệp sứ giả Như Lai, cần xây dựng nền tảng thâm sâu kiên cố trên ba tiêu chí: Giới - Định - Tuệ. Dù chúng ta tài giỏi ưu tú đến đâu, một khi rời bỏ Giới - Định - Tuệ, thì vận mạng cũng không bảo đảm.
Ngay từ lúc sơ cơ học đạo, chúng ta đã được rèn luyện rất cẩn thận trong Giới luật. Từ nết ăn cách ở, đối xử tiếp người đều nằm trong cương lĩnh của Tỳ-ni, những gương mẫu phạm này thấm sâu vào con người, thân và tâm đều ổn định hoàn chỉnh. “Buộc thuyền lấy Giới làm dây”, con thuyền lông bông của chúng ta được khép chặt, neo kỹ theo giới điều của Đức Phật. Buổi đầu có thể đó là những quy ước khó khăn mất tự do, nhưng lâu dần sự an ổn lan tỏa, giúp hành giả đi vào đời không vướng mắc. Thế là vướng mắc trong Giới luật mà giải thoát giữa nhân gian.
Để nuôi dưỡng niềm tin yêu vui đạo, phấn chấn mà đi suốt con đường hành hóa tự lợi lợi tha, ngoài bộ áo giáp Giới luật, cần có trái tim hồng Định - Tuệ. Định không phải chỉ là ngồi yên nhắm mắt, mà thái độ an vui tĩnh tại trong mọi biến chuyển, tự tin vào con đường và con người, không nản chí thất vọng. Khó khăn và trở ngại không lay chuyển, chúng ta học bài học Định - Tuệ từ các bậc Ni trưởng tiền bối, trải đời mình suốt con đường hành hóa độ tha, giúp Ni lưu hậu học như chúng ta nếm vị ngọt Chánh pháp.
Phát triển sự nghiệp tu học thời hiện đại, theo định hướng căn bản Giới - Định - Tuệ là con đường ổn định vững chắc, Ni giới trẻ chúng ta sẽ có nhiều suy nghĩ cảm nhận về vấn đề này. Kính chúc mừng Ni giới Tiền Giang thành công tốt đẹp trong ngày lễ trọng đại này.
 







 

NI GIỚI TỈNH TIỀN GIANG TIẾP TỤC PHÁT HUY TINH THẦN NHẬP THẾ

CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Trần Hồng Liên(*)



 
  1. Mở đầu
Là người phụ nữ đầu tiên tiếp nhận và đi theo con đường của Đức Phật Thích Ca, Thánh Mẫu Kiều Đàm đã trở thành vị Tổ soi đường cho hàng Ni giới Phật giáo noi theo, trải suốt nhiều thế hệ.
Khát vọng được đến với đạo, được hành trì theo lý tưởng của Đức Phật là một động lực mạnh mẽ, là quyết tâm không gì ngăn trở, chính vì vậy, dù cho có gặp nhiều chướng ngại, chông gai trên con đường cầu đạo giải thoát, Đức Kiều Đàm vẫn có đầy đủ nghị lực, quyết tâm, có đủ sự kiên trì, nhẫn nại để thực hiện cho được hoài bão của mình.
Hàng ngàn năm qua, những người con gái của Đức Phật, noi theo hạnh nguyện đức tính cao quý của Đức Thánh mẫu Kiều Đàm, nữ giới Phật giáo Việt Nam, Ni giới Phật giáo tỉnh Tiền Giang nói riêng, đã có nhiều đóng góp thiết thực cho bản thân, cho Tăng già (Sangha) và cho xã hội. Vượt lên trên những khó khăn, ngăn ngại trên bước đường hành trì, tu tập, hàng ngàn Ni giới Phật giáo Việt Nam đã, đang và sẽ còn tiếp tục xiển dương tinh thần vì Đạo pháp và cho dân tộc Việt Nam.


(*) PGS.TS. Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh.
 
 
  1. Ni giới tỉnh Tiền Giang tiếp nối truyền thống vẻ vang của chư Ni
    1. Giáo dục, đào tạo
Trong vô số hạnh nguyện hành trì để phát triển Phật giáo nước nhà, tinh thần nhập thế vào đời luôn là sợi chỉ xuyên suốt, là kim chỉ nam trong hành động. Phật pháp bất ly thế gian giác! Thật vậy, mỗi một hành giả, những người con gái của Đức Phật, sẽ không thể thực hiện được trọn vẹn hoài bão của mình, tức tiến tu giải thoát mà lại tách rời với thế gian, với cuộc sống của con người.
Tinh thần tích cực “đem đạo vào đời” của Phật giáo thời đại Lý - Trần đã đưa đến những Thiền sư nổi tiếng, trong đó Đức vua Trần Nhân Tông đã trở thành Sơ Tổ của phái Thiền hoàn toàn mang đặc trưng Việt Nam: Thiền Trúc Lâm Yên Tử! Tinh thần ấy vẫn bàng bạc trong các Thiền sư ở Nam bộ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đặc biệt là tại một địa bàn đặc thù, với một vị thế địa - lịch sử và địa - văn hoá như vùng đất Nam bộ, tinh thần đó lại càng được thể hiện rõ nét hơn.
Đầu thế kỷ XX, ở miền Nam Việt Nam đã bắt đầu hình thành một lực lượng lớn nữ tu sĩ xuất gia theo đạo Phật. Số lượng người tham gia ngày một đông và ảnh hưởng xã hội của họ ngày càng rõ nét. Ni chúng đã có những đóng góp nhất định trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam.
Từ đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam cũng đã có các vị Ni làm nên đạo nghiệp đáng kể, như Sư bà Diệu Tịnh, Sư bà Diệu Không, Sư trưởng Như Thanh… đã khởi đầu cho việc hình thành và phát triển của Ni giới Việt Nam. Và đến nay, chư Ni đã xây dựng được giáo đoàn lên đến hàng ngàn người.
Trên lĩnh vực giáo dục Ni chúng, không thể không kể đến công lao buổi đầu của Tỳ kheo ni Hồng Nga Diệu Ngọc. Cô là đệ tử của Hòa thượng Chí Thiền, người đã có công lớn trong quá trình xây dựng lớp gia giáo đầu tiên, để tạo điều kiện cho Ni chúng có nơi tu học, góp phần tạo tiền đề quan trọng cho phong trào tu học của Ni giới được phát triển. Năm
 

1927, Tỳ kheo ni Hồng Nga mở lớp Gia giáo Ni tại chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), là ngôi chùa Ni đầu tiên ở miền Nam do Cô xây dựng(1).
Chùa Kim Huê (Sa Đéc), từ năm 1936 là điểm đầu tiên tổ chức giảng dạy cho Ni sinh về nghi thức truyền giới, góp phần đào tạo chư vị Giới sư Ni cho Ni bộ Bắc tông về sau(2). Những năm 1939 - 1945, tại Phú Nhuận, Sư cô Diệu Tấn mở Ni trường tại chùa Kim Sơn, đã góp phần đào tạo các vị lãnh đạo Ni giới sau này(3).
Tiếp nối truyền thống này, tại tỉnh Tiền Giang đã xuất hiện nhiều vị danh Ni có đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển Phật giáo nước nhà. Chư Ni Việt Nam ngày nay, không quên vị Ni xuất chúng, đã trở thành một danh ni, không chỉ trong phạm vi tỉnh nhà, mà cho chư ni cả nước, đó là Ni trưởng Diệu Tịnh (1910 - 1942). Ni trưởng chính là vị giáo thọ ni đầu tiên của vùng đất Gia Định. Không chỉ là giáo thọ được thỉnh mời giảng dạy và trao đổi kinh điển ở miền Bắc và miền Trung, Ni trưởng còn là một vị Ni tiêu biểu trong phong trào nghiên cứu giới luật, dịch kinh sách, viết bài đăng tạp chí Từ Bi Âm... tất cả cũng chỉ nhằm vào việc tập hợp, kêu gọi tinh thần học hỏi, sống tu đúng chánh pháp cho chư Ni thời bấy giờ.
Học tập gương sáng của người đi trước, đệ tử của Ni trưởng là Huyền Học, Vụ trưởng của Ni bộ Nam Việt ngay trong nhiệm kỳ I (1964 - 1968). Rồi tiếp nối chức vụ này, Ni trưởng Liễu Tánh, cũng vốn là người con của mảnh đất Tiền Giang, là Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt nhiệm kỳ II. Chúng ta cũng không quên, một ngôi chùa xưa, được Sắc tứ, đó là chùa Linh Thứu, vốn có truyền thống nổi tiếng về việc tu học, đào tạo chư Ni trong tỉnh, và liên tiếp nhiều năm liền, cùng với Phật Bửu Ni tự và chùa Phổ Đức đã trở thành một điểm đến cho chư Ni toàn tỉnh an cư kiết hạ hàng năm.


  1. Trần Hồng Liên (1996) Phật giáo Nam bộ từ thế kỷ XVII đến 1975. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 50.
  2. Trần Hồng Liên (2016) Giáo dục ni chúng ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX. Trong sách: Nhiều tác giả (2016), Nữ giới Phật giáo Việt Nam: truyền thống và hiện đại. Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 590.
  3. Trần Hồng Liên (1996) Phật giáo Nam bộ từ thế kỷ XVII đến 1975. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 51.
 

Như vậy, chỉ trong một lĩnh vực quan trọng giáo dục, đào tạo Ni giới, tại tỉnh Tiền Giang đã xuất hiện khá nhiều vị tôn túc, các Ni trưởng, Ni góp phần xứng đáng trong hoạt động nhập thế vào đời, mang lại những kết quả đáng trân trọng cho việc phát triển đội ngũ Ni giới ở Nam bộ.
    1. Hộ quốc, an dân
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, nếu như ở giai đoạn chiến tranh vệ quốc trước đây, ít thấy xuất hiện những người nữ (tu sĩ và cư sĩ), thì trong cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu và đế quốc xâm lược Mỹ đã có bóng dáng của Ni sư Huỳnh Liên cùng các chư Ni trong thành phố. Các cuộc biểu tình, tuyệt thực đã làm ngòi nổ lớn kéo theo các cuộc xuống đường của nhiều tầng lớp cư dân ở Sài Gòn. Tịnh xá Ngọc Phương trở thành cơ sở đóng góp tài lực lớn của nhiều đơn vị cách mạng. Sự tham gia, đóng góp công sức của các chư Ni vào việc chống đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm chính là một hành động nhập thế tích cực, cho thấy dù ở hoàn cảnh nào, chư Ni cũng đã thể hiện được tinh thần vô úy, không sợ hãi, tinh thần bất khuất trước sức mạnh, sự đàn áp, hủy diệt của các thế lực xâm lược đất nước, gây đau thương, chết chóc cho người dân Việt Nam.
Chúng ta cũng không quên, Ni trưởng Huỳnh Liên (1923 - 1987), vốn là người con của đất Tiền Giang, là đại đệ tử Ni của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, người sáng lập hệ phái Khất sĩ, mang lại nét đặc sắc cho Phật giáo Việt Nam về tính chất thuần Việt của hệ phái. Dưới chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp, khủng bố Tăng Ni Phật giáo, và sau này, trong thời gian chống đế quốc Mỹ xâm lược, Ni trưởng đã là ngọn đuốc trong nhiều cuộc đấu tranh, biểu tình của phong trào công khai giữa lòng thủ đô Sài Gòn lúc ấy, để đòi độc lập, tự do cho đất nước. Ni trưởng Huỳnh Liên đã làm cho kẻ thù phải sợ hãi và khâm phục trước tinh thần đấu tranh bất bạo động của những người con gái của Đức Phật, sâu lắng nhưng đầy dũng cảm và kiên quyết.
    1. Từ thiện - xã hội
Trên lĩnh vực Từ thiện - xã hội, chư Ni, vốn là những người phụ nữ có tấm lòng vị tha, thương người được thể hiện rõ nét, đã tích cực tham
 

gia vào mọi hoạt động đem lại niềm an vui cho mọi người, giúp họ xóa bớt những đau thương, phiền não trong cuộc sống. Kế thừa truyền thống từ bi, bác ái, thương người như thể thương thân, tại Phật Bửu Ni Tự, ngôi chùa Ni đầu tiên trong tỉnh đã xuất hiện một Ký nhi viện từ những thập niên 60 của thế kỷ trước. Không chỉ có Ký nhi viện, mà tại tỉnh nhà Tiền Giang còn lập được Chẩn Y viện tại Quan Âm Tu viện để khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho người dân nghèo, người bị thương tật.
Từ những nhiệm kỳ đầu tiên sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đến nay, đã trải qua 7 nhiệm kỳ, Ni giới Phật giáo Việt Nam, Phân ban Ni giới Phật giáo tỉnh Tiền Giang nói riêng đã cống hiến nhiều công sức trên lĩnh vực nhập thế vào đời này. Bởi chính vì hoạt động từ thiện - xã hội vốn là một lĩnh vực thể hiện tinh thần vị tha, thương người nhiều nhất.
Chư Ni tỉnh Tiền Giang, cùng với Phật tử, nhiều năm qua đã góp phần xây dựng cho những người nghèo khổ, bất hạnh có được ngôi nhà Tình thương; đã giúp cho nhiều trẻ em bất hạnh, mồ côi có được mái ấm tình thương để họ có thể tiếp tục sống vui và được yên ổn học hành. Chư Ni, trong lĩnh vực là thế mạnh của mình đã góp phần vào việc khuyến tu, hướng thiện qua việc chế biến các thực phẩm chay, giúp thành lập các quán cơm chay... để tinh thần không sát sinh được ngày một nhân rộng ra cộng đồng.
Sau khi ra đời Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang vào năm 2009, số lượng chùa Ni và chư Ni trong tỉnh đã gia tăng đáng kể. Toàn tỉnh lúc ấy đã có 192 ngôi chùa Ni và 544 chư Ni(1), góp phần tạo nên một lực lượng Ni giới trong tỉnh có được thành quả ngày một tăng cao trên lĩnh vực từ thiện - xã hội đã nâng số đóng góp vào quỹ thuộc nhiệm kỳ II (2012 - 2017), lên đến gần 40 tỷ đồng(2).
  1. Kết luận
Nhập thế vào đời một trong nhiều pháp môn của các tu Phật giáo, đặc biệt là Phật giáo Việt Nam, bởi lẽ để có thể tiến tu giải thoát, hành

  1. Số liệu của Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang.
  2. Số liệu của Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang.
 

giả cần tạo lập thật nhiều công đức. Phật giáo Việt Nam đã vạch ra một con đường mới đi đến giác ngộ, đó là con đường cứu dân độ thế, và trên con đường này tâm con người ngày càng được khai mở, đạt đến tâm Phật.
Hướng đến Đại lễ Vía Đức Thánh Mẫu Kiều Đàm, nữ giới Phật giáo tỉnh Tiền Giang tiếp tục xiển dương đức tính quý báu vô ngã, vị tha, lấy tinh thần nhập thế vào đời làm động lực để thể hiện lòng từ bi và trí tuệ của Phật giáo. Đó chính là sự thể hiện rõ nét nhất tinh thần tri ân và báo ân đến Chư Phật, Thánh Mẫu Kiều Đàm Di và Thầy, Tổ vậy!


TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Như Đức (2009) Lược sử Ni giới Bắc Tông, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo.
  2. Trần Hồng Liên (1996) Phật giáo Nam bộ từ thế kỷ XVII đến 1975, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Trần Hồng Liên (2016) Giáo dục ni chúng ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX. Trong sách: Nhiều tác giả (2016), Nữ giới Phật giáo Việt Nam: truyền thống và hiện đại, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Nhiều tác giả (2016), Nữ giới Phật giáo Việt Nam: truyền thống và hiện đại, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
 







 

NI GIỚI TIỀN GIANG

TRUYỀN THỐNG PHÁT TRIỂN
TKN. Tịnh Nghiêm



 
    1. DẪN NHẬP
Đại lễ Tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo chư Ni tiền bối Ni Phật giáo Việt Nam năm 2019 long trọng diễn ra trên mảnh đất Tiền Giang với miệt vườn cây trái xum xuê, con người thanh lịch thuần hậu chất phác. Tiền Giang chính một trung tâm gắn liền với quá trình hoằng hóa Phật pháp cách đây hơn ba trăm năm trên miền châu thổ Cửu Long. Nhờ vào đặc điểm này, nhất công đức tu tập của chư Tổ các bậc tiền bối, Ni giới Tiền Giang ngày nay sở hữu gia tài tinh thần truyền thống, định hình một bản lĩnh vững vàng để tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện các hoạt động Phật sự hôm nay. Nhìn nhận lại, tôi nhận thức rằng, các giá trị truyền thống này vốn được kết tinh từ nội lực tu tập lẫn đóng góp cho Đạo pháp, hội của nhiều thế hệ danh Ni Tiền Giang. Chúng ta cần phải tự hào, trân trọng phát huy những truyền thống nổi bật của Ni giới tỉnh nhà, bởi các giá trị này vốn được hun đúc qua những thăng trầm của lịch sử, kết tinh bởi sự đóng góp, sáng tạo lẫn hy sinh của chư Tôn đức Ni tiền bối. Nhìn lại quá khứ, quay về truyền thống cách tốt nhất để thế hệ ngày nay nhận diện con đường hiện tại tương lai, thấy được mục tiêu phát triển của Ni giới Tiền Giang. thế, đây cũng mục đích chính của bài tham luận này.
 
 
    1. TRUYỀN THỐNG NỔI BẬT CỦA NI GIỚI TIỀN GIANG
Đọc lại những trang sách cũ, cũng như quá trình đào sâu tìm hiểu lịch sử của những Tự viện Ni trên mảnh đất Tiền Giang, cá nhân tôi thật tự hào về truyền thống Ni giới Tiền Giang, đồng thời cũng suy ngẫm thật nhiều! Vậy, Ni giới Tiền Giang ngày nay tự hào về những giá trị truyền thống gì của các thế hệ tiền bối để lại? Theo tôi, chúng ta cần tập trung bàn đến những giá trị cốt lõi sau đây:
  1. Tiền Giang là một trong những nơi khá sớm ở Nam bộ thành lập Ni viện để tu tập trong thời hiện đại của Phật giáo Việt Nam.
Cụ thể, năm 1947, tại Thị xã Cai Lậy ngày nay, Phật Bửu Ni tự được Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh khai sơn để tiếp độ hàng Ni chúng tu tập. Đây được xem là ngôi chùa Ni đầu tiên của tỉnh nhà. Sau đó, nhiều ngôi chùa Ni khác lần lượt ra đời như: chùa Sắc Tứ Linh Thứu, Quan Âm Tu viện, chùa Phổ Đức,… Ngày nay, ngôi chùa Phật Bửu vẫn hiện diện qua thăng trầm của thời gian cùng với một truyền thống tông phong tu tập miên mật, tỏa hương giới đức và đạo hạnh qua nhiều thế hệ chư Ni được đào tạo tại Tổ đình này. Nếu so sánh với một số các Tự viện Ni nổi tiếng khác ở Nam bộ thì Phật Bửu Ni tự thành lập sau chùa Giác Hoa (1927), chùa Hải Ấn (1934), Ni viện Vĩnh Bửu (1939), đồng thời cùng thời gian thành lập với chùa Huê Lâm (1947) và có trước chùa Từ Nghiêm (1950), chùa Dược (1952),… vậy, đây một nét son đáng tự hào về lịch sử hình thành và phát triển Ni giới Tiền Giang. Đặc biệt, ngôi chùa Phật Bửu từng là một trung tâm của sự truyền thừa, phát triển của Ni giới Bắc tông trên mảnh đất sông Tiền.
  1. Tiền Giang là mảnh đất ra đời nhiều vị danh Ni đóng góp cho sự phát triển lớn mạnh của Ni giới nước nhà thời hiện đại.
Thật là ngưỡng mộ, ngay từ đầu thế kỷ XX, Sư bà Diệu Tịnh (1910 - 1942) - vị Ni mang hoài bão, tâm huyết đi tiên phong khởi xướng phong trào tập hợp Ni giới miền Nam để đoàn kết cùng nhau tu tập, phát triển! Sư bà sinh trưởng trong gia tộc Phạm Đăng quyền quý tại vùng đất Công, là đệ tử của Tổ Phi Lai - Chí Thiền. Vốn được đào tạo bài bản về Phật học lẫn thế học, vị Ni trẻ Diệu Tịnh đã dịch Kinh, viết bài đăng
 

Tạp chí Từ Bi Âm với mục đích kêu gọi Ni phái hợp nhất để tổ chức hoạt động. Sư bà Diệu Tịnh được công nhận là vị Giáo thọ Ni đầu tiên của Gia Định, đồng thời là người khai sơn Hải Ấn Ni tự. Nhờ vào tài năng, Sư bà được thỉnh mời giảng dạy và trao đổi kinh điển ở miền Bắc và miền Trung, được giới trí thức Phật giáo ái mộ, nhất là trực tiếp dạy Phạm Võng Lược Sớ cho Hoàng thái hậu Từ Cung tại cung đình Huế. Các trường Ni thỉnh Sư bà đến làm Giáo thọ để chư Ni được thọ giáo Kinh điển, Giới luật. Tên tuổi, tài đức của Sư bà Diệu Tịnh vang xa, được nhiều người cùng thời biết đến. Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt nhiệm kỳ I (1964 - 1968) là Ni trưởng Thích Nữ Huyền Học. Ni trưởng là đệ tử của Sư bà Diệu Tịnh. Mặc dù Sư bà thị tịch trong độ tuổi còn trẻ, nhưng tinh thần dấn thân, phụng sự và lý tưởng thành lập Ni bộ đã có người đệ tử tin yêu kế tục sau này. Do vậy, Sư bà Diệu Tịnh xứng đáng là lá cờ đầu trong công cuộc xây dựng, đoàn kết Ni bộ Việt Nam thời hiện đại. Kế đó, Ni giới Tiền Giang không thể nào quên hình ảnh Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh (1916 - 1982) - Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt nhiệm kỳ II (1968 - 1972). Vì quê quán của Ni trưởng tại đất Cai Lậy, Tiền Giang, nên chư Ni tham gia Ni bộ gọi Sư bà một cách gần gũi là Sư bà Cai Lậy - một niềm tự hào cho chư Ni tỉnh nhà trong giai đoạn này. Cai Lậy cái nôi hình thành, phát triển Ni bộ Tiền Giang, Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh là người đặt viên đá đầu tiên qua việc khai sơn chùa Phật Bửu. Ni trưởng xuất gia với Tổ Phi Lai - Chí Thiền, sau y chỉ với Hòa thượng Thích Pháp Tạng - chùa Phước Tường. Ni trưởng được Hòa thượng gửi học ở Ni viện Diệu Đức (Huế), rồi tham gia sáng lập Ni bộ Nam Việt, đảm trách Phó Ni trưởng Ni bộ Nam Việt, Trưởng ban Ni bộ tỉnh Định Tường ngay trong nhiệm kỳ đầu. Vì thế, hoạt động của các chùa Ni Tiền Giang luôn khắng khít và tuân thủ sự hướng dẫn của Ni bộ Nam Việt. Tiếp tục phát huy năng lực tu tập hành đạo của Bổn sư - Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh tại Tiền Giang, Ni trưởng Thích Nữ Minh Ngọc (1922 - 1974) là vị Ni có nhiều hoạt động Phật sự nổi bật ở Mỹ Tho, Tiền Giang. Được sự hướng dẫn bởi vị Tôn sư khả kính, Ni trưởng Thích Nữ Minh Ngọc nghiên tầm Kinh điển tại Phật học đường Bảo An, Phật học đường Nam Việt. Nhờ đó, Ni trưởng Thích Nữ Minh Ngọc đảm trách giảng dạy nội điển Đại thừa
 

cho hàng hậu học. Năm 1956, Ni trưởng được thỉnh Trụ trì Quan Âm Tu viện, bản thân luôn phát huy tài năng, khiêm cung đức độ, nên Ni trưởng được đồng đạo và người dân Tiền Giang kính trọng, nhất là thu phục sự mến mộ của hàng trí thức, nhà cầm quyền, đại diện các tôn giáo bạn,… thời đó. Ngoài ra, Tiền Giang còn là nơi sinh trưởng của Đệ nhất Ni giới Hệ phái Khất sĩ Thích Nữ Huỳnh Liên (1923 - 1987). Ni trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên quê quán tại Mỹ Tho, xuất gia tu học tại Linh Bửu tự, là đệ tử của Tổ sư Minh Đăng Quang. Năm 1948, Ni trưởng được Tổ giao trọng trách lãnh đạo Ni giới Khất sĩ. Là một người yêu nước, Ni trưởng tổ chức nhiều hoạt động đấu tranh cách mạng ở Sài Gòn - Gia Định và tạo nên tiếng vang lớn. Sau ngày giải phóng đất nước, Ni trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên tham gia vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VI, thành viên tích cực đóng góp vào sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ni trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên là vị danh Ni hiện đại của Việt Nam, có nhiều cống hiến cho Giáo hội lẫn hệ phái, uy tín cao với Nhà nước. Cho nên, mảnh đất Tiền Giang luôn tự hào về một vị Ni kiên cường bất khuất trước chính quyền Sài Gòn tàn ác và hung bạo, Ni bộ tỉnh nhà ghi nhớ, tỏ lòng thành kính tri ân Ni trưởng - một tấm gương lớn hy sinh cho Đạo pháp, cho Dân tộc. Phải nói rằng, đây là những vị danh Ni tiêu biểu của mảnh đất Tiền Giang, đồng thời mãi là niềm tự hào lớn của chúng tôi. Các vị Ni trưởng đã tạo lập nền móng vững chắc cho ngôi nhà Ni giới Tiền Giang trên con đường hình thành, phát triển. Phải chăng mảnh đất Tiền Giang là nơi cây lành trái ngọt quanh năm, một xứ sở mang đậm sắc thái văn minh miệt vườn Nam bộ, kinh tế hàng hóa phát triển, đặc biệt Mỹ Tho từng là một đô thị lớn của miền Nam, nên đã tạo ra những con người thanh lịch, học hành bài bản và tâm hồn yêu chuộng văn hóa - nghệ thuật? Cho nên, quý Ni trưởng may mắn được thụ hưởng, kế thừa những phẩm chất nổi bật này của con người Tiền Giang. Mặt khác, qua hành trạng của quý Ni trưởng, chúng tôi hết sức khâm phục về tinh thần tham cầu giáo nghĩa uyên nguyên từ giáo lý Đại thừa của quý Ngài. Mặc dù với nhiều khó khăn, thử thách, nhưng các vị Ni trưởng vẫn bền bỉ, quyết tâm ra Huế hoặc cầu đạo với các bậc danh Tăng đương thời. Vì thế, nhờ vào sự am hiểu căn bản giáo điển,
 

cùng với nhiệt huyết hoằng dương chánh pháp, nên quý Ni trưởng đã thành tựu đạo nghiệp vẻ vang cho hậu thế noi theo.
  1. Truyền thống tu học và nghiêm trì Giới luật, tinh tấn tu tập, thực hành nếp sống phạm hạnh luôn được chư Ni Tiền Giang giữ gìn và phát huy qua nhiều thế hệ và trải qua những thăng trầm lịch sử.
Tại Tổ đình Phật Bửu, khi vừa mới thành lập, Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh đã thu nhận đệ tử, đào tạo Giới luật và kiến thức Phật học để làm căn bản việc tu tập sau này. Từ đó, những vị Ni trưởng thành từ đây luôn nhất mực giữ gìn Giới luật, quyết tâm tu tập mà Ni trưởng Thích Nữ Minh Ngọc, Ni trưởng Thích Nữ Minh Viên,… là những tấm gương tiêu biểu. Được biết, việc tu tập của chư Ni tại tỉnh nhà lúc bấy giờ không phải hoàn toàn thuận lợi do tình hình chiến tranh ác liệt, trở thành một thử thách đối với chí nguyện tu học của các vị ấy. Cụ thể như tại Phật Bửu Ni tự, những năm chống Pháp ác liệt, chư Ni phải đi tản cư, ngôi chùa bị tàn phá nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi vừa mới thành lập, chùa còn nhiều khó khăn, nhưng Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh vẫn quyết tâm mỗi ngày lên lớp giảng dạy Kinh điển cho hàng đệ tử. Ngoài ra, chùa phải tạo kinh tế tự túc từ công việc may vá. Tại Quan Âm Tu viện, mặc dù chùa vừa mới thành lập, nhưng Ni trưởng Thích Nữ Minh Ngọc đã tích cực mở lớp Gia giáo Phật học đầu tiên cho chư Ni toàn tỉnh nói riêng và các tỉnh miền Nam nói chung về tu học. Ni trưởng cung thỉnh các vị danh Tăng như: Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Hòa thượng Thích Thanh Từ, Hòa thượng Thích Từ Thông, Hòa thượng Thích Huyền Vi,… về chùa giảng dạy cho Ni chúng khoảng 50 vị với tinh thần tinh tấn, kỷ cương, trí tuệ để rèn luyện. Ngoài ra, còn kể đến Ni trưởng Thích Nữ Như Ngộ (1918 - 2016) - một thành viên của Ban Quản trị Ni bộ Bắc Tông, người khai sơn chùa Phổ Đức tại thành phố Mỹ Tho vào năm 1964. Từ 1964 - 1975, chùa Phổ Đức là Phật học Ni viện - Trung tâm chuyên đào tạo chư Ni trình độ Sơ đẳng Phật học cho nhiều tỉnh lân cận, mang tính quy mô và hưng thịnh. Cho nên, đây là một thành tựu lớn về giáo dục của Ni giới Tiền Giang giai đoạn trước năm 1975. Sau ngày thống nhất đất nước, tình hình xã hội vô vàn khó khăn, vậy mà các ngôi chùa Ni trong tỉnh vẫn duy trì nếp sống thiền môn, chuyên tâm tu học mà không
 

hề nản lòng. Tại Phật Bửu Ni tự, chùa Sắc Tứ Linh Thứu, chùa Phổ Đức, việc An cư kiết hạ được cố gắng duy trì để Ni chúng tỉnh nhà được thúc liễm thân tâm, trau dồi tam vô lậu học, giữ gìn mạng mạch Phật pháp và tiếp nối ngọn đèn trí tuệ, giới hạnh của các bậc tiền nhân. Phải nói rằng, đây là một giá trị vô cùng quan trọng, tạo nên tính chất bền vững, nhất là phương diện tâm linh và trí tuệ, cho sự phát triển Ni bộ Tiền Giang qua những thăng trầm lịch sử.
  1. Chư Ni Tiền Giang luôn thể hiện lòng từ bi nhằm phát huy tinh thần nhập thế và hộ quốc an dân.
Điều này cho thấy chư Ni tỉnh nhà không chỉ chuyên tu mà còn tích cực nhập thế hành đạo với sở nguyện cứu khổ độ sanh, giúp đỡ các mảnh đời bơ vơ, bất hạnh, các nạn nhân do chiến tranh gây ra trên mảnh đất Tiền Giang. Qua đây cho thấy, hình ảnh từ bi của người con Phật luôn là điểm sáng về đạo đức, tâm linh làm cho người dân cảm phục, kính quý. Phật giáo Tiền Giang nhờ đó mà được lan tỏa trên vùng đất cây trái bốn mùa, thẳm sâu vào tâm thức những con người hiền hòa, thanh lịch. Tại Phật Bửu Ni tự, Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh đã cho mở một Ký Nhi viện để chư Ni nuôi dạy các trẻ em không gia đình liên tục trong khoảng 20 năm trước ngày giải phóng. Nhiều lần, trước cảnh tang thương mất mát, Ni trưởng đã thiết đàn chẩn tế, cầu siêu bạt độ vong linh giúp nhân dân nguôi ngoai nỗi đau mất người thân. Đặc biệt, Quan Âm Tu viện trở thành một địa chỉ thân thương của người dân nghèo khổ, nạn nhân chiến tranh. Ni trưởng Thích Nữ Minh Ngọc đã xây một Chẩn Y viện để khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho người dân bị thương tật, người nghèo, một Ký Nhi viện nuôi trẻ mồ côi, một trường học tình thương với khoảng 100 học sinh không có điều kiện đến trường. Đối với bản thân tôi, công đức của quý Ni trưởng và chư Ni tham gia công tác từ thiện xã hội, góp phần xoa dịu nỗi khổ, niềm đau do chiến tranh gây ra là nghĩa cử vô cùng cao đẹp, thể hiện tinh thần từ bi của người con Phật. Đó là một niềm tự hào của đoàn thể Ni giới Tiền Giang ngày nay. Nói đến đây, trong lòng tôi trào dâng một cảm xúc tự hào mà ngôn từ khó có thể diễn tả. Bởi lẽ, ngày tôi chập chững bước vào con đường học Phật, tôi đã có duyên được theo học và hầu cận với những bậc danh Ni ấy. Để rồi tinh
 

thần kính tin tuyệt đối nơi Tam bảo, sự tu tập, lễ nghi tuân theo thiền môn quy củ, cuộc sống đạo hạnh mà giản dị, lòng nghiêm từ trong việc nuôi dạy đồ chúng của các bậc Thầy Ni đã giúp tôi trưởng thành trong ngôi nhà Phật pháp và những điều đó là điểm son theo tôi suốt quá trình tu học mãi đến ngày nay.
    1. NI GIỚI TIỀN GIANG TIẾP BƯỚC TIỀN NHÂN
Sau một thời gian dài Ni bộ Bắc tông vắng bóng, các bậc Trưởng lão Ni bấy giờ ưu tư cho tiền đồ Ni giới hậu học nên đã đồng lòng đệ trình đến chư Tôn Giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam để được thành lập một tổ chức quản lý và điều hành Ni giới cả nước. Vượt qua bao khó khăn, thử thách, năm 2008, Phân ban Ni giới thuộc Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam được hình thành.
Năm 2009, theo chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang được thành lập với mục đích quy tụ, tập hợp chư Tôn đức Ni trên toàn tỉnh để đoàn kết tổ chức, sinh hoạt tu học, triển khai các công tác Phật sự. Việc thành lập Phân ban mang lại một ý nghĩa quan trọng, đó phát huy sức mạnh của toàn thể Ni chúng nhằm đóng góp vào sự phát triển của Phật giáo Tiền Giang trong thời đại hội nhập, phát triển. Bằng những giá trị truyền thống đã hình thành, với những nền tảng kinh nghiệm được, chư Ni Tiền Giang liên tục gặt hái được những thành tựu lớn trên mọi phương diện hoạt động Phật sự gần 10 năm qua. Chúng tôi thể khái quát bức tranh như sau:
  1. Ngay từ khi thành lập, Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang tiến hành thống kê số lượng Tự viện và chư Ni trên địa bàn tỉnh nhà. Tổng số Tự viện Ni là: 192 ngôi chùa, tịnh xá và có 544 chư Ni (Bắc Tông: 502 vị, Khất sĩ : 42 vị). Như vậy, trong vòng khoảng 70 năm, Ni giới Tiền Giang không ngừng phát triển, khởi đầu chỉ là ngôi chùa Phật Bửu dành cho Ni chúng chuyên tu. Ngoài ra, Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang là một tổ chức theo tinh thần lục hòa của Đức Phật, đoàn kết giữa các hệ phái, tông môn để tạo ra tính ổn định, luôn tuân thủ sự chỉ đạo của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh nhà. Cho đến hiện tại, Phân ban đã hoạt động
 

nhiệm kỳ III (2017 - 2022). Trong các nhiệm kỳ, Phân ban đã suy cử chư Tôn đức Ni chứng minh vốn là những bậc cao niên, giới đức thanh tịnh, uy tín và mô phạm để làm tòng lâm thạch trụ - chỗ dựa tâm linh vững chắc cho Ni giới Tiền Giang. Đó là Ni trưởng Thích Nữ Tân Liên, Ni trưởng Thích Nữ Minh Viên, Ni trưởng Thích Nữ Nhan Liên, Ni trưởng Thích Nữ Như Minh, Ni trưởng Thích Nữ Minh Châu, Ni trưởng Thích Nữ Long Chơn… Trong hai nhiệm kỳ đầu, Phân ban Ni giới Tiền Giang được sự dẫn dắt của Ni trưởng Thích Nữ Như Bình với vai trò là Trưởng Phân ban Ni giới. Đến nhiệm kỳ III (2017 - 2022), do Ni trưởng Trưởng Phân ban niên cao, sức yếu nên tôi - Tỳ kheo ni Thích Nữ Tịnh Nghiêm được Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Tiền Giang giao trọng trách thay thế Ni trưởng để tiếp tục đồng hành trong mọi công tác Phật sự của Ni giới tỉnh nhà. Đối với tôi, đó là một nhiệm vụ rất lớn mà bản thân tôi khó có thể một mình gánh vác. Ngày ngày tôi hằng nguyện cầu Tam bảo gia hộ, Đức Thánh Tổ Ni độ trì để đoàn thể Ni giới hòa hợp, đồng lòng trong mọi Phật sự. Đặc biệt, trong cơ cấu tổ chức của Ban Trị sự tỉnh, tôi là vị Ni đầu tiên được cử vào vị trí Phó Trưởng ban Trị sự cùng với các vị Ni làm ủy viên, đảm trách nhiệm vụ ở các ban như Ban Tài chánh (10 vị), Ban Thông tin Truyền thông (6 vị), Ban Từ thiện Xã hội (18 vị), Ban Giáo dục (13 vị), Ban Hướng dẫn Phật tử (13 vị), Ban Hoằng pháp (8 vị), Ban Tăng sự (2 vị), Ban Pháp chế (1 vị), Ban Phật giáo Quốc tế (2 vị), Ban Văn hóa (13 vị), Ban Giám hiệu Trường Cao - Trung Phật học (1 vị). Điều này cho thấy uy tín và nội lực lẫn năng lực hoạt động của Ni giới Tiền Giang.
  1. Truyền thống tu tập để trang nghiêm Ni đoàn, vun bồi tư lương làm bảo sở vững vàng trên con đường giải thoát luôn được Phân ban Ni giới tỉnh nhà phát huy, gìn giữ. Hằng năm, việc tổ chức An cư kiết hạ luôn được chư Ni tổ chức theo quy củ thiền môn, tu tập miên mật để tăng trưởng giới định huệ. Trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, luân phiên có hai Hạ trường dành cho chư Ni trong toàn tỉnh, đó là chùa Linh Phong, chùa Sắc Tứ Linh Thứu. Ngoài ra, còn có Hạ trường chùa Phổ Đức dành cho Ni sinh Trường Cao - Trung Phật học và điểm An cư tại chỗ - Ni viện Tịnh Nghiêm. Các đạo tràng này luôn nhận được sự quan tâm sâu
 

sắc của chư Tôn đức Ban Trị sự tỉnh nhà, Phân ban Ni giới Trung ương và Tiền Giang, sự hộ trì tịnh tài, phẩm vật của nam nữ Phật tử trong và ngoài tỉnh.
  1. Truyền thống đề cao giáo dục nội minh và ngoại minh luôn được Ni giới Tiền Giang kế thừa cố gắng phấn đấu. Ngày trước, mặc còn nhiều khó khăn, nhưng Ni trưởng Thích Nữ Diệu Tịnh, Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh, Ni trưởng Thích Nữ Minh Ngọc,… tích cực nghiên tầm nội điển từ các bậc trưởng thượng, thậm chí vượt đường xa đến Huế học hành. Nhờ đó, Ni giới Tiền Giang hình thành được bề dày chắc chắn về sở học, sở tu. Tiếp nối truyền thống quý báu đó, ngày nay chư Ni Tiền Giang có hàng trăm vị Ni trẻ được đào tạo nội điển, ngoại điển vững vàng bằng ý chí phấn đấu miệt mài nên đạt học vị cử nhân, thạc sĩ,… ở nhiều ngành học. Và hiện tại đã có hơn trăm vị Ni trẻ đang theo học tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như đang là nghiên cứu sinh cho học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ trong và ngoài nước. Thiết nghĩ, đây là nguồn nhân lực quan trọng giúp Ni giới tỉnh nhà phát triển trong tương lai. Bản thân tôi cũng như nhiều chư Tôn đức Ni tỉnh nhà luôn ý thức việc tích lũy sở học nhằm làm phong phú cho kinh nghiệm tu tập bản thân, cố gắng dày công nghiên tầm Kinh - Luật - Luận để làm tư lương trên lộ trình về nơi bảo sở. Cá nhân tôi được các Lớp Luật (tỉnh Cần Thơ, Bạc Liêu), các Trường hạ Ni tại nhiều tỉnh, thành mời tham gia giảng dạy Kinh - Luật Đại thừa, sách tấn cho hàng hậu học. Bằng lòng tin tuyệt đối nơi ngôi Tam bảo, sự nhiệt huyết, phấn đấu không ngừng trên con đường tu tập của bản thân, tiếp độ Ni chúng và hành trình nhập thế, tôi đã chia sẻ kinh nghiệm của mình với chư Ni tại những nơi tôi đến hầu tiếp thêm cho họ sự tinh cần trên lộ trình giải thoát. Đây là một niềm vinh dự cho bản thân nói riêng và cũng là góp phần đưa hình ảnh, tiếng nói của Ni giới Tiền Giang đến với đoàn thể Ni giới trong cả nước nói chung.
Truyền thống nhập thế và hộ quốc an dân của chư Tôn đức Ni ngày trước luôn được Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang ngày nay phát huy tích cực, trở thành một thành tựu quan trọng, một điểm nhấn nổi bật nhất trong các hoạt động Phật sự của các Tự viện Ni trên địa bàn tỉnh. Liên
 

tục trong nhiều năm qua, các chương trình từ thiện xã hội mang tính đa dạng, thiết thực, được chính quyền các cấp đánh giá cao và thu hút cộng đồng xã hội hưởng ứng tích cực. Tại các Tự viện, chư Ni tặng quà cho bà con nghèo, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn, tổ chức bếp ăn tình thương nấu cơm, cháo cho bệnh nhân tại các bệnh viện trong tỉnh. Bên cạnh đó, Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang còn tập trung vào các hoạt động như xây nhà tình thương, làm đường giao thông nông thôn, xây cầu, đào giếng, tài trợ mổ tim, mổ mắt và khám chữa bệnh cho người nghèo, học bổng cho học sinh nghèo… Tổng kết nhiệm kỳ I (2009 - 2012), giá trị từ thiện xã hội do chư Ni toàn tỉnh thực hiện đạt trên 25 tỷ đồng. Trong nhiệm kỳ II (2012 - 2017), con số tăng lên gần 40 tỷ đồng. Công tác từ thiện xã hội đem lại hiệu quả tích cực cho các vùng quê nghèo khó, cho những mảnh đời bất hạnh, đồng thời là hình thức thể hiện tấm lòng từ bi của người con Phật một cách thiết thực nhất. Tuy nhiên, một thành tựu quan trọng, một điểm sáng trong hoạt động từ thiện của Ni giới Tiền Giang cần nhắc đến là Trường Mầm non Tịnh Nghiêm - nơi nuôi dạy miễn phí hơn 200 trẻ em nghèo mỗi năm. Đây là một mô hình giáo dục mầm non thành công của Phật giáo hiện nay.
    1. . KẾT LUẬN
Kế thừa truyền thống tiếp nối di sản các bậc tiền nhân con đường lâu dài, bền bỉ, một mục tiêu phấn đấu liên tục của chư Ni tỉnh nhà trước bao đổi thay của thời cuộc, chuyển dời những thăng trầm lịch sử. Những giá trị truyền thống của chư Ni tiền bối chính là những viên gạch đặt nền tảng xây dựng Ni bộ vững vàng trước những khó khăn, thách thức, đồng thời chính là những ngọn hải đăng sáng ngời dẫn dắt cho nhiều thế hệ Ni chúng tỉnh nhà trên lộ trình tự độ, độ tha trong tương lai. Hy vọng với bề dày truyền thống có được, với những tấm gương đạo hạnh sáng ngời, với những thành quả tốt đẹp, Ni giới tỉnh Tiền Giang tiếp tục gặt hái nhiều thành tựu Phật sự quan trọng trong thời gian tới.
 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Nhiều tác giả (2016), Nữ giới Phật giáo Việt Nam truyền thống hiện đại, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ni giới Hệ phái Khất sĩ (1994), Kỷ yếu Ni trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, Kỷ yếu Đại hội Ni bộ Bắc Tông, Chùa Từ Nghiêm, 1972.
  4. Phật Bửu Ni viện, Tiểu sử Thầy Bổn sư Liễu Tánh, bản photocopy.
  5. Tỳ kheo ni Như Đức (biên soạn), Lược sử Ni giới Bắc Tông, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2009.
 







 

NHỮNG VIÊN NGỌC SÁNG CỦA NI BỘ BẮC TÔNG

ĐẤT TIỀN GIANG
TKN. Như Năng



“Mỹ Tho cảnh đẹp người xinh
Quyện lòng du khách gợi tình nước non”.(1)
Từng là một trong những trung tâm thương mại tấp nập nhất Nam bộ vào thế kỷ XVII, thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang) cũng nổi tiếng là vùng “đất học”. Người dân Mỹ Tho có truyền thống hiếu học, nhiều sĩ phu đỗ đạt, thành tài, đóng góp quên mình cho đất nước. Mỹ Tho cũng nổi tiếng là vùng đất “Tây học”, nơi trường học theo giáo dục phương Tây đầu tiên của Việt Nam đã được thành lập.(2) Tư tưởng tiến bộ của phương Tây về bình quyền đã sớm thâm nhập vào vùng đất nơi đây, giúp nữ giới Mỹ Tho có điều kiện học tập, vươn lên thuận lợi hơn nhiều nơi khác. Vì vậy, Ni giới Mỹ Tho sớm có điều kiện tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến, ươm mầm trí thức, thực hiện khát vọng hoài bão lớn.
Chính vì vậy, Tiền Giang là mảnh đất có truyền thống Ni giới phát triển mạnh. Trong thế kỷ XX, nơi đây đã sinh ra nhiều vị danh Ni đóng góp cho sự phát triển lớn mạnh của Ni giới nước nhà thời hiện đại. Những viên ngọc sáng của Ni giới đất Tiền Giang có thể kể đến Sư bà


  1. Thành phố Mỹ Tho - Vùng đất, con người và truyền thống, http://sgddt.tiengiang.gov.vn/75-nam-thanh-lap-oi- tntp-hcm/-/asset_publisher/pnNeqFOSeyQY/content/thanh-pho-my-tho-vung-at-con-nguoi-va-truyen-thong
  2. Trường College de Mitho được thành lập năm 1879, là trường “Tây học” đầu tiên của Việt Nam.
 

Diệu Tịnh (1910 - 1942); Sư bà Liễu Tánh (1916 - 1982); Sư bà Như Ngộ (1918 - 2016). Quý Sư bà là những người đã đóng góp đáng kể vào sự hình thành và phát triển của Ni bộ Bắc Tông, riêng Sư bà Liễu Tánh từng giữ trọng trách Vụ trưởng Ni bộ trong những giai đoạn nhất định. Nhân dịp Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm Di được tổ chức long trọng tại tỉnh Tiền Giang năm nay, với tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” “Tiếp bước tiền nhân, phát huy Chánh pháp”, chúng con xin đóng góp tham luận tựa đề “Những viên ngọc sáng của Ni bộ Bắc Tông đất Tiền Giang” nhằm ghi lại đôi nét hoạt động một thời của quý Sư bà Diệu Tịnh, Sư bà Liễu Tánh, Sư bà Như Ngộ, để tỏ lòng ngưỡng mộ và tôn kính những bậc danh Ni của mảnh đất giàu truyền thống này.
    1. Sư bà Diệu Tịnh
Ngay từ đầu thế kỷ XX, Sư bà Diệu Tịnh đã có những đóng góp tiên phong trong việc tập hợp, đoàn kết Ni giới miền Nam, tạo cơ sở cho sự hình thành Ni bộ Bắc Tông vào năm 1956.
Sư bà Diệu Tịnh sinh năm 1910 tại huyện Gò Công (thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay), mất năm 1942, thế danh là Phạm Đại Thọ. Sư bà thuộc dòng dõi Phạm Đăng. Từ khi còn nhỏ, Sư bà đã thể hiện là người ham học, ham tu. Năm 15 tuổi, Sư bà vào chùa Tân Lâm ở Tân Sơn Nhất - Gia Định. Năm 18 tuổi, Sư bà theo học trường Ni Giác Hoa ở Bạc Liêu, tại đây, Sư bà được thọ học với Hòa thượng Như Hiển Chí Thiền, được Pháp danh Hồng Thọ, hiệu Diệu Tịnh. Sau khi học xong ở Trường Giác Hoa, Sư bà về lại Gia Định, theo học với Hòa thượng Phước Tường Như Quý (Thủ Đức), được cử về chùa Hội Sơn (Châu Thới - Biên Hòa) năm 19 tuổi. Năm 1930, Sư bà thọ giới Tỳ kheo ni tại núi Điện Bà và sau đó theo học với Hòa thượng Từ Phong cho đến lúc Ngài viên tịch.
Sư bà đã có những đóng góp to lớn cho Phật giáo và Ni chúng. Thấy Ni giới thời đó chưa phát triển, Sư bà đã dịch Kinh Vu Lan, Phổ Môn, Pháp Bảo Đàn cho in ấn tống, kèm theo lời khuyến khích các Sư cô nên phát tâm tu học. Từ năm 1933, Sư bà bắt đầu có nhiều bài viết đăng trên tạp chí Từ Bi Âm, nhằm kêu gọi chấn hưng Ni phái. Cùng năm này,
 

Trường Hương chùa Giác Hoàng(1) (Bà Điểm) tổ chức cho hai phái Tăng Ni, Sư bà được mời làm Chánh na, lãnh đạo Ni, và sau đó được công nhận là Giáo thọ Ni đầu tiên của Gia Định. Khi đó, Sư bà mới 24 tuổi.
Năm 1934, Sư bà trụ trì chùa Thiên Bửu (Búng), đầu tiên mở lớp dạy Quốc ngữ và chữ Nho cho trẻ em. Cũng trong năm này, Sư bà khai trường hương 3 tháng tại chùa Thiên Bửu. Sư bà cùng Sư trưởng Huê Lâm dạy Luận và Luật, Ni chúng đến học được vài mươi người. Đây là trường hương đầu tiên do Ni tổ chức, là tiền đề cho sự trưởng thành của Ni giới về sau.
Cuối năm 1934, Sư bà mời Sư bà Diệu Tấn, Sư bà Diệu Tánh, Sư bà Diệu Thuận cùng xây cất chùa Ni Từ Hóa tại làng Tân Sơn Nhì (Gia Định). Năm sau chùa được dời sang làng Tân Sơn Nhất, đổi hiệu là Hải Ấn Ni Tự. Đây là ngôi chùa Ni đầu tiên vùng Gia Định.
Năm 1938, Sư bà được mời làm Pháp sư giảng dạy trong ba tháng hạ tại chùa Phước Long (Mỹ Tho). Sau đó, Sư bà ra Bắc tham cứu tạng Luật. Trên đường đi, Sư bà ghé Bình Định thuyết pháp tại chùa Liên Tôn và chùa Thiên Hưng; qua Đà Nẵng viếng hội Phật học Đà thành; đến Huế gặp cụ Lê Đình Thám và Sư bà Diệu Không; đến Hà Nội, Sư bà được mời thuyết pháp tại chùa Phó Hưng Yên; Sư bà học Luật tại chùa Quán Sứ.
Học xong, về Nam ghé Huế giảng dạy trong 2 tháng. Năm 1940, Sư bà hợp tác với cô Ba Xàng mở trường Ni tại chùa Giác Linh. Sư bà làm Giáo thọ tại Ni trường chùa Giác Linh, sau đó Ni trường dời sang chùa Vạn An, kéo dài một năm. Năm 1941, Sư bà được mời khai trường Ni tại chùa Linh Phước (Sa Đéc). Nhưng ở đây, sức khỏe Sư bà bắt đầu suy yếu nên không giảng dạy nhiều. Cuối năm 1941, trường bế giảng.
Do lao tâm lao lực, ngày giảng dạy, đêm xem Kinh, thao thức việc hoằng truyền Ni chúng, ba trường Ni trong 2 năm, Sư bà đã mắc bệnh phổi phải về Hải Ấn tịnh dưỡng. Một năm sau, Sư bà viên tịch ở Hải Ấn Ni tự (làng Tân Sơn Nhất), ngày 01/7 âm lịch năm 1942, 33 tuổi đời, 12 tuổi đạo.


1.   Đây là Trường Hương đầu tiên cho phép Ni tham dự.
 
 

2. Sư bà Liễu Tánh

Sư bà Liễu Tánh (1916 - 1982) là Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt nhiệm kỳ (1968 - 1972). Sư bà sinh trưởng trong một gia đình phú gia có truyền thống mộ đạo tại huyện Cai Lậy, tỉnh Định Tường (tỉnh Tiền Giang ngày nay). Thân sinh là cụ ông Thiện Nguyện (thế danh Lâm Khẩn Cầu) và thân mẫu là cụ bà Diệu Tâm (thế danh Nguyễn Thị Phương). Sư bà có tư chất thông tuệ ngay từ nhỏ, sáu tuổi đã theo bà ngoại đến quy y và thọ học giáo lý với Hòa thượng Pháp Lưu trong suốt 4 năm trường ròng rã ở chùa Bửu Long, làng Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, tỉnh Định Tường (tỉnh Tiền Giang ngày nay).
Sư bà xuất gia năm 12 tuổi tại chùa Phi Lai, Châu Đốc (An Giang) với Hòa thượng Như Hiển Chí Thiền, được pháp danh Diệu Tánh. So với quý Sư bà cùng ở chùa Phi Lai như Sư bà Diệu Kim, Sư bà Hữu Chí, Sư bà Diệu Tấn… Sư bà Diệu Tánh là người nhỏ tuổi nhất. Năm 15 tuổi, Sư bà cùng với mẹ được thọ giới Sa di Ni tại chùa Khánh Quới (Tiền Giang ngày nay). Năm 17 tuổi, mẹ Sư bà lâm trọng bệnh, Sư bà về Cai Lậy để chăm sóc mẹ già. Một năm sau, mẹ Sư bà qua đời, Sư bà phát tâm nhập thất một năm trong một thảo am nhỏ (nay là chùa Khánh Hưng) để tụng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa một chữ một lạy và đọc tụng Kinh Địa Tạng 300 bộ để báo hiếu mẫu thân.
Năm 20 tuổi, Sư bà được thọ giới Tỳ kheo ni tại chùa Thiên Phước, làng Tân Hương - Mỹ Tho. Tại đây, Sư bà y chỉ với Hòa thượng Pháp Tạng, được cho phép về chùa Phước Trường với Hòa thượng để tu học, sau 3 năm được Hòa thượng ban cho bài kệ đắc pháp. Hòa thượng đã dạy nghi thức Thiền lâm và Hán học cho Sư bà. Nhờ sự giáo dưỡng của Hòa thượng, Sư bà được khai tâm từ độ ấy. Năm 24 tuổi, Sư bà được Hòa thượng Phước Trường cho ra Huế học tại Ni trường Diệu Đức. Tại Huế, Sư bà sống theo nếp mẫu mực đạm bạc của một Ni sinh, chỉ mặc một chiếc áo nhật bình cũ kỹ bất kể mùa nóng lạnh của Kinh thành Huế. Suốt 4 năm học tập tại Ni trường Huế, Sư bà đã vượt qua mọi thử thách, học tập cần mẫn và được Sư bà Giám đốc Ni trường Diệu Đức khen ngợi công hạnh tu học: “Sáng dường gương, trong tợ tuyết/ Mềm như sắt, cứng như bông…”
 

Năm 27 tuổi, Sư bà về Nam, xin cầu pháp với Hòa thượng Phổ Nghĩa Phước Trường, dòng Lâm tế Gia phổ đời thứ 40, được Hòa thượng cho pháp danh Liễu Tánh. Năm 28 tuổi, Hòa thượng cho gọi Sư bà về Sài Gòn, giao Sư bà trách nhiệm Trụ trì chùa Bửu Toàn (Chợ Gạo). Được đào luyện và thọ giới với chư Hòa thượng danh tiếng, đến năm 30 tuổi, Sư bà đã có uy tín và đức độ để hoằng pháp.
Nhận thấy tỉnh nhà chưa có chùa Ni, năm 31 tuổi, Sư bà về Cai Lậy, xây cất chùa Phật Bửu (còn gọi chùa Sư Nữ) trên khuôn viên đất của ông bà. Đây là chùa Ni đầu tiên của huyện Cai Lậy, tỉnh Định Tường (Tiền Giang). Tại đây, Sư bà bắt đầu thâu nhận đệ tử, giảng dạy Kinh Luật. Từ năm 1948 đến năm 1960, Phật Bửu Ni Học đường luôn luôn có Ni chúng theo học gần 50 người, dưới sự dạy dỗ của Hòa thượng Phước Tường và Sư bà.(1)
Năm 1950, ở tuổi 34, Sư bà nhận lời thỉnh của chùa Phật Quang (Bến Tre) khai Trường Hương ba tháng tại đây. Sau thời gian này, Sư bà cùng với Sư bà Như Minh chùa Bạch Vân, Sư bà Như Ngộ chùa Phổ Đức, Sư bà Như Huệ chùa Vĩnh Bửu… cầu học Kinh Lăng Nghiêm Trực chỉ với Hòa thượng Trí Tịnh tại chùa Vạn Đức. Quý Sư bà cùng dự khóa An cư tại chùa Giác Nguyên, cùng hội ý về việc thành lập Ni bộ. Khi Sư trưởng Như Thanh đi vận động quý Sư bà ở miền Nam đã đến Phật Bửu Ni tự gặp Sư bà Liễu Tánh đầu tiên. Trong Đại hội Ni bộ tại chùa Huê Lâm năm 1956, Sư bà được đề cử làm Phó Trưởng Ni bộ Nam Việt đồng thời làm Trưởng ban Ni bộ tỉnh Định Tường (Tiền Giang). Năm 1957, Sư bà mở lớp Sơ đẳng Phật học tại chùa Phật Bửu cho hơn 40 chư Ni trong và ngoài tỉnh. Năm 1958, Sư bà được Ban Quản trị Ni bộ giao chức vụ Quản lý Ni trường Dược Sư nhiệm kỳ đầu tiên. Năm 1960, Sư bà làm Trưởng ban Hoằng pháp của Ni bộ Nam Việt. Sư bà đã đi thuyết pháp tại nhiều chùa như chùa Xá Lợi, Dược Sư… và đi giảng tại các nơi như Châu Đốc, Vũng Tàu, Vĩnh Long, Mỹ Tho… Cũng trong năm 1960, Sư bà thành lập Pháp Hoa Ni viện tại đường Cô Bắc, Sài Gòn.





1.   Tỳ kheo ni Như Đức (biên soạn), Lược sử Ni giới Bắc Tông Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, tr. 104.
 

Năm 1968, Sư bà được suy cử làm Vụ trưởng Ni bộ Bắc Tông kiêm Trưởng ban Xã hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến năm 1972.
Từ năm 52 tuổi, Sư bà lâm bệnh, sức khỏe yếu dần, nhưng hàng ngày, Sư bà vẫn tụng Kinh Pháp Hoa, chuyên tâm niệm Phật, tinh thần vẫn minh mẫn làm tròn trọng trách đối với Tam Bảo, với môn đồ pháp lữ. Năm 1982, sau khi sắp xếp xong Phật sự, dặn dò các môn đệ, làm di chúc cho ba Ni sư: Minh Thiền, Minh Hạnh, Minh Viên quản lý coi sóc chùa Phật Bửu và giao quyền quản lý Pháp Hoa Ni viện cho hai Ni sư: Minh Huệ, Minh Thiện tiếp nối “truyền đăng tục diệm”, Sư bà viên tịch tại Pháp Hoa Ni viện, 66 tuổi đời, 47 tuổi đạo, tháp thờ tại Phật Bửu Ni tự (Cai Lậy).
Sư bà viên tịch sớm nhất trong số các vị Vụ trưởng Ni bộ Bắc Tông, nhưng công đức và sự nghiệp để lại cho Ni giới cùng Phật tử vô cùng lớn lao. Gần 70 năm tu học và hành đạo, Sư bà đã để lại ân tình thâm trọng, vẹn nghĩa đạo đời, là viên ngọc sáng ngời của Ni giới Tiền Giang, soi đường cho chư Ni hậu bối nói chung, chư Ni đất Tiền Giang nói riêng.

3. Sư bà Như Ngộ

Như Ngộ (1918 - 2016), sinh tại Khánh Hậu, thị Tân An, tỉnh Long An, thế danh Thị Nên. sinh trưởng trong gia đình trung lưu Nho giáo mến mộ Phật pháp. Từ nhỏ, đã thường đến chùa lễ Phật nghe Kinh. Năm 12 tuổi, trải qua nỗi đau mất mẹ, sớm thức tỉnh về lẽ thường của cuộc đời, bắt đầu ấpquyết tâm xuất gia. Năm 16 tuổi, Người được cụ Pháp Long thế phát xuất gia với pháp danh Diệu Ngộ. Năm 1938 (20 tuổi), được thọ giới Tỳ kheo ni tại chùa Hội Sơn (Thủ Đức). người ham học, suốt trong những năm tuổi trẻ từ 1938 - 1955, Người không quản khó khăn trở ngại, không ngừng tìm thầy học đạo. Người đã được thọ giáo với các bậc cao Tăng thạc đức đương thời trải qua các đạo tràng: chùa Kim Sơn (Phú Nhuận) nơi được xem Phật học Ni trường uy tín nhất thời điểm đó; chùa Thiên Đức (Sài Gòn), Linh Phong (Tiền Giang); Kim Huê (Sa Đéc); Phật Quang (Trà Ôn); Bảo An (Cần Thơ); Vĩnh Bửu (Bến Tre).
 

Năm 1957, sau khi Ni bộ Bắc Tông thành lập, Sư bà được mời vào Ban Quản trị Ni bộ Nam Việt với chức vụ Thư ký và dự khóa Đào tạo Trụ trì tại chùa Ấn Quang.
Mặc dù sinh ra ở Long An nhưng cuộc đời của Sư bà Như Ngộ có nhân duyên gắn bó với vùng đất Mỹ Tho (Tiền Giang hiện nay). Sư bà là người đã khai sơn chùa Phổ Đức tại Mỹ Tho năm 1964, biến nơi đây trở thành Phật học Ni viện Trung tâm chuyên đào tạo chư Ni trình độ Sơ đẳng Phật học cho Tiền Giang và nhiều tỉnh lân cận. Trong thời gian từ 1966 đến 1974, Đạo tràng Phổ Đức phát triển hưng thịnh và trở thành Phật học Ni trường của tỉnh Tiền Giang. Đây chính là một thành tựu lớn về giáo dục của Ni giới Tiền Giang thời kỳ trước năm 1975.
Từ năm 1975, do thời cuộc chuyển biến, Sư bà ủy nhiệm Trụ trì chùa Phổ Đức cho đệ tử Như Hảo và trở về chùa Thiên Phước (Long An) tịnh tu với một số đệ tử. Có những lúc phải đối diện với hoàn cảnh khó khăn buổi giao thời, Sư bà vẫn kiên định ý chí tu học, hết lòng giáo dưỡng đệ tử chuyên tâm tu hành. Nhờ công đức tu tập của Sư bà, Ni trường Thiên Phước ngày càng phát triển hưng thịnh và hiện nay trở thành trường Trung cấp Phật học Long An, đúng như ước nguyện sâu xa của Người.
Từ năm 2007, sức khỏe Sư bà suy yếu. Sư bà viên tịch ngày 01/9 âm lịch năm 2016, trụ thế 98 năm với 78 mùa An cư kiết hạ.

Nhận xét và kết luận

Qua phần tìm hiểu, có thể thấy, quý Sư bà Diệu Tịnh, Sư bà Liễu Tánh, Sư bà Như Ngộ, mặc dù sinh ra vào những thời điểm khác nhau, trải qua những số phận khác nhau nhưng quý Sư bà chia sẻ những điểm chung, đó là tinh thần ham học, ham tu, là tâm nguyện phụng sự vì sự nghiệp giáo dục đào tạo Ni chúng, góp phần thay đổi diện mạo của Ni chúng, tạo tiền đề quan trọng cho sự thành lập của Ni bộ Bắc Tông vào năm 1956 và có đóng góp tích cực cho sự phát triển của Ni bộ từ năm 1956 trở về sau.
Sư bà Diệu Tịnh, Sư bà Liễu Tánh, Sư bà Như Ngộ là những vị đã kế thừa xuất sắc di sản của Đức Thánh Tổ Ni, tiếp dẫn Ni lưu, hoằng truyền Chánh Pháp, là những viên ngọc sáng của mảnh đất Tiền Giang
 

nói riêng, của Ni giới Việt Nam nói chung. Ở cương vị chuyên tu, quý Sư bà là bậc thầy lãnh đạo tinh thần. Ở cương vị hoạt động xã hội, quý Sư bà thực hiện tinh thần lợi tha giúp ích nhân sinh. Quý Sư bà là những người nghiêm khắc với bản thân nhưng từ bi đại lượng với tha nhân. Cuộc đời và công hạnh của các vị Trưởng lão Ni là những bài học cho muôn đời sau, là tấm gương sáng cho những thế hệ hậu bối soi chung.
Từ cuộc đời và hạnh nguyện của các bậc danh Ni đất Tiền Giang giàu truyền thống, có thể nói, sinh hoạt của Ni giới nơi đây luôn gắn liền với Ni giới Việt Nam qua các thời kỳ, góp phần quan trọng phụng sự đất nước, dân tộc. Những ngôi chùa Ni, những Ni trường đầu tiên ở Nam Bộ đã được hình thành tại đất Tiền Giang. Truyền thống tu học trang nghiêm của Ni giới Tiền Giang đã được giữ gìn và phát triển liên tục qua nhiều thế hệ bất kể những thăng trầm của lịch sử.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Tỳ kheo ni Như Đức (biên soạn), Lược sử Ni giới Bắc Tông Việt Nam, Nxb. Tôn giáo.
  2. Ghi chép của đệ tử Sư bà Liễu Tánh.
  3. Thành phố Mỹ Tho - Vùng đất, con người truyền thống, http://sgddt. tiengiang.gov.vn/75-nam-thanh-lap-oi-tntp-hcm/-/asset_publisher/ pnNeqFOSeyQY/content/thanh-pho-my-tho-vung-at-con-nguoi-va- truyen-thong.
  4. Tài liệu thành lập Ni bộ Bắc Tông (Tổ đình Huê Lâm).
 







 

NHỮNG ĐÓA SEN THANH NGÁT HƯƠNG TRÊN CHÂU THỔ SÔNG TIỀN

TKN. Tuyết Liên



T
 
o sư Minh Đăng Quang là vị sơ tổ khai sáng đạo Phật Khất sĩ Việt Nam vào tiền bán thế kỷ XX, với tôn chỉ Nối truyền ThíchCa Chánh pháp. Ngọn đuốc Minh Đăng được khơi rạng tại vùng đất Phú Mỹ - tỉnh Định Tường, nay thuộc huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Đạo Phật Khất sĩ là sự sáng tạo, mang tính thích nghi, được bản địa hóa để nhiều người có thể tu tập nhưng cốt lõi vẫn dựa trên nền tảng “Thích Ca chánh pháp”. Chuông pháp vang rền, Chánh pháp khai mở đường chơn, Chơn lý diễn bày, thức tỉnh bao người trong cõi mộng, hướng tâm quy Phật, pháp tứ y thể hiện hạnh chơn truyền. Từ vùng đất Phú Mỹ, bao đóa sen thanh đã vượt nước bùn vươn cao thanh thoát, phô sắc tỏa hương. Từ Ni trưởng Huỳnh Liên, Ni trưởng Bạch Liên, Ni trưởng Thanh Liên, Sư bà Bửu Liên bốn vị nữ khất sĩ đầu tiên của Hệ phái được Tổ ban pháp danh biểu hiện màu hoa sen thanh quý. Tất cả đều sinh trưởng từ vùng đất sông Tiền lập thân hành đạo, bước vân du mọi miền hóa duyên, tiếp chúng độ Ni lưu, một cành sen tiếp nối một cành sen, biến biển đời thành đầm liên hoa rực rỡ, trở thành Giáo hội Liên Hoa.
Đệ nhất Ni trưởng Huỳnh Liên, sinh trưởng trong một gia đình hiền lương đạo đức, được hấp thụ một nền học vấn căn bản từ thuở nhỏ, Ni trưởng đã bộc lộ bản chất thông tuệ và phẩm hạnh thanh cao của đóa liên hoa vô nhiễm. Năm 1947, khi 24 tuổi đời, được gặp Đức Tổ sư
 
 
 

















Cố Ni trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên

Minh Đăng Quang, Ni trưởng đã dõng mãnh phát nguyện làm chiếc thuyền chở chuyên phái nữ.

 
Bằng đại nguyện như thế, thuyền sen xông lướt, Bắc Nam Trung nối nhịp giao hòa, thể hiện hạnh Thích Ca, một bát cơm ngàn nhà khất thực. Ni trưởng đã được Đức Tổ Minh Đăng Quang giao trọng trách lãnh đạo Ni giới Khất sĩ. Năm 1954, Đức Tổ Minh Đăng Quang vắng bóng, Tăng Ni Khất như con thuyền không lái nhưng bằng sự kiên trì, tuệ giác soi đường, Ni trưởng đã khéo léo lèo lái con thuyền Giáo hội Ni giới Khất
 
sĩ, truyền thừa Phật pháp rộng sâu trong quần chúng nhân dân. Với cương vị lãnh đạo Ni giới Khất sĩ, Ni trưởng nhận thức được sứ mệnh cùng trọng trách của mình trước sự nghiệp phát triển hoằng dương chánh pháp, Ni trưởng chủ trương “Tu học mới rạng ngời Chánh pháp, học tu mới lợi đạo ích đời”. Cuối niên khóa 1970 - 1971, Ni giới Khất một tốt nghiệp Cử nhân Phật học Triết học Đông phương, tiếp tục học lên Cao học, chính Ni trưởng Tố Liên, hiện Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương. Ni trưởng Huỳnh Liên tầm nhìn xa trông rộng, chủ trương cho Ni chúng học thêm văn hóa, sinh ngữ, cổ ngữ học rộng Phật pháp, vừa hấp thụ tinh hoa mới của thời đại, vừa thấm nhuần ý pháp trong biển pháp Như Lai. Ni trưởng sách tấn chư Ni học siêng tu giỏi, một số vị theo thế học chuyên ngành, một số vị học lên Cao cấp, Cao đẳng, học tinh chuyên về Phật pháp, học chuyên kinh bộ, văn phạm dịch kinh Pali, thể nói đây thời kỳ trăm hoa đua nở làm cho vườn hoa đạo pháp được ươm mầm khắp đất nước thân yêu.
Năm 1987, Ni trưởng Huỳnh Liên viên tịch, Hội chúng Ni giới Khất lên đến hơn 1.000 vị, từ Cam Lộ đến Mau đã 144 ngôi Tịnh xá. Trung ương Ni giới Khất đặt tại Tổ đình Tịnh Ngọc Phương, quận Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2018, Ni giới Hệ phái đã 27 Ni sư, tốt nghiệp Tiến từ nước ngoài về, 11 đang học Tiến sĩ, 11 Thạc sĩ, 10 đang học Thạc sĩ, gần 200 tốt nghiệp Cử nhân Phật học, 30 tốt nghiệp khóa Giảng Cao - Trung cấp do Ban
 

Hoằng pháp Trung ương đào tạo, 56 tốt nghiệp Cao đẳng Phật học, một số Ni chúng đang công tác các ban, ngành, viện Trung ương các tỉnh, thành. Hiện nay 130 học Ni đang theo học các trường Phật học cũng như ngoại khóa. Hiện nay, Ni giới Khấtphát triển được 261 ngôi Tịnh trên 1.500 Ni chúng, đó thành quả vẻ vang của Ni giới Hệ phái.
Ni trưởng Huỳnh Liên, với tinh thần nhập thế, người rất quan tâm đến sự khổ của muôn người, nên trong giai đoạn chiến tranh, Ni trưởng đã chủ trương lập Cô nhi viện, Ký nhi viện ở các miền Tịnh xá đủ duyên, để nuôi dạy những trẻ em nghèo cơ nhỡ, trẻ em là nạn nhân của chiến tranh. Đạo hạnh của Ni trưởng được tạc khắc vào trang sử vàng của Giáo hội, làm rạng danh cho Tổ thầy. Công hạnh của Ni trưởng đã được xã hội ghi nhận trên trang sử Việt Nam, nên tại phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã có con đường mang tên Ni sư Huỳnh Liên”.
Có thể nói Ni trưởng Huỳnh Liên là một con người sáng tạo, đã mở mang con đường tu học mới cho Hệ phái, Người dám thay đổi hướng tu, đưa ra chủ trương mới cho Ni chúng học và sản xuất để có đời sống kinh tế tự túc, đào tạo người thừa kế có trình độ, có tri thức, có khả năng đảm đang Phật sự biết hòa nhập với xã hội trong từng giai đoạn. Qua cuộc sống tu hành của Ni trưởng đã để lại cho Ni giới bài học hành đạo lợi ích cuộc đời, không câu nệ giáo pháp, đó là tấm gương sáng cho Ni giới Khất sĩ nói riêng và cho Ni giới nói chung.

 
Nói đến sự phát triển, sự thành tựu của Ni giới Khất sĩ, ngoài tài năng lãnh đạo của Ni trưởng Huỳnh Liên, không thể không nhắc đến Đệ nhị Ni trưởng Bạch Liên, là người sinh trưởng nơi đất Tiền Giang, được đức Tổ sư tế độ xuất gia nơi chùa Linh Bửu, làng Tân Hòa Thành, tỉnh Tiền Giang, đồng lý tưởng, chung hạnh nguyện với Ni trưởng Huỳnh Liên trên đường giải thoát. Trong giai đoạn mở mang mối đạo, Ni trưởng Bạch Liên đã vững lái giương buồm Trung nguyên một cõi,
 
dựng lập biết bao tịnh cảnh, mưa pháp mây lành, ban rưới bao người mát mẻ. Sen vàng trăm vẻ, đâu

Cố Ni trưởng
Thích Nữ Bạch Liên (1924 - 1996)
 
 
 
















Cố Ni trưởng Thích Nữ Thanh Liên
(1925 - 1968)
















Cố Ni trưởng Thích Nữ Kim Liên (1913 - 1990)
















Cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Liên

đâu cũng rạng nét phong quang, bát đất y vàng, hóa thành thuyền sen Bát nhã. Tặng cho đời pháp lành báu lạ, nhận của người manh áo chén cơm. Xin rồi cho, tinh thần vật chất cân phân; học rồi dạy, đền đáp tấm lòng tín thí. Biển đời trang nghiêm sen quý, báo đền nghĩa trọng Tứ ân.

 

 
Đệ tam Ni trưởng Thanh Liên (1925 - 1968), ba vị đồng lễ Tổ xuất gia, gian nan giai đoạn ban đầu, tay chống tay chèo thuyền Giáo hội, Liên hoa quốc độ tiếp độ Ni lưu. Hăm lăm năm lẻ du hành, khi lên trung thổ, lúc vượt cao nguyên, mở mang mối đạo, độ biết bao người, đang độ trung niên, vô thường chợt đến, sớm mãn duyên trần, Người viên tịch năm Mậu Thân (1968).

Quý Ni trưởng thế hệ ban đầu do đức Tổ sư tiếp độ giáo dưỡng còn có:

 
Đệ tứ Ni trưởng Kim Liên, sinh trưởng tại quận Bến Tranh, Tiền Giang, trong gia tộc nho phong đức độ. Một ngày gặp Tổ, nghe pháp giác ngộ vô thường, phát tâm xuất gia học đạo, từ đó bắt đầu đi khắp tỉnh thành châu quận, tỉnh thức quần sanh, soi đuốc huệ gọi người quay về chánh đạo. Trải qua 44 năm xuất gia hành đạo, 34 năm Trụ trì Tịnh xá Ngọc Thanh, (thuộc thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), giữ hạnh Khất sĩ chơn không, được mọi người quý trọng, thế thọ 87 năm, viên mãn một đời, thành tựu đạo nghiệp.

Đệ Cửu Ni trưởng Trí Liên, người tỉnh Long An. Năm 1948, khi nghe đức Tổ Minh Đăng Quang thuyết pháp, Ni trưởng phát nguyện xuất gia, theo chân Thầy bạn hành đạo, bước chân du hóa các tỉnh miền Đông miền Tây Nam bộ. Sau
 

hai năm Tổ vắng bóng, Ni trưởng lập chí ẩn chốn non xanh, chọn đất Tây Ninh, núi Điện nơi tu dưỡng. Năm 1961, Ni trưởng hạ sơn hành đạo, từ Tây Ninh, Dầu, Trảng Bàng, Sài Gòn, Long An, rồi đến Định Tường. Đất Tiền Giang định sẵn, làng Tân hữu duyên, hạnh Khất sĩ chân truyền, bá tánh đồng quy ngưỡng. Người người chung sức, hiến đất xây cất đạo tràng, tịnh cảnh già lam, Ngọc Hiệp thơm duyên Tịnh xá. Trường đạo tiếp Ni độ chúng, kẻ hữu duyên tiếp nối duyên, y bát chơn truyền, giáo dưỡng Ni lưu tu học. Ba mươi sáu năm khêu rạng đèn thiền, tinh tấn nêu cao thân giáo, pháp Bát kỉnh thực hành, tôn kính bậc đại Tăng, bản thể Ni lưu từ đó lập thành, diệt bản ngã hòa cùng chơn ngã, giới định huệ pháp hành cao cả, giữ hạnh tu giềng mối đạo thiền.

 
Đệ thập Ni trưởng Thiện Liên, vị đệ tử Ni thứ mười của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang. Năm 1946 xuất gia, nương chốn tòng lâm học đạo tại Giác Lâm cổ tự. Đến năm 1949, Tổ Minh Đăng Quang hành đạo tại Ngọc Lâm Tự. Ni trưởng cầu thọ giới pháp Sa di Ni, rạng rỡ pháp y, ngạt ngào hương giới, với pháp hiệu Thiện Liên, tín tâm kiên cố, nhẫn nhục kiên trung; tánh hạnh vững bền, đầu trần chân đất, khất thực hóa duyên, cuộc sống
 
giản đơn tâm vui niềm đạo pháp. Chí lực hùng, vượt mọi chướng duyên, Tịnh xá Ngọc Nguyên (huyện Cái Bè) được xây cất, phát nguyện an trú độ chúng tu hành.
Đương kim Trưởng NGHPKS Ni trưởng Tràng Liên, duyên lành gặp Tổ phát nguyện xuất gia, được Ni trưởng Huỳnh Liên tiếp nhận, đưa vào Giáo hội Liên Hoa. Năm 1961, Người về Mỹ Tho hành đạo trùng tu nâng cấp Ngọc Mỹ tịnh đàng. Năm 1969, Ni trưởng đến đất Sài thành, giáo hóa nhân sanh, dựng xây tinh đàng Ngọc Diệp, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào năm 2002,

Cố Ni trưởng

 
Thích Nữ Thiện Liên (1913 - 1997)

















Cố Ni trưởng Thích Nữ Tràng Liên
 

Ni trưởng Tạng Liên, Đệ tam Trưởng Ni giới Hệ phái Khất viên tịch, Ni trưởng được suy tôn đảm nhiệm Đệ tứ Trưởng Ni giới Hệ phái Khất được GHPGVN suy cử vào chức vụ Ủy viên Hội đồng Trị sự.

 
Ni trưởng Hưng Liên - Viện chủ Tịnh Ngọc Định - TP. Mỹ Tho (1931 - 1997) sinh năm 1931, tại Điều Hòa, TP Mỹ Tho, tỉnh Định Tường (nay Tiền Giang) phát tâm quy Phật năm 16 tuổi. Năm 1966, bước chân Ni trưởng du phương hành đạo đến Sóc Trăng, trụ tại Tịnh xá Ngọc Khánh. Năm 1969 Ni trưởng trở lại quê nhà, lập tịnh thất tịnh tu, năm 1970 ngôi tịnh thất nhỏ phát triển thành ngôi già lam Ngọc Định; từ đây ngày ngày miên
 
Cố Ni trưởng Thích Nữ Hưng Liên
(1931 - 1997)

mật, tinh tấn tu trì, với đức tánh từ bi, tâm lượng hỷ xả nên Phật tử hữu duyên gặp được Ni trưởng đều hết lòng quy kính, dù thân bệnh, nhưng Ni
 
trưởng vẫn làm tròn nhiệm vụ sứ giả Như Lai, nêu gương Phật cho người gieo hạnh Phật. Năm 1997, duyên trần viên mãn, Ni trưởng đã xả bỏ báo thân đi vào cõi tịnh. Với thế thọ 67 tuổi, lạp thọ 44 năm.
Ni trưởng Tân Liên, Trụ trì Tịnh xá Ngọc Quang, thị xã Gò Công, là một bậc Trưởng lão Ni đức độ hiền hòa, hiện là Phó Trưởng Phân ban Ni giới Trung ương, chứng minh Phân ban Ni giới Tiền Giang. tuổi cao sức yếu, nhưng Ni trưởng vẫn tùy hỷ chứng minh trong mọi sinh hoạt Ni giới và Ni trưởng rất tích cực trong công tác an sinh xã hội. Những ai từng tiếp xúc với Ni trưởng đều nhận ra những đức tính từ bi, bao dung, độ lượng cũng như hạnh khiêm hạ đối với mọi người. Ni trưởng thường nhắc nhở chúng đệ tử phải giữ gìn giới luật, sống hạnh lục hòa, tu cho có đức, học cho thành tài. Vì tiền đồ Phật pháp, vì lợi lạc chúng sanh nên tuy tuổi đã 85, nhưng tinh thần vẫn còn minh mẫn, vẫn an vui, cởi mở, vẫn lo trùng tu kiến tạo đạo tràng, tích cực phụng sự Giáo hội.
Nhìn lại quãng đời hơn sáu mươi năm cống hiến cho Đạo pháp, phục vụ chúng sanh, những bước chân thầm lặng, dạt dào đức “từ, bi, hỷ, xả”. Công hạnh và trí đức của Ni trưởng là gương sáng tuyệt vời, một đóa
 

sen thanh trong liên trì hải hội, Hạnh và Đức xứng đáng cho đàn hậu tấn chúng con noi gương. “Một bậc Trưởng lão Ni khả kính...”.
Ni trưởng Minh Liên, Viện chủ Tịnh xá Ngọc Tâm, sinh trưởng tại xã Đồng Sơn, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Năm 1952 Người tròn 28 tuổi, duyên lành gặp Tổ xuất gia, bước chân hành hóa, lưu chuyển khắp đó đây. Năm 1955 Ni trưởng về khai sơn tạo tự Tịnh xá Ngọc Tâm tỉnh Long An tiếp ni độ chúng.
Nhiệm kỳ VI (2002 - 2007) Ni trưởng được GHPGVN tỉnh Long An cung cử vào chức vụ Phó ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Long An kiêm Ủy viên Ban Tăng sự. Nhiệm kỳ VIII (2012 - 2017) Ni trưởng là Cố vấn chứng minh Phân ban Ni Giới Trung ương và Chứng minh Phân ban Ni Giới tỉnh Long An. Với hạnh nguyện giúp người, Bếp ăn từ thiện Ngọc Tâm ra đời mỗi ngày phát 800 phần cơm miễn phí cho bệnh nhân ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An.
Hiện nay với tuổi đời 92, Ni trưởng vẫn nhiệt tâm với sự nghiệp phát triển của GHPGVN nói chung và của Hệ phái Khất sĩ nói riêng. Quả là một gương hạnh tuyệt vời để cho hàng hậu học noi theo.
Ni trưởng Thông Liên, Viện chủ Tịnh xá Ngọc Tháp, thị xã Mộc Hóa, tỉnh Long An, là một bậc Tôn túc Ni giới đức kiêm ưu trong hàng đệ tử của Đức Tổ Minh Đăng Quang. Người sinh tại vùng đất Mỹ Tho, đoan trang thanh nhã, bẩm chất thông minh, thích đọc sách tham thiền, lòng từ bi chan chứa, nghe tiếng chuông chùa như gợi nhớ, đường xưa lối cũ nẻo quay về, gặp Tổ Thầy phát nguyện ly gia, nhập chúng xuất gia tu học, y vàng bát đất thung dung, gót sen Nam Trung dạo khắp, mây từ mưa pháp rưới ban, về Long An kiến lập đạo tràng, đất Mộc Hóa dừng chân an trụ. Với 63 năm hành đạo, 83 năm duyên mãn thế trần, xả huyễn thân tự tại thiên chân, ly huyễn cảnh trở về lạc cảnh.
Tâm hạnh Ni trưởng Nhan Liên, Viện chủ Tịnh xá Ngọc Mỹ, thành phố Mỹ Tho, người tỉnh Bình Dương, sớm xuất gia tu học, giai đoạn đầu, Ni trưởng được hầu cận và học pháp với Ni trưởng Huỳnh Liên, sau đó y chỉ với Ni trưởng Tràng Liên. Ni trưởng luôn tinh tấn tu hành, nghiêm trì giới luật, giữ gìn đạo hạnh, chỉnh túc oai nghi, trau dồi tâm
 

đức và tuệ đức. Theo Giáo đoàn Ni giới Khất sĩ truyền thừa Phật pháp rộng sâu trong quần chúng nhân dân.
Hơn 40 năm đảm nhiệm trách vụ Trụ trì Tịnh Ngọc Mỹ với 14 năm, 3 nhiệm kỳ từ 1994 - 2007 là UV.BTS.PG tỉnh Tiền Giang, Ni trưởng luôn hoàn thành xuất sắc trong mọi Phật sự mà Giáo hội tỉnh nhà và Hệ phái giao phó.
Ni trưởng Tố Liên, người tỉnh Tiền Giang, 20 tuổi xuất gia học đạo, 30 tuổi đổ bằng Cử nhân Phật học. Theo Ni trưởng Huỳnh Liên viết Kinh dịch thuật; phụ tá Hòa thượng Minh Châu, trong công tác phiên dịch Kinh tạng Pali, người có tài sáng tác thơ văn, một ngòi bút văn chương tuyệt tác; hiện nay, Ni trưởng là Ủy viên Hội đồng Trị sự, Chứng minh Phân ban Ni giới Trung ương, Kiêm Phó ban Hoằng pháp Trung ương, Phó ban Từ thiện Báo Giác Ngộ.
Ni trưởng Sáng Liên, em ruột Ni trưởng Tố Liên, khi xuất gia nhập đạo, tinh chuyên nghiêm trì Giới luật, chọn hạnh tứ y thực hiện bổn hoài, cùng đệ huynh kết nguyện du phương hành đạo, không trụ một nơi nào cố định; tuy nữ lưu nhưng chí nguyện kiên cường, thân Ni giới gió sương dầu dãi, người đi đi mãi, đem gương lành rải khắp muôn nơi. Năm 1981, khi sức khỏe suy dần, Ni trưởng về tinh đàng Ngọc Mỹ, an trú tịnh tu, tâm hạnh ôn nhu, thật xứng bậc xuất trần khất sĩ.
Ni trưởng Nguyệt Liên, vốn là đệ tử Ni trưởng Thiện Liên, Trụ trì Tịnh xá Ngọc Nguyên, thị trấn Cái Bè, tinh tấn trang nghiêm Giới luật, chuyên cần hành đạo độ sanh. Hơn 50 năm phụng đạo, trang nghiêm thân giáo, tâm hạnh kiền thiền, vượt mọi chướng duyên, hoàn thành bổn nguyện.
Ni trưởng Nghĩa Liên, đương kim Trụ trì Tịnh xá Ngọc Định, 19 tuổi tâm lành hướng thiện, túc duyên xưa hội ngộ minh sư, hạnh bát y du hóa theo Thầy, 1969 về Mỹ Tho trợ lực Thầy xây dựng tinh đàng Ngọc Định làm nơi tu dưỡng. Thầy viên tịch kế thừa đạo nghiệp, phát triển đạo tràng ngày một phong quang.
 
 
 
Ni trưởng Nhơn Liên, môn đệ Ni trưởng Trí Liên, Trụ trì Tịnh xá Ngọc Hiệp huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (1915 - 2007). Cuộc đời trải qua 93 năm thế thọ, 41 hạ huân tu, 23 năm đảm nhiệm trách vụ Trụ trì chu toàn Phật sự; trùng tu Tam bảo, hướng dẫn cư gia. Tuổi 90 thọ bệnh, giữ thân khẩu an nhiên, kham nhẫn cắt đứt các duyên, chuyên tâm niệm Phật, ba năm thọ bệnh, ba năm an tịnh, 93 tuổi mãn duyên, ngày ra đi thanh thản an nhiên, khi hỏa táng được hơn 100 viên xá lợi.
Ni trưởng Gương Liên, người làng Điều Hòa, TP. Mỹ Tho, đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho


















 
Cố Ni trưởng Thích Nữ Nhơn Liên

(1915 - 2007)
 
Đạo pháp, hiện là Phó ban Trị sự Phật giáo tỉnh Long An, Trụ trì Tịnh xá Ngọc Tâm, ngôi Tịnh xá tiêu biểu là điểm An cư kiết hạ hàng năm của chư Ni Khất sĩ tỉnh Long An. Dù Phật sự đa đoan, Ni trưởng vẫn không quên hạnh lợi tha, tích cực công tác từ thiện, duy trì bếp ăn bệnh viện tỉnh Long An nhiều năm, góp phần an sinh xã hội.

Nhìn chung và đánh giá

Tiền Giang không chỉ quê hương của hai bậc mẫu nghi thiên hạ còn nơi kết duyên của nhiều vị Ni lưu trong Giáo hội Liên Hoa, hoặc những vị nhân duyên sinh trưởng nơi đất Tiền Giang, vùng địa linh nhân kiệt, xuất gia hành đạo khắp các miền đất nước, làm rạng danh Ni lưu đất Việt; hay những vị nhân duyên hành đạo nơi vùng châu thổ sông Tiền. Tất cả đều những bậc Ni lưu kiệt xuất, mỗi vị một đóa sen thanh, tỏa ngát hương thiền, điểm cho vườn hoa đại thể.
Đến thời điểm này, sau 70 năm hành đạo (1947 - 2019), chư Ni Hệ phái Khất sĩ đã có những thành tựu quý báu mà chư Trưởng lão Ni tiền bối lãnh đạo, dày công vun đắp tô bồi. Từ 4 vị Ni trưởng ban đầu, hiện nay chư Ni đã tăng lên con số 2.200 vị; từ ngôi Tổ đình Ngọc Phương, nay số lượng Tịnh xá Ni Khất sĩ đã tăng lên 309 ngôi (1), đã xác định sự

  1. Tư liệu trong 100 ngôi Tịnh xá tiêu biểu.
 

kiến tạo, sự thành tựu, sự tiếp nối, sự phát triển một cách vững vàng. Đặc biệt, cuộc đời và đạo nghiệp của Đệ nhất Ni trưởng Huỳnh Liên là tấm gương sáng cho Ni giới Khất sĩ nói riêng và Nữ giới Phật giáo nói chung học tập và noi theo. Để ghi nhận những đóng góp của Ni trưởng cho đạo pháp dân tộc, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã đặt tên đường Ni Huỳnh Liên. Đây niềm vinh dự tự hào cho tất cả những người con Phật, động lực để thúc đẩy Ni chúng ra sức tu tập tinh tấn.
Nhìn lại đạo nghiệp của các bậc tiền bối Ni, chư Ni hậu duệ được thừa hưởng đức ân, nguyện sẽ noi gương nối nguyện, tiếp bước tiền nhân. Phát huy Chánh pháp trên tinh thần chấp hành chủ trương của Giáo hội, hội nhập và phát triển nhưng vẫn giữ được kỷ cương và truyền thống, không quên tưởng phục vụ chúng sanh mục tiêu giải thoát của chính mình, nhất là học theo hạnh nguyện của quý Ngài.
Nghiêng vai gánh đạo vào đời Cho đời tỏ đạo, cho người an vui.
Hôm nay, chư Ni thế hệ kế thừa, cúi đầu kính ngưỡng công đức của chư Tôn Trưởng lão Ni tiền bối trọn đời hành đạo, đạo sử lưu danh. Nguyện ra sức học tập và phục vụ chúng sinh để những đóa sen thanh không chỉ ngát hương trên vùng châu thổ sông Tiền mà còn lan tỏa khắp muôn phương. Qua đó, góp phần xây dựng đạo Phật Khất sĩ Việt Nam ngày càng vững mạnh, là trụ cột vững chắc trong ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
 







 

TIẾP BƯỚC TIỀN NHÂN


TKN. Lệ Thanh



Nhớ thuở xưa,
Đức Kiều Đàm Di Thánh Mẫu
Chân trần hành bộ, vạn dặm đường dài
Chí nguyện kiên cường khẩn thỉnh Như Lai Tiếp độ Ni lưu dự vào hàng Tăng lữ.
Từ đó,
Hơn hai mươi thế kỷ trôi qua
Đàm Di Ni phái tán diệp khai hoa Bao lớp tiền nhân cây cao bóng cả
Gióng trống pháp âm khêu đèn Bát Nhã
Hạnh đức lưu phương hương lan tỏa muôn nhà. Giờ đây,
Ni giới Tiền Giang cúi đầu lễ kỉnh
Đốt nén đàn hương, lắng lòng thanh tịnh Tưởng niệm ân Tổ khai sáng Ni đoàn Tâm niệm khép mình trong ánh từ quang
Tiếp bước người xưa nối dòng Thích chủng
 
NI GIỚI VIỆT NAM - NI GIỚI TIỀN GIANG: TIẾP BƯỚC TIỀN NHÂN PHÁT HUY CHÁNH PHÁP

Phát dương quang đại, tục diệm truyền đăng Chánh pháp thừa đương đền ơn sâu nặng Cho rừng Thiền hoa nở, biển khổ sóng bằng. Kính nguyện,
Uy linh tối thắng, thánh đức phò trì Nghìn năm Đạo pháp quang huy Muôn thu rạng danh Thích nữ.
 





 

CÔNG HẠNH VÀ ĐẠO NGHIỆP NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN

NT. Tố Liên



N
 
i trưởng Huỳnh Liên (1923 - 1987) là vị giáo phẩm Ni thuộc thế hệ đầu tiên của Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam được Đức Tổ sưMinh Đăng Quang khai đạo và trở thành Trưởng tử Ni của Ngài.
Người sanh trưởng trong một gia đình Nho học uyên thâm, thấm nhuần đạo đức và tin Phật dạt dào. Thuở thiếu thời đã học xong chương trình Trung học, giỏi chữ Hán, được bồi dưỡng kiến thức và ảnh hưởng gương sáng của gia đình, khiến nên người con gái trong lứa tuổi đôi mươi làng Phú Mỹ đã trở thành thông tuệ, kiến văn sâu rộng, quyết định dõng mãnh cắt ái ly gia, sống cuộc đời thanh bạch như vỏ ốc, với hạnh nguyện làm chiếc thuyền từ chuyên chở phái nữ vượt bể khổ sông mê. Rồi suốt cuộc đời gắn bó với Đạo, hoạt Phật, hoạt Pháp, hoạt Tăng, vân du hóa độ chúng sanh không mòn mỏi. Đồng thời với quê hương, góp phần kiên cường đấu tranh đòi quyền sống, đòi hòa bình, dân sinh dân chủ và đòi giải phóng đất nước thân yêu. Một nữ tu tay mềm chân yếu mà suốt cuộc đời kiên định lập trường nhập trần bất nhiễm, tùy duyên bất biến, bất biến vẫn tùy duyên theo định hướng:
Nguyện xin hiến trọn đời mình,
Cho nguồn Đạo pháp, cho tình quê hương.
Quả là một vị Bồ tát nghịch hạnh, một bậc chân tu khả kính, một vị lãnh đạo tài ba, một bậc Thầy ưu việt với công hạnh tuyệt vời, tinh thần bất khuất, trí đức viên dung.
 
 
    1. Thuần thục trong nếp tu trong sáng và nền tảng giác ngộ đoàn kết lợi sanh
Bản tính vốn thông minh đĩnh ngộ, đức từ rộng bủa độ sanh linh, thương người như Phật thương mình, độ người như Phật độ sinh thuở nào, ánh sáng giác ngộ của Ni trưởng như hòa quyện cùng nguồn tâm, cùng đức hạnh, cùng hương thơ lan tỏa bốn phương trời, diệu dụng tuyệt vời chuyển xoay nghiệp khổ, cứu độ hàm linh.
Giăng tay dắt con thuyền hoằng thệ,
thả trên mặt bể, an trí kẻ trầm;
Trải lòng đan chiếc áo từ tâm,
choàng khắp cõi trần, ấm thân người thế.
(Thơ NT. Huỳnh Liên - Đường Giải Thoát)
Suốt tám năm trời theo bước chân Tổ sư du phương, qua những bài chân lý thật sống, bằng những thử thách gay go trên đường hành đạo, Ni trưởng vừa trui rèn chí khí, vừa dồi trau phẩm hạnh, hầu khai thị Pháp thân, nối truyền huệ mạng, tuyên lưu giáo pháp Phật Đà, Người đã trở thành pháp khí chốn Tòng lâm. Với lòng từ bi vô hạn, bằng tâm hạnh người mẹ, người chị thân thương, Ni trưởng ân cần dạy dỗ Ni chúng về mọi mặt, nào kinh nghiệm tu tập, hành đạo, đối nhân xử thế, tích đức gieo duyên, kinh nghiệm xương minh diệu pháp cho đến mặt chữ nghĩa thi phú văn chương.
Cho nên, bước chân Người đi đến đâu là Đạo tràng Tịnh xá mọc lên đến đó, giống như những búp sen thanh thoát vọt lên từ nước đọng bùn lầy. Đây là điểm thành công đặc biệt của Ni trưởng trong sự nghiệp hoằng pháp độ sanh.
Từ năm 1947 - 1987, bốn mươi năm hoằng dương Phật đạo, thuyết Pháp độ sanh, bốn mươi năm giáo dưỡng Ni chúng, truyền trì mạng mạch, Người đã “lâng lâng tâm cảnh, khăng khăng chí nguyền”. Nhờ bi nguyện bao la, đức độ từ hòa, sức tinh tấn không mòn mỏi, chiếc “Thuyền sen” của Ni trưởng đã vượt qua bao ghềnh thác, vượt sóng cả biển to về bến đỗ an toàn, thành đạt nhiều kỳ công kiên cường, dũng cảm.
 

Bốn mươi năm vinh nhục khen chê chẳng ngại, khó khăn gian khổ không màng, những chiếc áo vàng của Ni trưởng và Ni giới Hệ phái Khất sĩ đã uyển chuyển hiền hòa trong sương chiều nắng sớm, khi trung thổ, lúc sơn xuyên, xuôi ngược sông Tiền, sông Hậu, băng đèo vượt dốc, đến tận đồi núi Tây Nguyên, hội nhập vào dòng người, hiện diện khắp các tỉnh thành, quận huyện, khắp Nam Trung và cao nguyên, duyên hải. Nhờ thuần thục trong nếp tu trong sáng, nhờ nền tảng giác ngộ đoàn kết lợi sanh, nên ánh sáng công hạnh trí tuệ của Ni trưởng gieo trồng đến đâu là hoa Giác quả Thiền xinh tươi đơm cành đến đó. Hội chúng xuất gia Ni giới càng lúc càng đông, lên đến cả ngàn; thiện nam tín nữ lớp lớp hàng hàng nương ánh từ quang tinh cần tu tiến. Ni trưởng viên tịch năm 1987, từ Cam Lộ đến Cà Mau đã có 144 ngôi Tịnh xá đạo tràng trên 144 thảm đất vàng khang trang thanh lịch vốn là cơ sở chi nhánh của Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương, Trung ương Ni giới Hệ phái. Đây chính là sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp của Ni trưởng, cũng chính là hiếu đạo Ni trưởng báo đền Phật Tổ thâm ân.
    1. Đào tạo nhân tài kế vãng khai lai
Suốt cuộc đời vì Đạo, vì nhân sanh, sống thanh bần giản dị, ăn mặc ở, bệnh đơn sơ, thế mà oằn vai nặng gánh:
Vai chạy gạo, y xiêm nuôi chúng, Vai nặng oằn đôi gióng nước non. Vai hoằng dương diệu pháp môn,
Đôi vai trĩu trĩu, lòng son chẳng dời.
Từng sát na sống của Người dạt dào ý nghĩa, từng sát na vận chuyển trí tâm, ươm mầm giác ngộ cho chư Ni trẻ, hoạch định chương trình đào tạo nhân tài kế vãng khai lai cho Hệ phái. Người mạnh dạn chủ trương không chấp nê thủ cựu, dám thay đổi hướng tu, cho Ni chúng đi học và sản xuất để có đời sống kinh tế tự túc, không phải lệ thuộc vào sự cúng dường của đàn na. Chính nhờ khởi xướng táo bạo đó mà ngày nay Ni giới Hệ phái Khất sĩ mới có nhiều người tốt nghiệp Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ Phật học. Thật đáng trân trọng!
 

Ni trưởng cho Ni chúng đi học thêm văn hóa, sinh ngữ, cổ ngữ Hán và Pāli, một số học tinh chuyên văn phạm và dịch thuật Pāli. Người khích lệ bằng câu: “Học Pāli để đền ơn Thầy Tổ, học Pāli để rạng rỡ tông môn; học Pāli để chánh pháp lưu tồn, học Pāli để tiếp cận Kim ngôn Đức Phật.”
Lại khuyến khích, sách tấn chư Ni học siêng, tu giỏi, vừa học rộng Phật pháp, vừa được hấp thụ thêm những tinh hoa mới của thời đại, vừa được thấm nhuần trong biển pháp của Như Lai. Lúc đó, có nhiều người được Ni trưởng giúp cho du học ở nước ngoài.
Người khẳng quyết hùng hồn:
Tu có học mới rạng ngời Chánh pháp, Học có tu mới lợi Đạo ích Đời.
Người còn chủ động ủng hộ thường xuyên cho việc thành lập Trường Cao cấp Phật học Việt Nam - Cơ sở II tại Thành phố Hồ Chí Minh.
    1. Thi phú văn chương và công trình phiên dịch
Vốn là một thiên tài về văn chương thi phú, nên đạo nghiệp Pháp bảo thơ văn của Ni trưởng cũng vô cùng đa dạng. Ni trưởng đã nổi bật với hạnh nguyện hoằng dương Chánh pháp qua chủ trương Việt hóa. Người đã biên soạn, phiên dịch và diễn thơ các Kinh tạng chữ Hán và Pāli ra chữ Quốc ngữ để Ni chúng và Phật tử dễ học, dễ lãnh hội, ý nghĩa súc tích, dễ nhớ, dễ đọc tụng và phổ biến rộng sâu.
Hiện tại, hai bộ Kinh Tam Bảo Tinh Hoa Bí Yếu đã được in thành tập, phổ biến, tái bản nhiều lần và được đọc tụng hằng ngày trong các thời khóa của Hệ phái. Hai tập thơ của Ni trưởng đã được xuất bản, tập Đóa Sen Thiêng ra đời năm 2012, đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập “Tập thơ chuyển Đạo vào Đời được viết theo nhiều thể loại thơ nhất”.
Ni trưởng để lại cho đời 2.000 bài thơ nội dung súc tích và hằng ngàn bản văn xuôi. Người làm thơ là để giáo hóa môn sinh, đem Đạo vào Đời, giúp Đời thấm Đạo, làm thơ để gởi gấm bổn hoài, gọi hồn dân tộc, thúc giục đấu tranh cho hòa bình, cho lẽ thiện, cho quyền bình đẳng
 

nhân sinh, đặc biệt là bình đẳng nam nữ. Người làm thơ vì vốn rất yêu thơ, rất nhạy cảm, biệt tài xuất khẩu thành thơ, sáng tác nhanh, hay, nội dung Phật chất, dạt dào Pháp vị!
Công hạnh, gương sáng phụng Đạo giúp Đời, chí khí hào hùng bất khuất của Người đã được Hòa thượng Thích Từ Thông - Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cảm khái qua câu đối:
Chí bất khuất vì hạnh phúc tự do,
Chiếc áo Khất sĩ làm vẻ vang trong Ni giới; Nguyện kiên cường cho hòa bình độc lập,
Tấm thân nữ lưu nêu gương sáng chốn Tòng lâm.
Ôi! Ni trưởng Huỳnh Liên! Một nhà thơ có tâm hồn cao đẹp, tình yêu nước dạt dào, tình yêu đạo mênh mang! Suối thơ Người như dâng, dâng mãi…
Chính vì vậy, nhà thơ Trụ Vũ đã cung kính tặng Người hai câu đối lúc Người thảnh thơi về xứ Phật:
Khất sĩ chơn truyền,
lấy nghĩa non sông làm nghĩa đạo; Huỳnh Liên viên mãn,
cùng hương trời đất tỏa hương thơ.
Thật vậy, vốn là người nhìn xa trông rộng, Ni trưởng luôn ý thức, phổ biến, truyền đạt kiến văn của mình đến mọi người như chư vị Tổ sư tiền bối. Người luôn thể hiện hạnh từ bi, lòng nhân hậu, tình đoàn kết thương yêu vạn loại, không từ bỏ một ai.
Người mở lớp dạy Thiền cho Ni chúng, dạy Giáo lý cho chư Ni đang học tại Ngọc Phương và Cần Thơ, đích thân dạy thi phú văn chương cho chư Ni trẻ hữu duyên được vun bón những cành hoa tư tưởng, thông đạt giáo lý cao thâm để theo kịp trào lưu, tuyên dương chánh pháp. Người những mong trong Ni giới Hệ phái sẽ hiện diện những vị kỳ tài, pháp sư thiệt học, vừa hiền thục khiêm cung, vừa đạo hạnh trang nghiêm, viên minh tuệ giác, chứng ngộ cứu cánh Niết Bàn.
 

Thuở sanh thời, Người thường nhắc lấy sự tu chứng làm chính, chứ không phải tu suông. Hãy quán niệm bốn ơn và lập công bồi đức sống có đạo hạnh và trí tuệ để hoằng dương chánh pháp và giáo hóa chúng sanh, đừng hưởng lạc cầu an. Trí tuệ Người như thần thông, thấy rõ giả chân của cuộc sống… Người thường rạng ngời ánh mắt, bộc lộ niềm vui với câu nói ươm đầy kỳ vọng: “Các cô ơi, tôi sung sướng lắm! Tương lai tôi sẽ có một trăm cô đại học, hiện giờ tôi đang chuẩn bị lo cho các cô đây.”
Phải chi Ni trưởng chưa về hầu Phật, Ni trưởng sẽ sung sướng mỉm cười, rạng ngời ánh mắt vì thấy hoài bão thuở nào của mình nay đã trở thành hiện thực:
Ni chúng ngoan, giỏi, thành đạt trong công hạnh hoằng dương, xương minh diệu pháp trong học tập, tu hành, đào tạo Ni tài, triển khai tuệ giác, cứu khổ độ sanh và dõng mãnh kiến lập đạo tràng, không những ở Việt Nam mà còn trải rộng khắp thế giới.
Đây là những thành quả của Ni giới chúng con, xin được cung kính kết thành đài mây tâm hiếu hạnh diệu vời làm LỄ PHẨM CUNG DÂNG nhân ngày kỷ niệm lần thứ 31 của Người. Ngưỡng mong Người thùy từ tác đại chứng minh!
Bao nhiêu thành quả, bấy nhiêu hương, Tâm giới đài mây nguyện cúng dường. Minh chứng, Người ban ân thắng phước, Thuyền từ vững lái độ trần dương.
Giờ thì Ni trưởng đã dứt khoát với cuộc thế vô thường, nhẹ bước nhàn du, cao đăng Phật quốc. Trải 31 mùa lá rụng, hoa vẫn rơi trên chùa xưa tháp cũ, cảnh vật dẫu có đổi thay, nhưng tâm tư, nguyện vọng, tình cảm và những di ngôn, dấu ấn khó phai nhòa của Người vẫn còn đậm nét trong tâm thức của chúng con. Công hạnh và đạo nghiệp viên dung của Người luôn sáng chói trong lòng Đạo pháp và Dân tộc. Người được Đảng và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy hiệu và Bằng khen ca ngợi sự đóng góp vô giá của Người cho Đất nước và Dân tộc thân yêu, cho Hòa bình thế giới.
 

Chúng con nguyện mãi mãi nỗ lực tinh tấn trong Đạo nghiệp, thực hiện di huấn mà Ni trưởng đã ân cần nhắc nhở:
Ngày đã cận, cần tu gấp rút,
Giới giữ sao trong sạch như xưa. Định huệ không thiếu không thừa,
Lợi ích dân chúng, đúng vừa khả năng.
Xin trân trọng những bước đi trầm hùng của Người, nguyện sống tốt Đời đẹp Đạo đáp nghĩa Ân sư!
TP. Hồ Chí Minh, ngày 23/4/2018
 







 

PHẬT BỬU NI TỰ

NGÔI CHÙA NI ĐẦU TIÊN CỦA TIỀN GIANG QUÁ TRÌNH
TRUYỀN THỪA, PHÁT TRIỂN
TKN. Như Trang



 
  1. LỜI DẪN
Phật Bửu Ni tự hiện tọa lạc tại phường 1, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Chùa được thành lập năm 1947, tên gọi đầu tiên là Phước Bửu Ni tự. Đến năm 1949, chùa được đổi tên thành Phật Bửu Ni tự. Đây còn là ngôi chùa Ni đầu tiên của tỉnh Tiền Giang, đồng thời trở thành một trong những địa chỉ hoạt động sôi nổi của tổ chức Ni bộ Bắc Tông ở khu vực Tây Nam Bộ trước năm 1975. Người khai sơn ngôi chùa này chính là vị danh Ni nổi tiếng không chỉ của Tiền Giang mà còn của cả miền Nam Việt Nam thời trước: Ni trưởng Thích Nữ Liễu Tánh (1916 - 1982) - Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt nhiệm kỳ II (1968 - 1972). Trải qua quá trình hình thành và phát triển hơn 60 năm, ngôi chùa Phật Bửu gắn liền với bao thăng trầm, hưng phế của thời gian, nhưng mạng mạch truyền thừa vẫn được chư Ni duy trì nhằm kế tục sự nghiệp của Ni trưởng khai sơn, đoàn kết, gắn bó giữ gìn truyền thống tông phong nhằm thắt chặt đạo tình linh sơn. Vì thế, ngày nay, chùa là một niềm tự hào lớn của Ni giới Tiền Giang, một chốn tu học trang nghiêm, xứng đáng là ngôi già lam.
 

Nhân dịp Đại lễ Tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo và chư tiền bối Ni tại tỉnh Tiền Giang năm 2019, tôi xin giới thiệu về lịch sử ngôi chùa Phật Bửu cũng như quá trình truyền thừa, phát triển của các thế hệ trong hơn 60 năm qua. Qua đây góp phần khơi gợi niềm tự hào về truyền thống của Ni giới trên mảnh đất Tiền Giang cây trái hiền hòa, phong cảnh tươi đẹp, con người thanh lịch.
  1. NGÔI CHÙA NI ĐẦU TIÊN CỦA TIỀN GIANG
Ngày nay, chùa nằm tại trung tâm của thị xã Cai Lậy với cảnh náo nhiệt mỗi ngày của phố chợ. Tuy nhiên, thuở ban đầu xây dựng, Phật Bửu Ni tự được hình thành trên mảnh đất đầm lầy, thưa vắng người sinh sống.
Được biết, Ni trưởng Liễu Tánh, sau quá trình tu học tại Ni viện Diệu Đức (Huế), trở về Nam gặp cảnh chiến tranh loạn lạc, sau về lại quê hương Cai Lậy để tìm đất cất chùa, tiếp độ đệ tử tu tập. Vào năm 1947, thân phụ của Ni trưởng phát tâm dành mảnh đất với diện tích khoảng 1.000 m2 để xây dựng Tự viện, tạo điều kiện cho Ni trưởng hoằng dương chánh pháp tại quê nhà. Ban đầu, ngôi chùa khá đơn sơ, vốn được tạo lập bằng vật liệu chủ yếu là tre lá. Hoàn cảnh thời bấy giờ tuy khó khăn nhưng đã không làm Ni trưởng lung lay chí nguyện tu học, dấn thân phụng sự Đạo pháp. Một năm sau đó (1948), hội đủ nhân duyên, Ni trưởng Liễu Tánh đã thế phát xuất gia cho nhiều vị đệ tử:Về đến Cai Lậy, Thầy cố gắng tìm miếng đất để cất chùa Sư nữ hiệu là Phật Bửu vào năm 1947. Các đệ tử Minh Huệ, Minh Lạc, Minh Viên, Minh Nhựt, Minh Thiền, Minh Hạnh, Minh Ngọc, Minh Bổn phát tâm xuất gia. Vài năm sau, có các cô Minh Thông, Minh Thuận, Minh Thiện, Minh Từ, Minh Thành, Minh Kỉnh, Minh Hiếu, Minh Nhã, Minh Hiền, Minh Quang, Huệ Đức, Huệ Thảo,…”(1) Cho nên, nhân dân trong vùng còn gọi là chùa Sư nữ. Đồng thời, đây cũng là một hiện tượng đặc biệt, vì lần đầu tiên ở vùng đất Tiền Giang xuất hiện một ngôi chùa chuyên biệt cho Ni chúng tu tập. Trước đó, chỉ có các chùa Tăng, chư Ni lại ít ỏi và chủ yếu nương tựa để chấp tác, làm công quả. Ở đây, có thể khẳng định, Phật Bửu Ni


1.   Phật Bửu Ni viện, Tiểu sử Thầy Bổn sư Liễu Tánh, bản photocopy, tr. 5.
 

tự chính là một trong những ngôi chùa Ni hình thành sớm ở vùng đất Nam bộ. Tại Sài Gòn, ngôi chùa Ni Hải Ấn được thành lập năm 1934 bằng sự vận động của Sư cụ Diệu Tịnh. Ở Bến Tre, Tổ Khánh Hòa khai sơn Ni viện Vĩnh Bửu năm 1939, làm nơi tu học của Ni chúng. Tiếp đó, cũng trên mảnh đất Sài Gòn, Kim Liên Ni tự là nơi đào tạo Ni chúng từ năm 1947, đồng thời chùa Huê Lâm được Sư trưởng Như Thanh khai sơn trong năm này. Vì thế, có thể nói rằng, Phật Bửu Ni tự trở thành một trong những địa chỉ mở đầu cho sự phát triển Ni đoàn ở Nam bộ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.
Những năm đầu vừa mới thành lập chùa, mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn, nhưng Ni trưởng Liễu Tánh vẫn quyết tâm vừa tổ chức giảng dạy Kinh, Luật vừa tự túc kinh tế bằng việc thêu may, bán trái cây và thức ăn chay để có kinh phí nhằm duy trì sinh hoạt cho đại chúng. Nhờ đó, những năm về sau, chùa Phật Bửu nhanh chóng trở thành một Ni viện lớn, quy tụ nhiều Ni chúng đến xuất gia, tu tập: Từ năm 1948 đến năm 1960, Phật Bửu Ni Học đường luôn có Ni chúng theo học gần 50 người dưới sự dạy dỗ của Hòa thượng Phước Trường và Sư bà.(1)
Năm 1956, Ni bộ Nam Việt được thành lập tại Sài Gòn. Sau đó, một Đại hội của Ni giới Định Tường (Tiền Giang ngày nay) được tổ chức với sự tham dự của quý Sư bà Bảo An, Hải Huệ, Thanh Lương, Huyền Huệ,… tại Phật Bửu Ni tự. Ni trưởng Liễu Tánh vừa đảm nhiệm Vụ phó Ni bộ Nam Việt vừa được suy cử trở thành người đại diện cho Ni bộ tỉnh Định Tường thời bấy giờ. Năm 1957, lớp Sơ đẳng Phật học dành cho Ni được mở ngay tại chùa. Ngoài ra, tổ chức Gia đình Phật tử Chánh Giác ra đời, quy tụ Phật tử tham gia hoạt động khá hiệu quả, sôi động vào Chủ nhật hằng tuần cũng như các dịp lễ, vía. Vì thế, trong thập niên 50, 60 của thế kỷ trước, Phật Bửu Ni tự trở thành một trung tâm các hoạt động Phật sự của Ni giới Tiền Giang. Mặt khác, với tâm nguyện hoằng dương chánh pháp, Ni trưởng Liễu Tánh còn thành công quy tụ nhiều người dân trong vùng đến chùa nghe pháp, thực hành tu tập. Năm 1957, trước cảnh tang tóc của chiến tranh, Ni trưởng đích thân tổ chức Trai


1.   Tỳ kheo ni Như Đức (Biên soạn), Lược sử Ni giới Bắc Tông, Nxb.Tôn giáo, Hà Nội, 2009, tr. 104.
 

đàn chẩn tế rất lớn để cầu siêu cho vong linh, thu hút đông đảo nhân dân đến tham dự. Bên cạnh đó, bằng tấm lòng từ bi của người con Phật, Ni trưởng cho mở Ký Nhi viện tại chùa để cưu mang, đùm bọc trẻ em bơ vơ, mất cha mẹ do tình cảnh chiến tranh ngày một lan rộng.
Mặt khác, gắn liền với sự phát triển và đóng góp công lao lớn đối với chùa Hòa thượng Pháp Tạng (1890 - 1968), Trụ trì chùa Phước Trường (nay thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Ni trưởng Liễu Tánh cầu pháp với Hòa thượngtừng tu học tại chùa Phước Trường suốt ba năm, đích thân được Hòa thượng giảng dạy về nghi thức Thiền môn, về Phật học lẫn Hán học. Hòa thượng là người giới thiệu Ni trưởng ra Huế nhập chúng tu học tại Ni viện Diệu Đức. Đây chính là nhân duyên quý báu để Ni trưởng được học tập, nghiên tầm giáo điển Đại thừa, lĩnh hội Luật tạng từ chư Tôn thiền đức nơi đất thần kinh. Đặc biệt, vào năm 1949, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Pháp Tạng, Trung Tiểu Giới đàn Chí Thiền tổ chức tại chùa để trao truyền Giới luật Phật cho Ni chúng. Đây chính là Giới đàn Ni đầu tiên của tỉnh Tiền Giang. Tiếp đó, nhờ vào uy tín, đức độ của Hòa thượng, thực hiện tâm nguyện tiếp Ni độ chúng, Ni trưởng khai mở các Giới đàn vào năm 1958, năm 1960 do đích thân Ni trưởng làm Đàn đầu Hòa thượng truyền giới. liệu hình ảnh tại Phật Bửu Ni tự lưu lại cho biết: Trước năm 1975, đã có nhiều vị Hòa thượng nổi tiếng thời đó đến viếng thăm và giảng dạy giáo lý tại chùa như: Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Thanh Từ, Hòa thượng Huyền Vi… Đặc biệt, trong chuyến thăm Việt Nam năm 1960, Đại đức Narada từ Tích Lan đến viếng chùa. Ông trao tặng xá lợi Thánh tăng đến Hòa thượng Pháp Tạng và Ni trưởng Liễu Tánh. Đây là niềm vinh dự lớn cho Ni chúng chùa Phật Bửu. Viên xá lợi này là một bảo vật được chùa gìn giữ đến hôm nay.
Mặc dù Ni trưởng Liễu Tánh bận bịu Phật sự khá nhiều, nhất là cùng gánh vác trọng trách với quý Ni trưởng lãnh đạo Ni bộ Bắc tông, nhưng ngôi chùa Phật Bửu luôn được Người dành sự quan tâm, ưu ái lớn. Để ổn định cho Ni chúng tu học lẫn thuận duyên hoằng pháp, Ni trưởng tiến
 

hành trùng tu, sửa chữa lại chùa vào hai năm 1953, 1961 với sự hỗ trợ, giúp sức của hai đệ tử thân cận Minh Thiền và Minh Hạnh. Nhờ đó, ngôi chùa Phật Bửu được kiên cố hóa bằng bê tông, khang trang và đẹp hơn lúc ban đầu. Hiện tại, tổng diện tích đất chùa gồm 875m2, phía trước là khoảnh sân rộng, trong sân ngôi bảo tháp cao 8m uy nghiêm. Tháp này thờ linh cốt của Ni trưởng Liễu Tánh. Chánh điện chùa Phật Bửu rộng 120 m2, rất thoáng mát và rộng rãi. Nét đặc biệt trong bày trí tượng thờ chánh điện là duy nhất thờ một pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Kế đó, tại gian nhà hậu Tổ, trên cao nhất chùa đặt bàn thờ Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (bằng tranh sơn dầu), phía dưới đặt hình ảnh ba vị Hòa thượng Ân sư của Ni trưởng Liễu Tánh: Hòa thượng Huệ Đăng, Hòa thượng Chí Thiền, Hòa thượng Pháp Tạng. Cuối cùng là ảnh của các vị danh Tăng Việt Nam thời hiện đại như: Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Hoà, Hòa thượng Bửu Huệ, Hòa thượng Thiền Tâm,… Gian nhà khách ngày nay chính là giảng đường của lớp học cho Ni chúng trước năm 1975. Tại gian nhà nghỉ của Ni chúng, phía trên lầu thiết kế phương trượng của Ni trưởng Liễu Tánh để hàng đệ tử mỗi ngày hương khói thờ phụng, đồng thời lưu giữ những kỷ vật liên quan của người khai sơn ngôi Phật Bửu Ni tự. Về kỷ vật quý của Ni trưởng Liễu Tánh, chùa Phật Bửu hiện còn trưng bày: Khung tranh thêu nổi chữ Hán “Tổ Ấn Trùng Quang” thờ ở gian nhà Tổ, hai câu đối thêu nổi chữ Hán: “Nhất hoa hiển thoại châu sa giới. Ngũ diệp lưu phương biến đại thiên”.
Tóm lại, là ngôi chùa Ni đầu tiên trên mảnh đất Tiền Giang, đồng thời trải qua hơn 70 năm hình thành và phát triển, Phật Bửu Ni tự gắn liền với nhiều hoạt động nổi bật của Ni giới tỉnh nhà (giáo dục, từ thiện xã hội, giới đàn truyền thừa, sinh hoạt Phật tử, hoằng pháp,…). Vì vậy, chùa là một trung tâm sinh hoạt, tu tập của chư Ni tỉnh Tiền Giang trước đây. Nhắc đến ngôi chùa Phật Bửu không thể không nhắc đến Ni trưởng Liễu Tánh - vị danh Ni của Tiền Giang, bậc Tôn túc lãnh đạo Ni bộ Nam Việt nổi tiếng một thời. Vì vậy, đây là niềm tự hào lớn của nhiều thế hệ chư Ni chùa Phật Bửu.
 
 

3. KẾ VÃNG KHAI LAI, TRUYỀN THỪA MẠNG MẠCH

Từ ngày thành lập đến nay, mạng mạch truyền thừa ngôi Phật Bửu Ni tự được các thế hệ kế vãng khai lai, nhờ đó mà công đức và dấu ấn của Ni trưởng sáng lập được lưu truyền. Về sau, nhiều thế hệ tiếp tục giữ gìn, mở mang đạo nghiệp để xứng đáng là ngôi Tổ đình của Tông phong Phật Bửu.
Xin được kể lại đôi nét về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Liễu Tánh - người đặt nền móng cho việc hình thành, phát triển Phật Bửu Ni tự. Ni trưởng vốn sinh trưởng tại Cai Lậy, xuất thân trong gia đình tin kính Tam bảo. Năm 12 tuổi, Ni trưởng quy y với Tổ Phi Lai
- Chí Thiền (1861 - 1933) - một danh Tăng nổi tiếng đất Nam kỳ tại chùa Phi Lai (Châu Đốc, An Giang) và được Tổ ban Pháp danh Diệu Tánh. Lúc này, Ni trưởng mới vừa tròn 13 tuổi. Sau khi Hòa thượng viên tịch, Ni trưởng về quê nhà lo phụng dưỡng mẫu thân. Đến năm 15 tuổi, Ni trưởng thọ Sa di Ni giới tại chùa Khánh Quới với Hòa thượng Tâm Bờ - Phước Chí.
Năm 20 tuổi, sau mùa An cư kiết hạ ở chùa Thiên Phước, Ni trưởng thọ Tỳ kheo ni, đồng thời xin y chỉ với Hòa thượng Pháp Tạng. Đến năm 24 tuổi, Ni trưởng được Hòa thượng cho ra Huế tu học tại Ni viện Diệu Đức. Sau đó, Ni trưởng về lại quê nhà lúc 27 tuổi, hầu cận Hòa thượng được Tổ ban pháp danh Nhựt Trinh Phổ Tiết, hiệu Liễu Tánh, nối dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Năm 1947, Ni trưởng khai sơn chùa Phật Bửu, thu nạp nhiều đệ tử Ni rồi chăm lo đào tạo Kinh Luật, hoằng dương Chánh pháp. Đặc biệt, Ni trưởng một trong những cộng sự đắc lực cho Sư trưởng Như Thanh trong việc vận động chư Ni hợp tác thành lập Ni bộ Nam Việt tại chùa Huê Lâm năm 1956. Tại Đại hội này, Ni trưởng Liễu Tánh được bầu làm Phó Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt, Trưởng ban Ni bộ tỉnh Định Tường. Sau đó, năm 1960, Ni trưởng thành lập Pháp Hoa Ni viện (Quận 1, TP. Hồ Chí Minh). Vào nhiệm kỳ II (1968 - 1972) của Ni bộ Nam Việt, Ni trưởng được đại hội tín nhiệm suy cử làm Vụ trưởng Ni bộ Nam Việt. Đến năm 1982, sau khi ân cần phó chúc công việc cho hàng đệ tử, Ni trưởng an nhiên thị tịch về chốn vô tung bất diệt tại Pháp Hoa Ni viện, hưởng thọ 66 tuổi đời, 47 hạ lạp. Tháp thờ Ni trưởng được
 

đặt trong khuôn viên Phật Bửu Ni tự. Trong cuộc đời hành đạo của mình, Ni trưởng Liễu Tánh trực tiếp đào tạo nhiều đệ tử đạo hạnh, tích cực hành đạo tại tỉnh Tiền Giang cũng như nhiều địa phương: Cố Ni trưởng Minh Ngọc (Quan Âm Tu viện, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang), Ni trưởng Minh Viên (Phật Bửu Ni viện, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), Ni sư Minh Nhẫn (chùa Huỳnh Long, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), Ni sư Minh Nguyện (chùa Phước Hòa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền giang), Ni sư Minh Thiền (chùa Pháp Hoa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), Ni sư Minh Từ (chùa Long Tường, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), Ni trưởng Minh Hiền và Huệ Đức (chùa Pháp Hoa, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng), Cố Ni trưởng Minh Thành (chùa Pháp Minh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Ni sư Minh An, cố Ni sư Minh Hòa, Ni sư Minh Phước, Ni sư Minh Trọng (chùa Pháp Hoa, Thành phố Hồ Chí Minh),… Bản thân Ni trưởng là một bậc chân tu thạc đức, thông tuệ giáo lý, am hiểu Kinh Luật, có năng lực nổi trội về hoằng pháp và tổ chức điều hành do được thọ giáo trực tiếp từ các vị cao Tăng, danh Ni nổi tiếng đương thời.
Hỗ trợ Ni trưởng Liễu Tánh quản lý ngôi chùa Phật Bửu chính là ba vị đệ tử Minh Thiền, Minh Hạnh, Minh Viên. Chư Ni chia việc để trông coi, gìn giữ, quản lý Ni chúng trẻ. Đến năm 1975, khi lâm bệnh duyên cùng sức khỏe suy yếu, Ni trưởng Liễu Tánh giao phó việc chu toàn bổn tự cho hai đệ tử Minh Hạnh và Minh Viên.
Sau khi Ni trưởng Liễu Tánh viên tịch, Ni trưởng Minh Hạnh (1927 - 2001) kế thế trụ trì. Ni trưởng quê ở xã Nhị Mỹ, huyện Cai Lậy, xuất gia với Ni trưởng Liễu Tánh tại chùa Phật Bửu vào năm 20 tuổi. Ni trưởng, với lòng một mực hiếu hạnh với Thầy Tổ, cùng bản tánh hiền hậu, hòa nhã, siêng năng thiết tha cầu học, nên được Hòa thượng Pháp Tạng lẫn Bổn sư, huynh đệ quý mến. Ni trưởng rất ham học hỏi về nghi lễ Thiền môn, nên được Hòa thượng trao truyền rồi thành thục sử dụng pháp khí trong các khoa nghi. Năm 1960, Ni trưởng tốt nghiệp lớp Sơ cấp Phật học tổ chức tại chùa Phật Bửu. Đặc biệt, mặc dù Ni trưởng Liễu Tánh bận bịu Phật sự của Ni bộ, Ni trưởng Minh Hạnh người đóng góp công sức cho việc giữ gìn, trùng tu, mở rộng ngôi chùa mà không hề than van khó nhọc. Ngoài việc chăm lo cho Ni chúng, Ni trưởng đích thân tham
 

gia vào công tác nuôi trẻ mồ côi với lòng từ bi vô bờ bến. Với công hạnh và đức độ của bản thân, Ni trưởng Minh Hạnh là người được Ni trưởng Liễu Tánh ân cần phó chúc nhiệm vụ Trụ trì Phật Bửu Ni tự sau khi viên tịch. Trong giai đoạn khó khăn của đất nước, Ni trưởng Minh Hạnh đã tổ chức cho Ni chúng trong chùa tu tập theo đúng quy củ thiền môn, tự túc lao động, tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương. Đặc biệt, với tinh thần tùy duyên bất biến, Ni trưởng cùng với Ni trưởng Minh Thiền, Minh Viên âm thầm duy trì việc An cư kiết hạ cho Ni chúng tại chùa. Năm 1996, chùa Phật Bửu là một trong hai điểm An cư cho trên 50 hành giả Ni trong toàn tỉnh. Với công hạnh này, Ni trưởng được đại chúng cung thỉnh vào Ban Chức sự Trường hạ với ngôi vị Chủ hương. Ngoài ra, Ni trưởng được suy cử làm ngôi Thiền chủ tại khóa An cư kiết hạ chùa Sắc Tứ Linh Thứu, làm Chủ hương mùa hạ An cư tại Phật Bửu Ni tự năm 1996, làm Thiền chủ Trường hạ chùa Từ Ân năm 1998. Đến năm 2001, công viên quả mãn, Ni trưởng xả báo an tường tại chùa Phật Bửu, hạ lạp 40 năm. Ni trưởng xứng đáng là một đệ tử xuất sắc của Ni trưởng Liễu Tánh, làm trọn công hạnh với Thầy Tổ, huynh đệ, phát dương ngôi già lam Phật Bửu. Vì thế, Ni trưởng Minh Hạnh là một tấm gương lớn cho Ni chúng bổn tự noi theo.
Năm 2000, Ni trưởng Minh Viên kế nghiệp Trụ trì Phật Bửu Ni tự. Đến năm 2008, khi thành lập Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang, Ni trưởng Minh Viên được Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang cùng toàn thể Ni chúng cung thỉnh vào ngôi vị Giáo phẩm Chứng minh Phân ban, trở thành bậc Tôn túc của Ni giới Tiền Giang. Ni trưởng sinh năm 1936, kế đó xuất gia tại chùa Phật Bửu lúc 12 tuổi. Vốn có căn lành, Ni trưởng được Bổn sư tạo điều kiện bồi dưỡng học vấn liên tục, từ bậc Tiểu học lên đến bậc Trung học. Năm 1961, Ni trưởng đăng đàn thọ giới Tỳ kheo ni tại Tổ đình Từ Nghiêm. Trong thời gian tu học tại Sài Gòn, Ni trưởng Minh Viên đã tốt nghiệp khóa học Tá viên điều dưỡng tại Bệnh viện Chợ Rẫy (1962) để làm nền tảng phụng sự xã hội sau này. Ngoài ra, với chí nguyện thượng cầu Phật đạo nên Ni trưởng tham gia học, tốt nghiệp Trung đẳng Phật học tại Ni trường Dược Sư. Đến 1966, với ước vọng hạ
 

hóa chúng sanh và dấn thân phụng sự Đạo pháp, Ni trưởng tình nguyện tham gia khám chữa bệnh tại Chẩn y viện chùa Sắc Tứ Khải Đoan, đồng thời làm giáo viên dạy học tại Trường Tiểu học Bồ Đề (Buôn Ma Thuột). Do tình hình chiến tranh lan rộng nên vào cuối năm 1968, Ni trưởng quay về Phật Bửu Ni tự phụ giúp Bổn giảng dạy các đệ, mở lớp học tình thương dạy chữ cho trẻ em nghèo địa phương. Sau ngày giải phóng đất nước, Ni trưởng tích cực tham gia vào công tác xã hội, tiến hành tu sửa chùa, quản chúng tu học, tổ chức An cư kiết hạ cho Ni chúng toàn tỉnh vào hai năm 1991, 1996 tại chùa Phật Bửu. Năm 2002, Ni trưởng Minh Viên được Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong giáo phẩm Ni trưởng. Với đức độ và đạo hạnh sâu dày, khiêm cung nhu hòa, luôn thương tưởng đến hàng hậu học, Ni trưởng Minh Viên được thỉnh vào ngôi vị Thiền chủ các Hạ trường Ni của tỉnh nhiều năm liền, cung an chức sự làm Tam sư tại các Đại giới đàn Ni. Phải nói rằng, Ni trưởng Minh Viên kế nghiệp Bổn sư, tiếp tục gánh vác trọng trách phát triển ngôi chùa này ở một giai đoạn mới. Bên cạnh việc kế thừa thành tựu của hai vị Ni trưởng Liễu Tánh và Ni trưởng Minh Hạnh, bằng năng lực cùng đức độ của mình, Ni trưởng Minh Viên người giữ gìn sự đoàn kết tông phong, truyền pháp cho hàng đệ tử, mở rộng các hoạt động từ thiện - xã hội của chùa trong thời gian qua.
Hiện tại, tiếp nối nhiệm vụ Trụ trì của Ni trưởng Minh Viên là Ni sư Thích Nữ Như Trang. Ni sư là người con của vùng đất Cai Lậy, phát tâm xuất gia lúc còn nhỏ. Đến năm 1979, nhân duyên hội đủ, Sư đến xuất gia tại chùa Phật Bửu. Ni sư Như Trang từng tham gia học tại Trường Cơ bản Phật học Thiên Minh (1989 - 1992). Sau khi tốt nghiệp trở về, Ni sư chung lo chấp tác, làm Phật sự tại chùa, nhất là công tác hướng dẫn Phật tử tu học. Hiện tại, Ni sư Thích Nữ Như Trang được cử làm Ủy viên Văn hóa Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang, Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử thị xã Cai Lậy. Tại chùa, Ni sư tổ chức khóa tu Bát quan trai mỗi tháng hai lần, khóa tu cho 50 người khiếm thị địa phương,… Ngoài ra, chùa còn tặng quà cho người nghèo, nạn nhân chất độc da cam. Đặc biệt, chùa Phật Bửu còn là điểm tập trung bố tát cho 20, 30 vị Ni trên địa bàn thị xã Cai Lậy từ nhiều năm nay.
 

Tóm lại, qua tìm hiểu quá trình truyền thừa phát triển của Phật Bửu Ni tự, chúng tôi có thể rút ra những điểm nổi bật sau đây:
  • Thứ nhất, quá trình truyền thừa ở chùa đã qua bốn đời Trụ trì và bốn thế hệ tiếp nối liên tục. Cho nên, sự truyền thừa của Ni chúng bổn tự mang tính liên tục, không đứt đoạn, mặc dù có thời điểm Phật Bửu Ni tự gặp nhiều khó khăn trong chiến tranh hoặc sau năm 1975. Nhìn chung, các thế hệ nối truyền mạng mạch từ Ni trưởng Liễu Tánh rất ý thức việc giữ gìn truyền thống tu tập của người khai sơn, luôn đề cao tinh thần nghiêm trì Giới luật và quy củ thiền môn, thông hiểu nội điển và ngoại điển trở thành đường hướng, mục tiêu tối hậu của Ni chúng Phật Bửu.
  • Thứ hai, bên cạnh việc tu tập, bất cứ trong hoàn cảnh nào, chư Ni tại Phật Bửu Ni tự quan tâm đến việc phụng sự Đạo pháp và xã hội, góp phần hoằng dương Chánh pháp trên mảnh đất Cai Lậy bằng nhiều hoạt động có ý nghĩa.
  • Thứ ba, từ Ni trưởng Liễu Tánh cho đến các vị Trụ trì lẫn chư Ni tu học, phần nhiều xuất thân từ vùng đất Cai Lậy hiền hòa, thanh lịch, mến mộ Phật pháp. Cho nên, sự hình thành Phật Bửu Ni tự là một nhân duyên lớn đưa đến việc xuất gia tu tập của nhiều nữ Phật tử địa phương. Qua đây, cho thấy Cai Lậy là nơi gắn với sự phát triển giai đoạn đầu của Ni giới Tiền Giang và cũng là nơi sản sinh ra nhiều vị danh Ni thạc đức cho Phật giáo tỉnh nhà.
  • Thứ , trong 60 năm qua, quá trình truyền thừa và phát triển của Phật Bửu Ni tự đã hình thành nên Tông phong Phật Bửu. Đây là một trong những tông phong Ni ở Nam bộ, gắn liền với tên tuổi các vị danh Ni nổi tiếng như: Tông phong Vĩnh Bửu - Ni trưởng Như Huệ, Tông phong Phật Bửu - Ni trưởng Liễu Tánh, Tông phong Huê Lâm - Sư trưởng Như Thanh, Tông phong Phước Huệ - Ni trưởng Như Hoa,… Được biết, hằng năm, Tông phong Phật Bửu họp mặt vào ngày 19 tháng 02 âm lịch. Ngoài ra, hàng môn đồ pháp quyến còn quy tụ tại Lễ Giỗ Ni trưởng Liễu Tánh vào ngày 12 tháng 9 âm lịch. Có khoảng 50 vị là môn đồ, pháp quyến của Ni trưởng về chùa dâng hương tưởng niệm vị Ân sư khả kính của mình với niềm nhớ thương trong muôn một.
 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Phật Bửu Ni viện, Tiểu sử Thầy Bổn sư Liễu Tánh, bản photocopy.
  2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Kỷ yếu Đại hội Ni bộ Bắc Tông, 1972.
  3. Tỳ kheo ni Như Đức (Biên soạn), Lược sử Ni giới Bắc Tông, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2009.
 







 

GIÁO DỤC PHẬT GIÁO HÀNH TRANG CẦN

ĐỂ CHƯ NI TIẾP BƯỚC TIỀN NHÂN
TKN. Thích Nữ Huệ Thông



N
 
hớ lại thuở xưa, sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài cùng các hàng đệ tử chu du khắp miền Ấn Độ để thuyết pháp độ sanh.Nhờ thế, Phật giáo đã trở thành một tôn giáo vàng son trong lịch sử. Kế đó, chư vị Tổ sư noi theo gương sáng của bậc Thầy cao cả, lần lượt đem giáo giác ngộ truyền khắp nơi. Phật giáo du nhập vào Việt Nam hơn 26 thế kỷ, có những lúc ở địa vị độc tôn (thời đại Lý -Trần), Phật giáo gần như là quốc giáo, mà đỉnh cao của sự hưng thịnh ấy là nhờ vào sự hoằng truyền chánh pháp của các bậc chân Tăng. Bên cạnh đó, cũng tồn tại những trang bi thống, là sự suy vi rã rời, tưởng chừng rơi xuống tận cùng tuyệt vọng (thời kỳ Lê -Nguyễn), mà nguyên do là vì thiếu sự khai đàn giảng diễn. Do đó, ngọn đèn Chánh pháp chiếu sáng hay lu mờ tăm tối đều do trách nhiệm hoằng pháp của hàng sứ giả Như Lai.
Ngày nay, với sứ mạng tối cao, hiến dâng trọn đời mình cho lý tưởng lợi tha, chúng ta phải vận dụng hết khả năng của mỗi người để đẩy mạnh bánh xe Chánh pháp, bằng cách đem giáo lý truyền bá khắp nhân gian, mang lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh giữa cuộc đời đau khổ. Nhưng để thành tựu vẻ vang, đòi hỏi chúng ta phải có những yêu cầu thiết yếu làm hành trang trên lộ trình “Sứ giả Như Lai”. Muốn duy trì chánh pháp một cách viên mãn, chúng ta phải hoàn thiện nhân cách của một người
 

xuất gia, không xao lãng Giới luật trang nghiêm vì: “Giới luật nghiêm trì, tòng lâm thời thời hưng thịnh”. Đặc biệt, ngoài trau dồi giới đức, bản thân mỗi người cần tự hoàn thiện mình thông qua việc học tập từ thầy Bổn sư và trường lớp.
Giáo dục là một hiện tượng tiến hóa của xã hội loài người. Không có giáo dục, con người chỉ sống theo bản năng của thú tính. Nhờ có giáo dục, loài người thoát khỏi trạng thái mông muội, hỗn độn và phát triển dần dần về khí chất, từ con người nô lệ trước lực lượng thiên nhiên, đến con người chinh phục thiên nhiên phục vụ cho đời sống. Giáo dục chỉ xuất hiện ở con người trong một xã hội, nếu con người không giáo dục, con người ấy sẽ tách rời khỏi cộng đồng. Do vậy, muốn giáo dục con người hành thiện, chúng ta phải dựa vào cơ sở nguyên tắc nào để giải quyết? Giáo dục theo từ điển Từ Hải định nghĩa: “Giáo” là ra lệnh, khiến cho, “dục” là nuôi lớn, làm cho trưởng thành, có nghĩa là người lớn làm gì, người nhỏ sẽ bắt chước làm theo. Theo từ điển Thanh Nghị: “Giáo dục” là dạy dỗ, rèn luyện lý trí, tính tình và rèn luyện thân thể được hoàn mĩ hơn.
Còn theo Phật giáo, giáo dục bao hàm những nội dung bản sau đây:
Đối tượng giáo dục là con người, Đức Thế Tôn giáo hóa từng cá nhân hay tập thể, nghĩa là từ lúc còn là thai nhi đến lúc từ giã cuộc đời. Ngài dạy chúng ta phải nỗ lực tự thân, tự trách nhiệm, tự học, tự tỉnh giác thực hiện “con đường”, như vậy sẽ chứng đắc những gì mà Đức Thế Tôn đã trải nghiệm.
Mục tiêu giáo dục là giúp cá nhân nhận thức rõ “con đường” tu tập của chính mình, tức là nhận thức thật sự khổ đau và nguyên nhân của nó - cũng giống như hạnh phúc và con đường dẫn đến chân hạnh phúc (giải thoát tri kiến), cắt lìa sợi dây tâm lý ràng buộc bởi 10 Kiết sử và thể nhập Pháp thân (Dhammakaya).
Mẫu người giáo dục là mẫu người sống thực hành phạm hạnh, thành tựu mục tiêu phạm hạnh, đoạn trừ các lậu hoặc. Con người hiện tại là con người chấp thủ, tham ái “ngũ uẩn”. Vì thế, mẫu người đào tạo (giáo hóa) phải là mẫu người cắt đứt mọi ngã chấp, như trong Bát Nhã Tâm
 

Kinh: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Trên thực tế, Phật giáo chỉ hướng sống cho mọi người, không phân biệt giới tính, giai cấp, tuổi tác, quốc tịch hay Tăng tục, đi từng bước ra khỏi tác nhân của khổ đau (sống với tâm vô hại, vô sân, vô dục) và đi vào hạnh phúc từ tương đối đến chân thật.
Môi trường giáo dục là giáo dục hiện đại, là gia đình, học đường và xã hội. Nội dung giáo dục của Phật giáo dành cho mọi căn cơ trình độ trong xã hội.
Giáo dục vốn là sự nghiệp chung của nhân loại từ lúc ban sơ cho đến hiện tại, đó là nền tảng duy nhất để cấu thành nền văn hóa và văn minh của con người. Tính cách giáo dục thể hiện khác nhau như đứa bé từ khi chào đời cho đến trưởng thành, nó hấp thụ giáo dục gia đình bằng tất cả tình thương yêu đùm bọc từ ông bà cha mẹ. Lớn lên, tiếp xúc giáo dục học đường và từ đây dần dần bước vào môi trường xã hội.
Cách đây hơn 26 thế kỷ, như trong Trung Bộ Kinh giới phân biệt: “Ngài đã chuyện trò với một thanh niên cùng vào trú mưa, du Pukkusali, đã nói pháp, khích lệ chàng đắc quả ngay tại chỗ”. Đức Phật không chỉ dạy giáo lý, giải thích sanh tử mà còn quan tâm đến đời sống gia đình, xã hội của các cư sĩ, về sáu mối quan hệ xã hội: cha mẹ, con cái, thầy cô, vợ chồng, chủ và thợ (người giúp việc), cá nhân với bà con láng giềng, Tu sĩ và cư sĩ… Tuy nhiên, không phải tán dương suông cũng không thể ôm giữ tích chứa mãi, giáo lý Phật giáo là giáo lý phải được sống, phải áp dụng và chứng nghiệm, phải “dụng ý quên lời”. Sau khi thấu rõ chân lý, phải xem đó là phương tiện, như ngón tay chỉ mặt trăng (Nhất thiết Tu Đa La như tiêu nguyệt chỉ), chúng ta không cần bám víu. Kinh Majjhima Nikaya P260 có dạy: “Hỡi các Tỳ kheo, ngay cả điều ấy, minh bạch và rõ ràng như thế, nếu các Thầy bám chặt vào nó, quý chuộng nó, nếu các Thầy cất giữ nó, ràng buộc nó, tức là các Thầy không hiểu rằng giáo lý cũng như chiếc bè, cốt để qua sông, chứ không phải ôm giữ lấy nó”.
Trải qua thời gian, giáo dục Phật giáo đã đào tạo ra được nhiều vị Tăng Ni xuất sắc, góp phần hoằng dương Chánh pháp.vùng sông nước
 

Tiền Giang mênh mông, miệt vườn xanh thẫm, con người hiền hòa thân yêu, hiếu khách đã sản sinh biết bao con người hy sinh cuộc đời mình, hết lòng cho Đạo pháp, đào tạo bao thế hệ con người đạo đức, thật tu thật học. Xuất thân từ Ni trường Phật học, đơn sơ mộc mạc, giản dị, an bần thủ đạo như Sắc Tứ Linh Thứu do Hòa thượng Thành Đạo giao chức Trụ trì cho Ni trưởng Thông Huệ vào ngày 20/5/1947, cùng hai vị pháp lữ là Ni trưởng Như Nghĩa, Ni trưởng Như Chơn hành đạo. Năm 1956, Đại hội Ni bộ Nam Việt tổ chức tại chùa Huê Lâm, Ni trưởng đảm nhiệm chức vụ Nghi lễ trong Ban Quản trị Ni bộ Trung ương với tuổi đời chỉ 33 tuổi. Năm 34 tuổi (1957), Ni trưởng tham dự Khóa học Như Lai sứ giả tại chùa Dược Sư.
Năm 1956 - 1958, Ni trường Sơ cấp Phật học được mở ra suốt 4 năm, Ni trưởng làm Giám đốc kiêm Giáo thọ sư, chăm lo sự nghiệp giáo dục đào tạo Ni tài ở vùng miền Tây Nam bộ. Đây là cái nôi mở đầu, về sau Lớp Sơ cấp này được dời về Ni trường Dược Sư (Thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 04/9/1956, Ni trưởng Liễu Tánh, trưởng chùa Huê Lâm, Ni trưởng chùa Giác Thiên đã cùng Ni trưởng Thông Huệ vận động thành lập Ni bộ Nam Việt và được cử đảm nhiệm chức vụ Phó Vụ trưởng Ni bộ Trung ương kiêm Trưởng Ni bộ tỉnh Định Tường lúc bấy giờ, nay là tỉnh Tiền Giang…
Với hạnh nguyện đào tạo Ni tài, hơn 40 vị theo học Lớp Sơ đẳng Phật học tại chùa Phật Bửu Ni, năm 1957, Ni trưởng được Giáo hội mời về Sài Gòn, quản lý Ni trường Dược Sư (Gò Vấp) ở nhiệm kỳ đầu (1958). Từ 1959 - 1963, Ni trưởng đảm trách Trưởng ban Hoằng pháp Ni bộ, thuyết giảng ở các Trường Phật học Xá Lợi, Phật học Ni viện Dược Sư, Linh Sơn (Vũng Tàu), Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), Tây An ( Châu Đốc).
Nối tiếp công hạnh Tổ Thầy, năm 1961, Ni trưởng Minh Ngọc - Trụ trì Quan Âm Tu viện (thành phố Mỹ Tho), mở lớp đào tạo hơn 30 vị Ni và nhiều Lớp Sơ cấp Phật học ở các chùa. Từ đây, có nhiều người đã thành danh và trụ trì ở các chùa. Cụ thể: Ni trưởng Như Hải - Trụ trì chùa Tam Bảo (Hà Tiên), Ni trưởng Huệ Thành - Trụ trì chùa Vạn Hạnh (Thành phố Hồ Chí Minh), Ni trưởng Như Nghĩa - Trụ trì chùa Tam Bảo
 

(Trà Ôn), Ni trưởng Như Tâm - Trụ trì Thiền viện Ni (Lâm Đồng), Ni trưởng Thuần Trí - Trụ trì Thiền viện Huệ Chiếu,...
Năm 1974, Lớp Sơ cấp Gia giáo được thành lập với hơn 50 vị tại chùa Phổ Đức. Ni trưởng Diệu Ngộ - thành viên Thư ký Ban Quản trị Ni bộ Bắc tông điều hành, đồng hành cùng Ni trưởng Trí Nguyện, Ni trưởng Trí Phát. Người thừa kế sự nghiệp giáo dục sau này là Ni trưởng Như Hảo đã nuôi chúng Trường Trung cấp Phật học Tiền Giang nội trú cho đến hôm nay.
Tóm lại, người học Phật mong muốn được những tâm hạnh tốt như gương sáng người xưa, để tiếp bước tiền nhân, phát huy Chánh pháp, nối thạnh dòng Ni lưu, luôn làm cho Phật pháp được xương minh, tồn tại trên nhân gian, đòi hỏi tâm người đó phải “vong kỷ vị tha”, tâm luôn nghĩ cho chúng sanh, không tư lợi. Bên cạnh đó, Giới luật phải tinh nghiêm, đạo hạnh thanh thoát tự tại, xả bỏ mọi thú vui ở đời, không tham lam ích kỷ, luôn luôn mang hoài bão “phục vụ chúng sanh là cúng dường Chư Phật”, đặt hết vào niềm tin chính mình. Giáo dục Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc, an lạc. Nếp sống ấy đề cao con người, đưa con người vào vị trí tối thượng, xác định con người có khả năng sống và làm nên nếp sống đạo đức tối thượng và hạnh phúc chân thật từ tự thân của mình.
Cuộc đời Đức Phật quả là một biểu tượng giáo dục sinh động cho hàng đệ tử, như khi tìm đạo cho đến giác ngộ, Ngài đã đạt được phạm hạnh tối thượng mà không nhờ vả một ai. Đó là một mẫu hình giáo dục vĩ đại cho nhân loại. Đó là một nền giáo dục đánh thức con người thoát những giấc mơ huyễn hoặc, ra khỏi bóng đêm của vô minh mù quáng, hướng dẫn chúng ta nhận chân giá trị thực tại, một giá trị tuyệt hảo cho con người. Giáo dục Phật giáo sẽ là hành trang cho mỗi người nói chung và Ni giới nói riêng. Qua đó, giúp kế thừa và phát triển những truyền thống tốt đẹp mà các bậc tiền nhân đã dày công vun bồi.
 





 

HƯƠNG NGƯỜI ĐỨC HẠNH

Chư Ni Tịnh xá Ngọc Quang



Đ
 
ạo hạnh người xuất gia là hệ quả của quá trình điều phục, làm mới thân tâm. Nói cách khác là sự rèn luyện thanh lọc thân,khẩu, ý trong đời sống hằng ngày. Chính những hành động, lời nói và ý nghĩ chơn chánh của người xuất gia đã làm nên nét đẹp văn hóa đặc thù của Phật giáo. Nó là nét chấm phá tuyệt hảo trong bức tranh văn hóa muôn màu của đạo Phật. Theo thuật ngữ ngành Mỹ học, Đạo hạnh người xuất gia chính là “cái đẹp”. Theo ngôn ngữ nhà Phật, đó là đời sống “chân - thiện - mỹ”. Chúng ta có thể nhìn thấy đức hạnh một vị tu sĩ tỏa sáng, thánh thiện, giải thoát qua hình ảnh những bậc đại thụ tiền bối trong nước nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng. Đặc biệt ở đây, người viết muốn giới thiệu đôi nét về Ni trưởng Viện chủ Tịnh xá Ngọc Quang, thuộc thị xã Gò Công, một bậc Tòng lâm thạch trụ của tỉnh nhà.
Chân dung Ni trưởng được thể hiện qua phong cách thanh bần, giản dị nhưng sâu lắng; nghiêm nghị, nhẹ nhàng nhưng vững chãi, bao dung. Nơi Người luôn toát ra đạo phong của một bậc nghiêm trì giới luật. Bất cứ hoàn cảnh nào, dù vật chất khó khăn hay thuận lợi Người vẫn luôn sống hạnh thiểu dục tri túc của tiền nhân.
Người giàu sang vẫn còn ham muốn, Ta nghèo hèn vẫn cảm thấy no lòng, Người nghèo trong tiền rừng bạc bể, Ta giàu trong túi vá áo may.
(NT. Huỳnh Liên)
 

Vốn có túc duyên nhiều đời, gia đình Ni trưởng gồm bốn người phát tâm xuất gia. Ba cô gái và một người mẹ đều là những bậc tôn túc trong hàng lãnh đạo Ni giới Hệ phái khất sĩ. Đúng như lời ban tặng của cố Ni trưởng Đệ nhất thượng Huỳnh hạ Liên: “Một cội ba cành sanh trái ngọt”. Thuở ấu thơ của Ni trưởng không được trọn vẹn trong niềm hạnh phúc gia đình, sớm mất cha khi vừa lên 2 tuổi. Mẹ nhọc nhằn thân cò một nách năm con, tần tảo sớm hôm nuôi dạy con khôn lớn. Tuy hoàn cảnh sống chật vật nhưng mấy chị em Ni trưởng cũng được mẹ cố gắng đưa đến trường học cùng chúng bạn. Năm lên 16 tuổi Ni trưởng đã trường chay, 18 tuổi dùng ngọ không ăn điểm tâm sáng, đêm về Người ra đường hẻm gần nhà ngồi thiền, muỗi cắn trân mình kham nhẫn không dám cử động. Mùa hạ, Ni trưởng đến chùa Ngọc Lâm, Phú Lâm - Quận 6 nghe Đức Tổ sư giảng pháp. Mỗi ngày Người còn phát tâm công quả nấu cơm sớt bát cho chư Tăng tu học trong ba tháng an cư kiết hạ. Duyên lành hội đủ, cô gái đang độ tuổi thanh xuân thấm nhuần giáo lý Phật đà, thức tỉnh về lẽ vô thường giả hợp của cuộc đời, lý tưởng ly trần thoát tục được nuôi dưỡng, ấp ủ trong tâm giữa cuộc sống phồn hoa nơi đất Sài Thành.
Ngán nỗi phồn hoa mộng dệt thành, Tầm tu nào ngại buổi đầu xanh.
Lên đường giải thoát ly nhà tục, Nhẹ gót chân không ném gánh tình.
(NT. Huỳnh Liên)
Năm 1951, Người “nhẹ gót chân không ném gánh tình” xuất gia với đức Tổ sư Minh Đăng Quang - vị khai sáng Đạo Phật khất sĩ Việt Nam. Ba tháng sau thọ giới Sa di Ni được Tổ sư truyền Tứ y pháp và ban Pháp hiệu là Tân Liên, lúc ấy vừa tròn 19 tuổi. Sau khi bước vào đời sống “Khất sĩ”, Người được Tổ sư dạy chơn lý, pháp tu và bắt đầu nếp sống phạm hạnh của một tu sĩ hành trì miên mật. Hằng ngày sống hạnh tùy duyên, trì bình khất thực theo đoàn du tăng khất sĩ do cố Ni trưởng Đệ nhất lãnh đạo.
 

Khất thực vai mang bình bát đất, Hoá duyên độ chúng khoác y vàng. Rưới mưa bác ái nhuần ba cõi,
Soi đuốc từ bi rạng bốn phương. Nguyện lực đem thân hành chánh Đạo, Cho đời sớm tỉnh giấc hoàng lương.
(NT. Huỳnh Liên)
hạnh nguyện độ sanh, mong “cho đời sớm tỉnh giấc hoàng lương”nên đôi chân người nữ tu sĩ tuy có mềm yếu nhưng tâm hạnh rất vững chãi, kiên cường. Có khi Người dừng chân nơi thị thành hoa lệ, có lúc dời gót về vùng quê hẻo lánh xa xôi, hoặc xuôi về Trung hoặc ngược lên Cao nguyên với những cơn mưa phùn rét mướt để hoằng hóa chúng sanh. Đôi khi buổi khất thực chỉ vỏn vẹn có một trái chuối qua ngày, nếu khá hơn là một ít cơm trắng với muối hột. Lắm lúc khất thực không có phẩm vật phải hái lục bình, rau muống ven sông dùng tạm no lòng. Tối đến dùng tấm y giăng lên làm màn ngồi thiền nghỉ đỡ dưới cội cây. Đời sống tu sĩ bữa đói bữa no đối với Người là chuyện thường ngày, nhưng niềm tịnh tín Tam bảo vẫn luôn bất động trong Người, luôn kham nhẫn vui chịu với mọi cảnh ngộ, vẫn vững bền vui đạo và sống đạo. Người luôn tâm niệm lấy chúng sanh làm lẽ sống:
Ta đã là người của chúng sanh, Người nuôi Ta để học gương lành, Sống đây Ta sống cho muôn loại, Ta có quyền đâu sống lấy mình.
(NT. Huỳnh Liên)
lần Ni trưởng thấy: “Thân mẫu cầm dao bảo trở về nhà, nếu không về bà chém chết. Ni trưởng Châu nói: Thôi em về đi, em về báo hiếu cho mẹ về xác thân, còn chị báo hiếu về tinh thần. Ni trưởng đồng ý, ra đến cổng Tịnh xá chợt nghĩ sao uổng vậy đã đến xứ Phật mà còn trở về,
 

nghĩ vậy rồi quỳ xuống khóc và nhủ thầm nếu chết thì chết tại đây chứ con không trở về. Liền lúc ấy con dao trên tay mẹ tự nhiên biến mất, mà thế vào đó là bó hoa sen. Thân mẫu nói: Mẹ thử con đó, thôi con đem bó hoa sen này vào cúng dường cho Sư cô lớn đi (Ni trưởng Đệ nhất thượng Huỳnh hạ Liên)”. Choàng tỉnh dậy, Ni trưởng mới biết mình nằm mơ. Phải chăng? Giấc mơ ấy đã thể hiện căn duyên sâu dày của Người đối với Phật pháp, tâm Bồ đề vững chắc không lui sụt khi đã chọn con đường xuất gia đầu Phật, theo bước chân du hóa của Đức Tổ sư.
Trải qua thời gian vân du hóa đạo rày đây mai đó theo Tông chỉ của Tổ sư, mỗi chỗ trụ 6 tháng rồi chuyển đi nơi khác. Năm 1964, Người về Tổ đình Ngọc Phương, Quận Gò Vấp - TP Sài Gòn học kinh, luật và văn thơ do cố Ni trưởng Đệ nhất giảng dạy, học văn hóa, Hán văn tại trung tâm giáo dục, học thơ phú từ thầy Thuần Phong. Năm 1972, tiếp học Trung Đẳng tại Phật học Ni viện Hoa Quang, do Hòa thượng Minh Châu làm Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục, quận Phú nhuận - Sài Gòn.
Song song với việc trang bị kiến thức Phật học thế học, Ni trưởng tiếp tục hạnh nguyện truyền đăng tục diệm đem đạo vào đời, Người được Giáo hội chỉ đạo về trụ trì các miền Tịnh như: Tịnh Ngọc Bửu - Biên Hòa, Tịnh Ngọc Vinh - Trà Vinh, Tịnh Ngọc Hải - Kiên Giang, Tịnh Ngọc Long - Long Xuyên, Tịnh Ngọc Khánh
- Sóc Trăng, Tịnh Ngọc Quảng - Quảng Ngãi, Tịnh Ngọc - Đà Nẵng, Tịnh Ngọc Sơn - Bồng Sơn, Bình Định v.v… khắp mọi miền đất nước nơi nào lưu dấu chân Người nơi đó đều được thắp lên ánh sáng chánh pháp cho hàng Tứ chúng nương nhờ. Đồng thời, bằng trái tim từ ái nhân hậu Người còn tham gia các công tác hội cứu trợ lụt miền Trung, cùng với quý Ni đoàn Phụ nữ Đòi quyền sống ủy lạo tại: Khám Chí Hòa, Trung tâm Cải huấn - Thủ Đức, Bệnh viện Chợ Quán, Dưỡng Trí viện - Biên Hòa, Kiều bào hồi hương - Tây Ninh, Nạn nhân chiến cuộc - Long Thành, Vũng Tàu, đồng bào Cam Lộ tỵ nạn - Bình Tuy…
Năm 1975, lịch sử đất nước sang trang mới đánh dấu nền Độc lập, Tự do hoàn toàn của một quốc gia. Ni trưởng sống giữa buổi giao thời với nhiều biến cố của thời đại, biết bao cam go thử thách về nội tâm cũng như
 

ngoại cảnh, nhưng ở Người vẫn không nhụt chí, sờn lòng càng ngời sáng lý tưởng “Thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh”. Năm 1976, Người về trụ trì Tịnh xá Ngọc Quang tiếp tăng độ chúng. Năm 1982, được Giáo hội giao nhiệm vụ làm giáo thọ dạy Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Thập Thiện, Quy Sơn Cảnh Sách và Luật Tỳ Ni, Sa Di bằng Hán văn cho Ni chúng làm nền tảng tu học. Lúc bấy giờ, vì nhu cầu Phật sự phát triển Đạo pháp Người mới bắt đầu cầm tiền và giữ tiền.
Sau khi nhận lãnh trách nhiệm trụ trì do Giáo hội giao phó, với tâm nguyện “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”, Ni trưởng đã không ngại gian lao, không từ khó nhọc, vượt qua bao trở ngại chướng duyên từng bước trùng tu Tịnh xá, ổn định đạo tràng nuôi dạy chúng tu học.
Tay nâng bút ghi dòng kỷ niệm,
Tâm chí thành lãnh nhiệm thầy ban, Về đây chăm sóc đạo tràng,
Giống lành gieo hạt ác gian tận trừ. Ôi! Gặp phải chùa hư nhà dột,
Chủ tình hình: mối mọt cỏ gai, Làm sao đảm nhiệm cảnh này,
Đắn đo suy nghĩ đêm ngày lo toan. Bắt đầu việc sửa sang tu bổ,
……………………………………. Nhưng gặp lúc đảo điên hoạn nạn, Kế bên hè kho đạn nổ tung,
Ngôi chùa tan nát hãi hùng,
Thiếc rơi tường đổ não nùng tâm can. Ôi! Tịnh xá Ngọc Quang lâm nạn, Cảnh điêu tàn ảm đạm thê lương!
 

……………………………………. Tám năm tu bổ đạo tràng,
Hôm nay Tịnh xá nghiêm trang hoàn thành.
(Ký ức kỷ niệm - NT. Tân Liên)
Bên cạnh việc trùng tu Tịnh xá, Người còn nhắc nhở Ni chúng phải tâm niệm lời Phật dạy để tu tập, hằng gìn giữ giới luật một cách cẩn trọng như gìn giữ tròng con mắt của mình, có như thế người xuất gia mới đền đáp được Tứ trọng ân trong muôn một. Những lúc Bố tát Người nói: “Các cô phải ráng tu cho có đức, học cho thành tài, làm cho ngọn đèn Chánh pháp được rạng ngời mãi mãi, thân tôi nát ra tro bụi tôi cũng không màng”. Chính tâm nguyện ấy, nên hàng đệ tử được Người tế độ trong nước và ngoài nước cũng không ít. Nhờ sống trong sự thương yêu, đùm bọc và giáo dưỡng của Người một số vị đã trưởng thành trong đạo pháp đều có thể tham gia Phật sự. Có những vị lãnh trọng trách trụ trì các Tịnh xá, hoặc tham gia Phật sự trong và ngoài tỉnh. Cũng có vị đảm nhiệm Phật sự hoằng pháp giáo dục trong Ni giới Hệ phái. Cảm nhận đức từ và tinh thần vị tha sâu sắc của Người nên cư gia bá tánh đến Tịnh xá quy y Tam bảo ngày càng đông, mong muốn học Phật pháp ngày càng nhiều. Vì lẽ đó, Ni trưởng tổ chức cúng hội, mở đạo tràng Niệm Phật, khóa tu Bát quan trai đáp ứng nguyện vọng cho Phật tử về tu tập hằng tháng vào ngày rằm, ba mươi, mùng tám, hai mươi ba và các ngày chủ nhật.
Hạnh nguyện người lái đò đưa khách sang sông sao mà mênh mông quá. Tuy tuổi cao, sức yếu, nhiều bệnh tật, Ni trưởng vẫn không ngừng đóng góp công sức mình cho đạo pháp và dân tộc. Người thuộc hàng Giáo phẩm trong Hệ phái đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Tăng sự, kiêm Ban Giám luật Ni giới Hệ phái Khất sĩ Tổ đình Ngọc Phương, trực tiếp tham gia điều hành phát triển Ni giới Hệ phái. Đồng thời, Người còn tham gia công việc Phật sự của Giáo hội như: - Phó Trưởng Phân ban Ni giới Trung ương, đặc trách Ni giới Hệ phái Khất sĩ. - Chứng minh Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang. - Chứng minh Ban Từ thiện Phật giáo tỉnh Tiền Giang. - Nguyên Ủy viên Tài chánh Ban Đại diện Phật giáo thị xã Gò Công. Mặt khác, Người còn được cung thỉnh vào hàng Thập sư khi
 

có các giới đàn của tỉnh, của Hệ phái tổ chức. Khi các khóa tu truyền thống Giới - Định - Tuệ trực thuộc Ni giới Hệ phái mở ra, Người đều có mặt để chứng minh sách tấn cho thiền sinh tu tập.
Với bi nguyện lợi sanh, Ni trưởng luôn quan tâm giúp đỡ đồng bào có hoàn cảnh khó khăn, chia sẻ, xoa dịu nỗi khổ thiếu thốn của những mảnh đời bất hạnh. Vào các dịp Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan, Tết Nguyên Đán đều có chương trình tặng quà cho người mù, nhiễm chất độc da cam, người nghèo ăn tết. Cho máy se nhang, xe lăn, xe lắc cho người khuyết tật. Nấu bếp ăn từ thiện cho bệnh nhân của Bệnh viện Đa khoa Thị xã Gò công. Cấp tập, viết, quần áo và tiền học bổng cho học sinh nghèo. Xây nhà tình thương, làm cầu nông thôn, cứu trợ lũ lụt... Quả thật! Người sống đúng với tâm hạnh:
Mượn đời manh áo chén cơm,
Tặng đời tất cả tâm hồn thanh cao.
Ngoài ra, những lúc tâm tư lắng động, cõi lòng thênh thang, tĩnh lặng… Ni trưởng cảm tác viết nên những bài văn, những dòng thơ như:
  1. Đấng cha lành của nhân loại, 2. Sự ra đời của đức Bổn sư, 3. Lòng biết ơn Thầy Tổ đã dày công dạy dỗ, 4. Truyền trao giới pháp, 5. Lời khuyên, 6. Niềm vui… diễn tả niềm vui, cảm xúc về sự hiện hữu của Đức Phật ở thế gian, cảm nhận về công ơn Thầy Tổ hoặc cảnh tỉnh mọi người đến với Đạo tu học.
Tuy đã ngoài 80 tuổi, thân tứ đại yếu dần theo năm tháng, nhưng trí Người vẫn minh mẫn, thỉnh thoảng vẫn làm thơ xuân tặng Phật tử vào dịp Tết cổ truyền. Nếp sống hằng ngày của Người vẫn toát ra nét bình dị, sáng trong với chiếc áo vải thô, bạc màu khoác trên mình. Mỗi ngày như mọi ngày, chất đơn mộc mạc thường nhận thấy trong từng bữa ăn, đại chúng dùng như thế nào Người cũng dùng như thế ấy không cầu kỳ riêng biệt. Người nói: “Nhớ lại buổi đầu Thầy Tổ khó khổ Đạo, nên tôi không dám xài sang, phải tiết kiệm để dựng xây tự viện, phát triển Tam bảo làm cho dòng chảy Phật pháp được trường lưu và tha nhân được lợi lạc”. Thanh bần lạc đạo là nếp sống thường nhật của Người. Thật đúng như kinh Pháp cú 54 có ghi:
 

Hương các loài hoa thơm, Không ngược bay chiều gió, Nhưng hương người đức hạnh, Ngược gió khắp tung bay.
Có thể nói, tâm của một vị hành Bồ tát đạo như biển cả bao la, Ni trưởng luôn gắn kết giữa Đạo và Đời. Suốt cuộc đời luôn lấy tinh thần vô ngã vị tha làm nền tảng để phát huy đạo lực. Nghĩ đến tiền đồ Phật pháp và thế hệ kế thừa, Người luôn trăn trở, quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Tăng tài có đủ phẩm chất đạo đức và trí tuệ để phụng sự cho ngôi nhà Chánh pháp.
Hơn sáu mươi năm cống hiến cho đạo pháp, phục vụ cho chúng sanh trong thầm lặng, nơi Người thể hiện rõ nét đức Từ bi hỷ xả. Công hạnh Ni trưởng là bài pháp sống luôn tỏa sáng, xứng đáng là bậc mô phạm của Ni giới.
 







 

GƯƠNG XƯA CÒN MÃI


TKN. Lệ Thanh



N
 
hư dòng sông Tiền hiền hòa trôi chảy bồi đắp phù sa cho trái ngọt cây lành. Đất Kim Sơn thuộc huyện Châu Thành, có ngườisư nữ sống đời đạo hạnh. Dù biết rằng hóa đạo khai tâm ngay nơi sinh quán, chẳng phải việc làm dễ dàng, nhưng với tâm ý vững vàng, Người chẳng quản ngại gian lao, thắp sáng ngọn đèn Thiền nơi quê cha đất tổ.
Đó thượng Nhựt hạ Thiền, hiệu Như Chơn, thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 41, sinh năm: 1918, tọa chủ: chùa Vạn Phước, xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Bản tính hiền hòa, chân chất lại được dưỡng nuôi trong gia đình đạo đức, có truyền thống tín ngưỡng Phật môn, tin sâu Tam Bảo, nên thuở thiếu thời, Người được nhiều phúc duyên tiếp cận, dần dần thấm nhuần những lời Phật dạy. Cho đến năm 19 tuổi, nhận thức được lẽ vô thường sanh diệt. Sư bà rời bỏ quê nhà, tìm đến Đạo tràng chùa Hội Phước, xã Tân Thạch, Bến Tre. Cầu thế phát xuất gia với Tổ Hoằng Khai Kiểu Lợi.
Duyên lành hội đủ, Trường Hương chùa Thiên Phước, tỉnh Long An, khai mở năm 1940 do Hòa thượng Phước Trường làm Thiền Chủ, Hòa thượng Hoằng Khai làm Chủ Hương. Sư bà được thọ giới Sadini khi vừa tròn 20 tuổi, cùng nhập chúng tu học tại đây với quý Sư bà Liễu Tánh, Sư bà Như Ngộ, Sư bà Trí Phát... Hòa thượng Khánh Anh là giáo thọ. Năm 29 tuổi Người thọ giới Thức Xoa tại Giới đàn chùa Kim Huê Sa Đéc, và 4 năm sau thọ Cụ túc Tỳ Kheo Ni tại Giới đàn chùa Dược Sư, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.
 

Với tinh thần ham học, siêng tu, Sư bà đã cùng các huynh đệ cùng thời, vượt mọi chướng duyên trở ngại, tầm học đạo tại Phật học đường Lưỡng Xuyên, Phật học Ni trường chùa Kim Sơn (Phú Nhuận), chùa Phật Quang ở Trà Ôn (Vĩnh Long), chùa Giác Hoa…
Năm 1950, với sự trợ duyên của người cô thứ năm, Đạo tràng chùa Vạn Phước được kiến tạo khai sơn tại xã Kim Sơn. Trên ngót 10 năm gian khổ, ngôi Phạm vũ già lam được hình thành, Sư bà đã cùng Sư bà Như Ý đảm đương trách vụ, tiếp chúng độ Ni, hướng dẫn Phật tử tu học cho đến ngày hóa duyên ký tất.
Với hạnh đức từ ái, khiêm cung. Khi khóa An cư kiết hạ cho chư Ni tỉnh Tiền Giang mở vào năm 1987 tại chùa Sắc Tứ Linh Thứu, người được cử làm Thiền Chủ, và trong nhiều năm liền (từ năm 1989 đến năm 2001) Sư bà được cung thỉnh vào hàng Tam Sư, làm yết ma A Xà Lê tại các Giới đàn chùa Thiên Phước (Long An), chùa Thiên Phước (Gò Cát), chùa Phổ Đức (Mỹ Tho) v.v…
Năm 1990, Sư bà nhận chùa Nam An (Vĩnh Kim) cho 2 đệ tử là SC. Như Nguyên, SC. Như Liên làm trụ trì. Riêng nơi bổn tự Vạn Phước, người Phó chúc cho SC. Phước Quang kế nhiệm, thừa hành Phật sự.
Với nhiều công lao đóng góp cho Phật pháp, phụng sự chúng sanh, tại Đại hội Phật giáo lần 2. được tấn phong hàng Giáo phẩm Ni trưởng.
Trong suốt thời kỳ hành đạo. Sư bà luôn thúc liễm thân tâm, nghiêm cẩn hành trì giới luật. Với nếp sống bình dị, giản đơn, với tấm lòng bao dung rộng mở, Người luôn quan tâm giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, cơ nhỡ. Bằng bi nguyện lợi sanh bước chân của Người lặn lội trên những con đường làng quanh co, nhỏ hẹp, nắng bụi, mưa buồn để tùy duyên giáo hóa, từng bước gieo hạt giống Phật pháp đến mọi ngõ ngách của xóm, thôn, làng mạc. Bất kỳ gia đình nào có hữu sự, dù ngày hay đêm, dù xa hay gần, đều có hình bóng Người đến phân ưu, trợ niệm, sau đó dẫn dắt mọi người quy y Tam Bảo, quay về đường lành, nẻo thiện. Dân chúng quanh vùng thường gọi Sư bà bằng hai tiếng “Cô Hai”, Người cũng chẳng chấp mắc danh xưng, luôn nở nụ cười hiền từ, hoan hỷ.
 

Dù chưa một lần đứng trên bục giảng, truyền đạt Phật ngôn, nhưng thân giáo của Sư bà, là những bài học rất thực tế, làng gương sáng cho hàng môn sinh đệ tử noi theo, trên mỗi bước đường lợi đạo ích đời, tiến tu giải thoát.
Với lượng Phật tử ngày một nhiều, nên dù đã gần 80 tuổi, sức khỏe đã suy yếu, Sư bà cũng “bất từ bì quyện”, cố gắng thực hiện tâm huyết cuối đời, trùng tu lại chánh điện chùa Vạn Phước để Ni chúng và Phật tử có nơi chốn an tu, sớm chiều lễ bái.
Khi công trình hoàn mãn, sở nguyện đã viên thành, cũng là lúc thân tứ đại đi vào giai đoạn phân ly, sau một cơn bạo bệnh, Sư bà đã thâu thần viên tịch vào ngày 29 tháng 02 năm Giáp Thân, với 86 năm hiện hữu trên trần đời, 51 mùa hạ lạp, để lại nhiều nỗi tiếc thương trong lòng môn nhơn pháp quyến.
Sáng mãi muôn đời gương đức hạnh Dẫu Người đã nhẹ gót về Tây
Chùa xưa, quê cũ mờ nhân ảnh
Ngõ trước vườn sau vắng bóng Thầy.
Nhân dịp Ni giới Tiền Giang được vinh dự tổ chức “ Đại lễ Tưởng niệm Kiều Đàm Di Thánh Tổ”, xin kính cẩn lược ghi công hạnh của Sư bà, với thiển ý mạo muội: Tiếp bước, kế thừa trong thời kỳ hội nhập, văn bằng, khoa cử tuy cũng rất cần, nhưng Giới đức vẫn là kim chỉ nam trên suốt lộ trình hoằng truyền chánh pháp.
 







 

NI TRƯỞNG THƯỢNG MINH HẠ NGỌC CUỘC ĐỜI ĐẠO NGHIỆP

Quảng Không



C
 
ó những con người, tự thân đã dệt nên trang sử, hành trạng cuộc đời là tấm gương tỏa sáng cho người sau. Một trong những bậccao cả ấy, đó là Ni trưởng Quan Âm.
Ni trưởng Pháp danh Minh Ngọc, húy Lệ Chí, hiệu Liễu Ngộ vốn dòng họ Nguyễn danh gia, sanh vào ngày Rằm tháng Giêng năm Quí Dậu (1922) tại làng Thạnh Mỹ, xã Vang Quới, tỉnh Bến Tre. Thân phụ, Cụ ông Nguyễn Văn Giỏi giáo dạy Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), tham gia kháng chiến bị Pháp bắt tử hình. Mẫu từ - Cụ Nguyễn Thị Xứng, người phụ nữ hiền thục, đảm đang, về sau xuất gia được Hòa thượng trụ trì chùa Phật Quang - Bến Tre cho Pháp danh Liễu Hoa. Ni trưởng thông minh, điềm đạm, dáng người tao nhã, bản chất hiền lương thương người, lớn lên tiếp bước theo Cha làm nghề dạy học. Mười bảy thanh xuân phụng ý song đường lập bề gia thất.
Bước qua tuổi 20, căn lành hội đủ, vừa trông thấy Ni trưởng, Sư bà thượng Nhựt hạ Trinh tự Liễu Tánh - Trụ trì chùa Phật Bửu Ni (Cai Lậy) liền ngỏ ý muốn tiếp độ. Ngắn ngủi trong phút giây, chỉ vài câu khai ngộ mà Phật tâm được đánh thức. Xin phép cha mẹ, giã từ người thân, làng quê, mái trường, trò nhỏ… Ni trưởng theo Thầy thế phát xuất gia, áo vải đơn sơ sống đời phạm hạnh.
 

Chốn thiền môn, Ni trưởng nhất nhất vâng ý Tôn Sư, mỗi mỗi không hề trái vượt, tùng chúng chuyên cần, Giới luật tinh nghiêm, cẩn mật oai nghi, giữ gìn quy củ; Ngày ngày siêng năng chấp lao, phục dịch Tam bảo; Đêm đêm nỗ lực tham thiền, thấu đạt nguồn tâm. Nơi lan nhã, thời thời lóng sạch tinh thần, phút phút rửa lòng nuôi đức. Ân cần học hỏi, như giáo phụng hành, chỉ vừa tròn năm, Sa di Ni, Thức xoa, Ân sư cho phép một lần đảnh thọ. Đến 25 tuổi, vào Phật học đường Bảo An cùng với Quý Sư bà Sắc Tứ, Sư bà Long Nhiễu, Sư bà Phổ Đức… nghiên tầm kinh điển, ròng xét nghĩa chương. Tuổi tròn 26, Ân sư cho đảnh thọ Tỳ kheo Ni giới tại Giới đàn Phước Huệ. Sau 3 năm miệt mài đèn sách, nghiền ngẫm Kinh thưPhật học đường Nam Việt (chốn đào tạo Tăng tài của Giáo hội), Ni trưởng được phân công làm thư ký, trợ lý Sư bà trong những công tác Phật sự. Năm Canh Dần (1950), tỉnh Bến Tre chùa Phật Quang khai hạ, Ni trưởng được cử làm thư ký Trường Hương. Đến khi chùa Dược Sư khai mở lớp Trung đẳng Phật học 4 năm (1951 - 1954), Người vâng lời Ân sư nhập chúng dự học. Biết Ni trưởng là bậc chân tu lại am tường Kinh Luật xứng đáng làm Thầy Giáo thọ cho Ni chúng đương thời, Ban Chủ nhiệm Phật học đường Giác Thiên - Vĩnh Long mời Người phụ trách giảng dạy. Hán văn, Luật học, Khởi Tín Đại thừa, Hoa Nghiêm,… Ni trưởng ân cần truyền đạt.
Ni Bộ Nam Việt ra đời năm 1956, Ni trưởng thừa đương trọng trách Phó Tổng Thư ký, gánh vác Phật sự cùng Quý Sư bà, khi ấy Người vừa tròn 34 tuổi. Cùng năm đó, nơi quê nhà Bình Đức, gia đình bác sĩ Huỳnh Công Chiêu và bác sĩ Cao Văn Trí - Giám đốc Bệnh viện Nam Việt - Sài Gòn, phát tâm mua đất xây chùa, đặt hiệu tự là Quan Âm Tu viện, xin phép Sư bà Phật Bửu cho Ni trưởng về quản lý chăm nom. Trụ Pháp vương gia, trì Như Lai tạng, trách nhiệm cao quý và cũng thật nặng nề, Ni trưởng từ đây nỗ lực gánh vác. Với tài lãnh đạo, khéo léo và uyển chuyển nên hầu hết người trong tỉnh Định Tường từ hàng bình dân cho đến các bậc quyền uy sang trọng như gia đình ông bà Tỉnh trưởng, các quan chức, hàng trí thức thầy cô giáo, y bác sĩ đều nghe danh Ni trưởng tìm đến quy y Tam Bảo.
 

Năm 1958, Ni trưởng bắt đầu khai mở lớp gia giáo Phật học, nhờ vào tài đức sự nghiêm huấn của Ni trưởng nên thiền đường đại chúng luôn thanh tịnh và hòa hợp. Ni chúng sống trong khuôn khổ lục hòa nên đến đâu mọi người đều biết là đệ tử của Tu viện Quan Âm. “Ngăn nắp, kỷ cương, từ bi, trí tuệ” là phương châm rèn luyện Tăng thân của Ni trưởng.
Năm 1964, Ni trưởng ghi danh nhập học khóa y tá tại Bệnh viện Chợ Rẫy mở phòng khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho tất cả con bệnh tật quanh vùng. Năm 1965, Ni trưởng tiếp tục mở lớp Phật học cho chư Ni trong tỉnh và Người cùng với quý Sư bà đảm trách giảng dạy.
Thiền tâm tỏa sáng, nhị đế dung thông, cho nên dù Phật sự đa đoan nhưng Ni trưởng vẫn nhẹ nhàng trong tâm thái, đạo phong vẫn tự tại. Lòng từ vô hạn luôn thấm đẫm trái tim Người, như bầu trời bao la ôm lấy muôn loài, tựa như đại dương chứa đựng tất cả. Vì thế khi chiến tranh, Tu viện Quan Âm trở thành mái ấm chở che cho người dân bản xóm. Qua cơn binh biến, Ni trưởng tiếp tục mở lớp Phật học lần thứ III (1969 - 1972) và đây là khóa học cuối cùng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Ni trưởng.
Xuân hạ vần xoay, thu đông đắp đổi, không từ lao nhọc, nên Phật học đường, trường hạ… nơi nào kiền thỉnh, Ni trưởng chẳng ngại nắng mưa, đường xa cách trở, tuyên giảng Pháp mầu, mở khai rừng tuệ. Nơi bổn tự, sáng chiều hai buổi xiển dương Phật pháp, giáo dưỡng môn đồ, Người đã đem hết kinh nghiệm tu tập để truyền trao cho hậu thế. Lễ Phật, tụng kinh, quá đường, thiền tọa,… Ni trưởng không hề bỏ sót một thời, khắp chốn già lam nơi nao cũng in dấu chân Người lai vãng.
Mùa An cư năm 1974, ngày mùng 05 tháng 6 âm lịch là buổi dạy sau cùng. Chiều mùng 06, Ni trưởng lâm trọng bệnh, đến 12 giờ trưa ngày 13 tháng 6 Ni trưởng đã an nhiên thâu thần thị tịch trong sự hộ niệm thanh tịnh của chư huynh đệ và môn đồ pháp quyến. Ni trưởng trụ thế 52 năm, trải qua 26 mùa hạ lạp. Hàng môn đệ tiếp nối sự nghiệp của Ni trưởng đã có các Ni trưởng, Ni sư là những bậc Thầy Ni mô phạm trong các chốn tòng lâm như Ni trưởng TN. Như Tịnh - Trụ trì Thiền viện Linh Chiếu, Ni trưởng TN. Hải Nghĩa - Nguyên Trưởng Phân ban Ni giới tỉnh Vĩnh
 

Long, hiện là Viện chủ chùa Từ Ân, Ni trưởng TN. Thuần Trí - Trụ trì Thiền viện Huệ Chiếu, Ni trưởng TN. Như Phương hiện đang Trụ trì Tổ đình Tu viện Quan Âm và vị Ân sư tôn kính của chúng con - Ni trưởng TN.Tịnh Nghiêm. Ngoài ra, còn các bậc Ni trưởng, Ni sư đã viên tịch.
Ni trưởng, thân nữ nhi nhưng chí khí trượng phu, nét ngọc mảnh mai nhưng nghị lực không thua nam giới. Thoát tục vi Tăng, thấp mình khiêm hạ, nuôi đức rửa lòng, Bát kỉnh giữ gìn, Giới luật tinh nghiêm, những mong là rường cột của Phật pháp và gương mẫu cho đời sau. Do đó, ngoài việc nỗ lực chân tu để thấu tâm đạt bổn, Ni trưởng nguyện dấn thân vào đời để lợi lạc quần sanh. Mục tiêu chính của Ni trưởng là tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức. Ni trưởng đã đem hết tâm huyết để chăm chút từng cội bồ đề, quan sát từng oai nghi tế hạnh, dõi theo từng tâm niệm của Đại chúng, mỗi mỗi đều không rời xa. Nhiều bậc Tôn Túc Đại Tăng thời bấy giờ như Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Hòa thượng thượng Thanh hạ Từ, Hòa thượng thượng Huyền hạ Vi… đã từng về tu viện Quan Âm đều nhận thấy nơi đây chính là môi trường đào tạo, nơi ung đúc trui rèn những bậc pháp khí cho mai hậu, nên đã đưa đệ tử Ni về y chỉ Ni trưởng, đến Tu viện Quan Âm tùng chúng tu học theo sự giáo dưỡng của Người.
Tâm nguyện hoằng truyền Phật pháp, phổ độ chúng sanh, lợi lạc hữu tình như dòng máu luôn chảy trong trái tim của Người Thích nữ. Bản hoài sâu rộng, chí khí cao xa, Ni trưởng đã hoạch định những dự án cho sự nghiệp giáo dục Phật giáo và lợi lạc nhân sinh nhưng thường vội đến không cho Người thực hiện những ước mơ. Bản xóm, làng quê, người nghèo, kẻ bệnh, trẻ mồ côi cơ nhỡ, con dân lao động nghèo không được cắp sách đến trường đang rất cần sự đùm bọc, chở che, yêu thương, giúp đỡ của Ni trưởng và nhất là Ni chúng đệ tử luôn cần Người trên con đường Đạo nghiệp dài xa. Vậy mà Ni trưởng đã thuận thế vô thường, đành bỏ lại tất cả để xả báo an tường, thâu thần về cõi vô tung bất diệt trong độ tuổi trung niên để lại trong lòng nhân thế những hình ảnh đẹp đẽ, sáng ngời. Trong trái tim của hàng môn đệ luôn khắc sâu dáng từ uy nghiêm, tấm lòng vị tha và hạnh nguyện sâu rộng của bậc Thầy khả kính.
 

Nhớ lại, mỗi lần Thượng tọa thượng Minh hạ Trí - Giáo thọ Trường Trung cấp Phật học tỉnh Tiền Giang, trụ trì Tổ đình Phước Lâm, huyện Cai Lậy quang lâm về Ni viện Tịnh Nghiêm để dự lễ Tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo và chư vị Trưởng lão Ni tiền bối đã không tiếc lời tán dương ca ngợi Ni trưởng cùng Đạo tràng Ni chúng Tu viện Quan Âm.
Được nghe, được kể, lâu lắm rồi con thầm ngưỡng mộ Ni trưởng và dâng tràn niềm thương kính vô cùng. Mỗi năm, sắp đến ngày 13 tháng 6 là Đạo tràng Ni viện Tịnh Nghiêm chúng con nao nao trong dạ, nhẹ nhàng thiết lễ Tưởng niệm Ni trưởng thật đơn sơ nhưng không thiếu sự tôn nghiêm, thâm trầm và ý vị.
Hôm nay, nhân dịp Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang tổ chức lễ Tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo và Chư Tiền Bối Ni Phật Giáo Việt Nam, con xin kính cẩn lược ghi đôi nét về công hạnh của Ni trưởng - Một bậc Thầy Ni, trí bi ưu việt, suốt đời chỉ biết sống cho Phật pháp, cống hiến cho chúng sanh.
“Quan Âm” - khung trời cõi Phạm, dưới chiếu cỏ con chí thành hướng về Ni trưởng - Sư ông tôn kính của chúng con. Hành trạng của Người quá trác tuyệt, làm sao với lời văn thô thiển, ý tứ vụng về, chỗ thấy nghe còn nông cạn, con chỉ ngại không thể viết hết được sự thật về trang sử vàng son của Ni trưởng - Người con gái xứng đáng của Đức Phật, hậu duệ ưu tú của Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo.
“Như chiếc lá bay vào khoảng lặng Như giọt sương nhỏ xuống lòng sông Không là gì trong sanh tử, tử sanh
Góp thêm sắc, cho thêm hương để trần gian đong đầy hạnh phúc.”
 







 

GƯƠNG SÁNG CÕI THIỀN


Hương Sen




 
T
 
rên mặt biển khổ mênh mông của trần thế, thỉnh thoảng đó đây nhô

 
lên những cành liên hoa rực rỡ, những cành hoa đượm đầy ý thanh cao và giải thoát, Ni trưởng Thích Nữ Trí Liên, một trong những cành liên hoa của Giáo đoàn Ni giới Khất sĩ, môn đệ của đức Tổ Minh Đăng Quang. Một vị Thầy hiền khả kính, sau khi đã tròn xong phận sự trong giai đoạn gọi là đời, đã dâng hiến quãng đời còn lại, 36 năm cho ánh đạo thiêng mầu nhiệm.

Cây có cội, nước có nguồn; hạnh hiền của Ni trưởng ban cho chúng sanh cũng bắt nguồn từ một vùng đất quê hương và ánh đuốc tuệ cũng được nối truyền từ ngọn đuốc Minh Quang rực rỡ.
Xin mượn đôi dòng chữ lược ghi để tán dương, tưởng niệm công hạnh đạo nghiệp của Người.
Ni trưởng Thích Nữ Trí Liên, sinh ngày 06 tháng 3 năm Tân Sửu (1901), tại làng Mỹ Lạc Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
 

Bốn mươi bảy năm theo dòng đời hòa nhịp thế trần, đến một ngày duyên lành tái hiện, năm 1947 Tổ sư Minh Đăng Quang hành đạo đến Long An, hạnh ngộ Minh sư, nghe pháp tỏ ngộ đạo mầu. Người phát tâm xuất gia, được Tổ sư chứng minh thế phát, truyền Sa di Ni giới tại Kỳ Viên Tự, Bàn Cờ vào ngày 01 tháng 11 năm Mậu Tý (1948), với pháp hiệu Trí Liên, là vị đệ tử Ni thứ 9 trong hàng đệ tử Ni của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang.

 
Năm 1954, Đức Tổ vắng bóng, Ni trưởng xin phép Giáo hội về Tây Ninh, kiến tạo ngôi Tịnh Ngọc Truyền dưới chân núi Bà Đen, làm nơi an trú tịnh tu.


 
Năm 1961, Ni trưởng không thể tịnh tu khi hạnh lợi tha chưa tròn nguyện, Người hạ sơn du hóa độ nhân sanh, bước chân hành đạo trải dài từ miền Đông đến miền Tây Nam bộ, hoa giác nở theo từng nhịp bước. Ngày mùng 09 tháng 9 năm 1961, thuyền từ cập bến sông Tiền, quận Bến Tranh duyên lành hội đủ, thiện nam tín nữ tại xã Tân Lý Tây, phát tâm hiến cúng đất và xây dựng đạo tràng, thỉnh Ni trưởng an trụ giáo hóa độ sanh. Tịnh xá Ngọc Hiệp được thành lập, đây chính là ngôi Tổ đình, là chiếc nôi tiếp độ giáo dưỡng chư Ni Phân đoàn 2. Sau đó, tiếp nối các ngôi Tịnh xá Ngọc Lâm, Ngọc Trung, Ngọc Thành, Ngọc Phú, Ngọc Vân,

Tịnh Tân Bửu tháp... lần lượt hình thành.
Từ một Ni rồi đến 50 Ni, từ một ngôi tịnh xá đến năm ngôi, rồi mười ngôi tịnh xá ở các tỉnh, thành.
Năm 1975, Ni trưởng được Hòa thượng Pháp sư Giác Nhiên (Viện trưởng Viện Hành đạo Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam) cấp giấy chứng nhận là Trưởng đoàn Ni Khất sĩ trực thuộc Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam.
 

Mặc dù xuất gia ở tuổi trung niên, nhưng với tinh thần dõng mãnh cắt ái ly gia, sự quyết tâm tinh tấn kiên trì trong đời sống phạm hạnh, vượt mọi gian khó, tuy tuổi ngoài lục tuần, nhưng Người vẫn không nghỉ ngơi, dẫn Ni đoàn du phương hành đạo, thực hành hạnh tứ y, khi sông Tiền, lúc sông Hậu; ngày khất thực trì bình, tùy duyên hướng dẫn bá tánh tu hiền; tối nghỉ tạm đình, chùa, mượn cảnh vắng tham thiền nhập định.
Một ngày rồi nhiều ngày, một tháng rồi nhiều tháng, Ni trưởng vẫn miệt mài trên bước đường hành đạo, trang nghiêm thân giáo, mẫu mực uy nghi, Bát kỉnh nghiêm trì, diệt trừ bản ngã. Trải bao xuân thu, một niềm tinh tấn không ngừng, sau những ngày dài hành đạo, Ni trưởng dừng bước du phương an trụ đạo trường, giáo dưỡng môn nhơn đệ tử. Mỗi tháng hai ngày, mồng 1 và 16, chư Ni các miền Tịnh xá, hội tụ về Tịnh xá Ngọc Hiệp, huynh đệ sum vầy, trước thăm sức khỏe Thầy, sau được sám hối và nghe lời giáo huấn. Hàng tháng, Ni trưởng đều đến thăm các miền Tịnh xá sách tấn chư Ni trong nếp sinh hoạt nơi trú xứ và tiếp độ cư gia.
Nổi bật mà cũng là tấm gương sáng đặc điểm nơi Ni trưởng đó là triệt để vâng giữ Bát kỉnh pháp. Lúc Tổ sư còn trụ thế, Ni trưởng một lòng vâng lời chỉ dạy của Đức Tổ sư, sau khi Tổ sư vắng bóng, Ni trưởng y chỉ Giáo hội Tăng, hàng năm vào ngày lễ Tự tứ Tăng, Lễ Tưởng niệm Tổ sư, Ni trưởng đều hướng dẫn Ni chúng về Trung ương Giáo đoàn IV hành lễ với Giáo hội Tăng. Đồng thời, trong những ngày tháng bình thường, bất cứ công việc nào có tính cách quan trọng, Ni trưởng dạy Ni chúng phải trình bạch với Giáo hội Tăng xin ý kiến chỉ đạo, trước khi quyết định làm.
Một đức hạnh nữa ở người mà chư Ni chúng con luôn kính trọng, đó là gương tinh tấn, Người luôn nêu cao thân giáo, nghiêm răn, khắc kỷ trong đời sống tu tập. Người là một vị Thầy bình dị, thân thiện, giản đơn, thanh bần đúng mực, tình thương Người dành cho đệ tử như mẹ đối với con, ấm áp, khoan dung, độ lượng; nhưng người cũng nghiêm răn xử phạt, khi Ni chúng có biểu hiện sơ thất oai nghi hay dể duôi trong thời khóa. Tâm tế độ như trời cao bát ngát, lòng từ bi như bể cả không bờ. Trong cương vị người Thầy, Ni trưởng đem hết tâm tư nhiệt huyết, cần
 

mẫn chăm chút từng mầm giác ngộ, lưu tâm trưởng dưỡng từng hạt giống bồ đề. Dưới sự dìu dắt của Ni trưởng, ngày nay quý Ni trưởng môn đệ của Người đã trưởng thành, kế thừa đạo nghiệp, phát huy Chánh pháp, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức theo gương hạnh của Thầy.
Người thường nhắc nhở chư Ni: “Trong mọi thời duyên, ta phải tự mình tinh tấn vượt lên làm gương cho người sau noi bước; không choán chỗ giành đường, cản trở bước tiến hóa người sau, tội, lỗi phận sự tu hành”. “Đường xa ngàn dặm, nhờ bước ban đầu; cây lớn một vầng nhờ người ươm mầm mộng. Bước ban đầu không cố gắng, đường ngàn dặm khó đến nơi; mầm mộng không ươm gieo, cây lớn một vầng đâu dễ có”. Lời dạy nhắc cho chúng Ni những khái niệm về nhân quả trong đời sống tu tập, nếu không nuôi dưỡng duy trì phát tâm khi xuất gia, không kiên trì nhẫn nại trước mọi chướng duyên nghịch cảnh, không tinh cần tu tập, làm sao được thành quả giác ngộ giải thoát. Những lời dạy nghe qua như đơn giản nhưng đó lập trường, định hướng cho đệ tử trên đường tu tập giải thoát, chư Ni phải kiên định hành trì.
Trong thời gian xuất gia hành đạo từ 1948 đến 1984, Ni trưởng luôn giữ phận tu chơn, an trú trong phạm hạnh khép mình trong giới luật kỷ cương, vui trong cảnh định thiền, thực hiện bổn hoài xây dựng đạo tràng tiếp Ni độ chúng, viên mãn hạnh nguyện tự lợi, lợi tha. Ni trưởng luôn nêu cao tinh thần khất sĩ do Đức Tổ sư truyền dạy để nhiếp hóa quần sanh, làm tỏ rạng hạnh chơn truyền, Ni trưởng đã làm tròn hạnh Sa môn, trung kiên với Thầy, hòa cùng huynh đệ, vượt qua mọi chướng duyên thử thách, kiên trì tinh tấn đến giây phút sau cùng.
Ni trưởng đến với cuộc đời 84 năm, với 48 năm trả nghiệp hồng trần, 36 năm dâng đời cho cõi đạo nhiệm mầu, viên mãn “một cuộc đời đến đi tùy duyên vô ngại”. Đạo nghiệp và công đức của Ni trưởng được kết tinh bằng giới đức, tâm đức và tuệ đức, một tấm gương sáng chốn Thiền môn, lưu mãi cho hậu thế.
Tám bốn năm một đời hiền
Thầy cho sanh chúng tình thiêng đạo từ.
 

Ba sáu năm lẻ có dư,
Hóa nguồn suối mát hạnh từ hoằng khai. Pháp thân bỗng hóa liên đài,
Nhục thân bỗng hóa khói mây diệu huyền. Trở về bản thể chơn nguyên,
Còn lưu dấu vết nơi miền trần ai. Sen vàng đóa đóa nở khai,
Đạo tràng chốn chốn hiện bày độ sanh.
Viên mãn:          Một cuộc đời siêu thoát
Một ánh đạo nhiệm mầu.

TIẾP NỐI TIỀN NHÂN


 
Năm 1984, Ni trưởng Trí Liên viên tịch, Ni Nhơn Liên, môn đệ Ni trưởng Trí Liên, được chư Tôn đức Tăng lãnh đạo Giáo đoàn IV chứng minh, huynh đệ ủy nhiệm kế thừa Trụ trì Tịnh xá Ngọc Hiệp đời thứ 2.

Ni Nhơn Liên, sinh năm Ất Mẹo (1915), người làng Tân Đông, thuộc quận Bến Tranh, tỉnh Định Tường, nay huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Vốn sẵn túc duyên lành trong Phật pháp, năm 1956, hạnh ngộ Hòa thượng Từ Quang tại chùa Linh Sơn (Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh), Người đã phát tâm quy y, Hòa thượng truyền thọ quy giới, thọ pháp danh Diệu Chánh. Từ đây, Người hướng dẫn gia đình tập hạnh tu hiền, ăn chay, niệm Phật, bố thí, phóng sanh làm niềm vui trong cuộc sống.
Năm Tân Sửu (1961), Ni trưởng Trí Liên về hành đạo tại quận Bến Tranh, Tịnh xá Ngọc Hiệp được thành lập, bóng huỳnh y Khất sĩ đã gợi cho Phật tử Diệu Chánh một hướng đi, một lý tưởng giải thoát, Cô đã tới
 

lui đạo tràng, thọ trì Bát quan trai giới. Năm 1966, duyên đạo đã nhuần, Diệu Chánh dõng mãnh cắt ái ly gia thế phát vào ngày Rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ (1966), dưới sự chứng minh của Hoà thượng Pháp sư Giác Nhiên, được Ni trưởng Trí Liên tiếp độ vào Giáo hội Liên Hoa với pháp hiệu Liên Nhơn.
Đặc biệt, trong đời sống xuất gia, sẵn bản tánh hiền hòa nhẫn nại, Ni sư tự biết mình xuất gia muộn, nên hết sức chuyên cần trong sự tu tập, siêng năng công quả không nệ nhọc nhằn, kính trên nhường dưới, thủ phận, khiêm cung luôn tinh tấn trên đường giải thoát. Từ khi tiếp nhận nhiệm vụ Trụ trì, Ni sư luôn tận tâm trong việc hành đạo, chú ý đến mặt thân giáo. Tuy rất ít nói nhưng qua sự sinh hoạt trong đời sống hằng ngày, Ni sư luôn thể hiện một tấm gương tinh tấn, nhẫn nại, từ bi cho chư Ni và Phật tử tại bổn tự. Năm 1990, tuổi đã ngoài thất tuần, kể từ đây Ni sư tinh tấn hơn xưa, phát nguyện thọ trì Pháp Hoa Kinh và Đại Bi Chú (mỗi ngày từ 49 - 108 biến) chuyên cần không xao lãng.

 
 
Ngày 05/12/2002, tại Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam lần thứ V, Ni được tấn phong Giáo phẩm Ni sư. Từ đây, Ni lại càng tinh chuyên tu học, đức độ từ hòa, sức tinh tấn không mòn mỏi. Đầu năm
 
Xá lợi NSTN Nhơn Liên
nổi trên mặt nước và kết lại

2004, Ni sư tuổi thọ 90, thân tứ đại suy mòn sức khoẻ kém dần, Ni cắt mọi duyên ngoài, giữ thân khẩu ý chơn như, ba năm
 
thọ bệnh, ba năm an tịnh, một ngày thuận thường, Ni đã an nhiên thị tịch vào lúc 08 giờ sáng ngày 20 tháng Giêng năm Đinh Hợi (08/3/2007), khi hỏa thiêu thu được hơn 100 viên lợi để lại cho đệ tử phụng thờ.
Với 52 năm hoà điệu với đời, 41 năm học đạo và hành đạo, trải qua 33 hạ lạp chuyên cần tinh tấn, trụ thế 93 năm, Ni sư Nhơn Liên xả bỏ huyễn thân tứ đại, đã ghi lại một nét son trong trang sử Phật của một vị Trưởng lão Ni, tu học chuyên cần trong Giáo pháp cho đến ngày viên mãn đạo nghiệp.
 


 
Năm 2007, Ni sư Tuyết Liên là người thừa kế Trụ trì đời thứ 3 của Tịnh xá Ngọc Hiệp, sinh năm 1957, tại xã Tân Lý Đông, Châu Thành, Tiền Giang. Năm lên 10, đầy đủ túc duyên Ni sư xuất gia, Ni trưởng Trí Liên tiếp độ thế phát vào ngày mùng 08 tháng 02 năm Đinh Mùi (1967) tại Tịnh xá Ngọc Hiệp. Năm 1985, Ni sư tham gia vào Ban Đại diện Phật giáo huyện Châu Thành từ nhiệm kỳ I đến nay (nhiệm kỳ IX). Năm 2003 đến nay, Ni sư được cơ cấu vào Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang, với chức

vụ Ủy viên Thường trực kiêm Phó ban Tài chánh. Nhiệm kỳ IX, Ni sư giữ chức vụ Phó ban Từ thiện - xã hội.
Từ khi đảm nhiệm trách vụ Trụ trì, với tâm nguyện tiếp nối công hạnh tiền nhân, phát huy Chánh pháp, Ni hết lòng chăm lo Phật sự, duy trì hai ngày cúng hội theo truyền thống Hệ phái, tổ chức đạo tràng Bát quan trai, đạo tràng niệm Phật, mở lớp Giáo hướng dẫn gia. Mặc bận nhiều Phật sự, Ni cũng không quên hạnh lợi tha chung tay góp phần với địa phương trong công tác an sinh hội. Từ năm 2011, Ni thành lập chương trình “Một địa chỉ nhân đạo gắn với một hoàn cảnh” nối kết các Mạnh thường quân, hàng tháng trực tiếp chăm sóc 60 gia đình con em khuyết tật; hàng năm trợ cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, những gia đình hoàn cảnh khó khăn, người già neo đơn cũng những đối tượng Ni quan tâm giúp đỡ thường xuyên.
Với nhiệm vụ Phó Trưởng Phân đoàn 2 Ni giới Khất sĩ, Ni sư rất thiết tha với tương lai Ni giới, Ni sư đã trình quý Ni trưởng xây dựng chương trình “Sống chung tu học”, các khóa tu được tổ chức thường xuyên, đây là điều kiện để chư Ni các Tịnh xá đoàn kết trong tổ chức, hòa hợp trong tu tập. Bất cứ ở vai trò nhiệm vụ nào, Ni sư đều tích cực làm hết khả năng để phụng sự Tam bảo hầu mong kế thừa đạo nghiệp, phát triển Ni lưu, đền đáp ân đức Tổ Thầy, báo đáp công ơn đàn na thí chủ.
 
 

KẾT LUẬN

Thời gian trôi qua theo sự vận hành của cuộc sống, Ni trưởng Trí Liên viên tịch đã hơn 30 năm, nhưng đạo nghiệp và công hạnh của Người được chư Ni đệ tử tiếp tục phát huy, từ 10 đạo tràng nay đã tăng lên 16 ngôi, hội chúng Ni 50 vị ngày nào, nay đã tăng lên 100 vị; quý Ni trưởng, Ni sư môn đệ của Người trụ trì các miền Tịnh xá, tích cực phát triển đạo tràng cả chất lẫn lượng, một số Ni trẻ đang được đào tạo theo các chương trình Phật học trong và ngoài nước, một số vị tham gia công tác trong tổ chức Giáo hộicác tỉnh thành, chấp hành nghiêm Hiến chương của Giáo hội, chính sách của Nhà nước và nhất là tích cực trong công tác từ thiện, góp phần an sinh xã hội. Từ năm 1997, Tịnh xá Ngọc Phú, quận Tân Bình do Ni trưởng Thinh Liên trụ trì là điểm An cư kiết hạ tập trung hàng năm của chư Ni Giáo đoàn 4. Từ năm 2008, Tịnh xá Ngọc Thành, quận Thủ Đức do Ni sư Kiến Liên Trụ trì, là điểm mở khóa Thiền Vipassana, hàng tháng có hơn 100 thiền sinh từ các nước tham gia tu tập. Từ năm 1991 đến nay, Tịnh xá Ngọc Quang, Quận 8, do Ni trưởng Vạn Liên Trụ trì, là nơi nuôi dưỡng hơn 60 người già neo đơn và tích cực tham gia nhiều chương trình từ thiện do Ban Từ thiện Hệ phái Khất sĩ tổ chức. Đây là những việc làm thể hiện tinh thần kế thừa đạo nghiệp của tiền nhân, phát huy Chánh pháp và cũng là cách tri ân báo ân của người con Phật.
Đạo tràng xưa vẫn còn đây
Pháp âm xưa vẫn nơi này ngát hương Pháp thân thể nhập chơn thường
Cuộc đời Ni trưởng sáng gương cõi thiền.
 




 

ĐẠO NGHIỆP VIÊN DUNG


TKN. Tố Liên



Trải gót du hành nhuận nắng sương Theo chân Sư Tổ, đạo hoằng dương. Tám năm trui luyện tươi nền hạnh, “Pháp khí Tòng lâm” sáng đạo trường.

Sen vàng diệu phẩm, pháp đưa duyên, Giới đức thơm lừng quyện khí thiêng. Tỏa bốn phương trời xoay nghiệp khổ, Tinh đàng, Tinh xá “vọt” trường miên.

Trọng trách oằn vai, trĩu gánh gồng, Hoa thiền, quả giác nở trăm bông.
Nhân tài đào tạo, tâm kiên dũng, Kỳ vọng ươm đầy trí đức thông.

Đạo nghiệp viên dung giữa biển trần, Thiên tài Việt hóa, dịch Kinh văn, Tâm hồn cao đẹp, thơ lai láng,
“Báu chất đầy non chẳng sánh bằng”.
 








 

NI TRƯỞNG MINH VIÊN

VỚI CÔNG HẠNH PHỤNG SỰ ĐẠO ĐỜI
TKN. Thích Nữ Huệ Liên




 
M
 
ột buổi chiều a    xuân năm Mậu Tuất (2018), người viết duyên sự thăm viếng Phật Bửu Ni Tự, thật diễm phúc được diện kiến Ni trưởng thượng Minh hạ Viên, hiện Viện chủ Phật Bửu Ni Tự (phường 1, thị Cai
Lậy). Với nụ cười từ bi, cốt cách cùng khiêm hạ, từ hòa, Ni trưởng đã khiến cho người viết cùng kính ngưỡng. Tuy tuổi cao sức yếu, nhưng trông thần sắc Ni trưởng cùng hỷ lạc. Thông qua cuộc vấn an Ni trưởng, người viết được biết lược về cuộc đời tu học hành đạo của Ni trưởng với nhiều thành tựu đáng kể. Chính vậy, người viết xin mạn phép ghi lại công hạnh của Ni trưởng đã đóng góp cho đạo đời. Qua đó, người viết mong muốn rằng, bài viết sẽ góp phần truyền đạt đến các thế hệ hậu học ghi nhớ, nương vào tấm gương của bậc tiền bối để noi theo tu học, hành đạo. Bài viết này sẽ được đăng trong tập kỷ yếu nhân dịp Phân ban Ni giới Phật giáo tỉnh Tiền Giang
 

đăng cai tố chức Đại Lễ tưởng niệm Thánh Tổ Đại Ái Đạo Kiều Đàm Di năm 2019.
Ni trưởng Minh Viên tên thật là Nguyễn Kim Huê, sinh ngày 01 - 02 - 1936 tại Thanh Sơn, Mỹ Tho (nay là xã Thanh Hòa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), là người con thứ bảy trong gia đình có bảy anh chị em. Thân sinh là ông Trần Hà Thanh, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Thợ, ông bà làm nghề thuần nông và tín tâm nhà Phật.
Năm Ni trưởng 11 tuổi, Ni trưởng theo gia đình đến Phật Bửu Ni ở Cai Lậy để cầu siêu cho anh. Duyên lành phát khởi từ đó, năm 12 tuổi, Ni trưởng được song thân cho phép xuất gia, Sư bà Liễu Tánh thế phát, ban pháp danh Thích Nữ Minh Viên.
Sau khi xuất gia, Ni trưởng được Bổn tiếp tục cho đi học tốt nghiệp tiểu học năm 1960. Năm 15 tuổi, Ni trưởng thọ giới Sa Di Ni tại chùa Phật Quang, Bến Tre. Năm 25 tuổi, Ni trưởng thọ giới Thức Xoa Ma Na ni Tỳ kheo ni tại Giới đàn chùa Từ Nghiêm. Cùng năm đó, Ni trưởng đến Sài Gòn học bậc trung học, trú tại Pháp Hoa Ni viện, Quận 1.
Năm 1962 - 1963, Ni trưởng đã tham gia khóa học Điều dưỡng tại Bệnh viện Chợ Rẫy với ý nguyện có cơ duyên phụng sự cho chư Tăng Ni và người dân.
Với tinh thần cầu thị Phật pháp nên sau khi tốt nghiệp Trung học, Người tiếp tục học Trung đẳng Phật học tại chùa Dược Sư và tốt nghiệp vào năm 1966.
Năm này, Ni trưởng được Ôn Trí Thủ giới thiệu đến chùa Sắc Tứ Khải Đoan - Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), làm việc tại Chẩn y viện - nơi khám chữa bệnh và dạy phổ cập giáo dục tại Trường Bồ Đề. Năm 1968, lớp học Trường Bồ Đề ngừng hoạt động, Ni trưởng trở về Phật Bửu Ni tự, phụ giúp Sư bà Liễu Tánh sách tấn đàn em, mở lớp học tình thương cho con em dân nghèo tại địa phương.
 



 



 
 

 


Một vài hình ảnh Ni trưởng làm việc tại Chẩn Y viện Trường Bồ Đ (Chùa Sắc Tứ Khải Đoan, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk)
Sau khi Thầy Bổn Sư viên tịch vào năm 1982, Ni trưởng đảm đương trọng trách quản chúng tại Phật Bửu Ni Tự. Năm 1991 và năm 1996 tại Tổ đình Phật Bửu, Ni trưởng đã mở khóa An cư kiết hạ cho chư Ni trong tỉnh.
Với quá trình tu học và hành đạo, Người được tấn phong Giáo phẩm Ni sư năm 1992 và Giáo phẩm Ni trưởng năm 2002.
Với công hạnh tu tập và giới luật tinh nghiêm, Ni trưởng được mời làm Thiền chủ tại các khóa An cư kiết hạ do Tỉnh hội tổ chức trong nhiều năm liền và Ngài được cung thỉnh làm Yết Ma A Xà Lê Sư tại các Giới đàn trong và ngoài tỉnh.
Trong hoạt động Phật sự, Ni trưởng thường hướng dẫn chư thiện tín đến cúng dường tại các trường hạ, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội ở địa phương.
 




Ni trưởng tụng Kinh tại Phương trượng đường

Hiện nay, do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng an dưỡng tại bổn tự nhưng vẫn duy trì thời khóa tu niệm. Với tính cách khiêm hạ, giản dị đã khiến cho những ai diện kiến Ni trưởng đều sanh lòng kính ngưỡng. Ni Như Châu (huyện Cái Bè) đã bài thơ tứ đề tặng Ni trưởng như sau:
“Lệ nhựt hoằng khai cửu phẩm hoa Phước huệ song tu hạnh Thích Ca Minh tâm kiến tánh chơn phát hiện Viên dung sự lý thoát ta bà.”
Ni trưởng đã đem đạo vào đời bằng tâm hồn của người con Phật, thật là điểm son đáng ghi nhận trong lịch sử Ni giới Phật giáo Tiền Giang.
 







 

THẦY TÔI

(Tưởng niệm Ân thượng Liễu hạ Tánh )

TKN. Minh Từ



Thời gian dẫu rất vô tình
Nhưng không xóa được dáng hình Thầy tôi Như lời mẹ ru bên nôi
Từng dòng sữa Pháp vun bồi Giới thân Thầy luôn chăm chút bón phân
Trồng cây Bát Nhã, gieo nhân Bồ Đề Thầy đưa tôi qua bến mê
Ân cần dìu dắt quay về nguồn tâm Thầy tôi là ánh trăng rằm
Sáng soi muôn nẻo luân trầm thế nhân Bóng từ che khắp xa gần
Cho tôi một thuở gội nhuần đức ân “Kỷ dục lập, lập nhân
Kỷ dục đạt, đạt nhân”
Lời Thầy nhắc nhở tu thân ngày nào Vượt qua sanh tử bì lao
 
NI GIỚI VIỆT NAM - NI GIỚI TIỀN GIANG: TIẾP BƯỚC TIỀN NHÂN PHÁT HUY CHÁNH PHÁP

































Khoác ba tấm áo, biết bao nhiêu tình Thầy vì bổn nguyện lợi sinh
Trải thân xây đắp niềm tin cho đời Rồi một chiều thu, Đàm hoa rơi
Hạc vàng khuất dạng lưng trời từ đây Thầy xa vời vợi non Tây
Nhớ Thầy, con biết tìm đâu bóng Thầy.
 







 

ƯƠM MẦM TRI THỨC


Quảng Tạng


 
    1. Khơi nguồn yêu thương
Tri thức là nền tảng quan trọng đối với hành trang lập thân của mỗi con người, đồng thời đem lại nhân tố bền vững của mọi sự phát triển xã hội. Một con người nếu được giáo dục tốt thì sẽ mang đến nhiều hữu ích cho xã hội. Vì thế, hệ thống các trường học giữ một nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp trồng người, trang bị tri thức cho thế hệ trẻ mai này trở thành công dân tốt cho tương lai.
Ở thành phố Mỹ Tho, trong hệ thống các trường học địa phương tồn tại một ngôi trường đặc biệt, hoàn toàn miễn phí cho học sinh, đó là Trường Mầm non Tịnh Nghiêm. Trường do Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm hiện là Phó Trưởng ban Trị sự kiêm Trưởng Phân ban Ni giới Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tiền Giang thành lập và bảo trợ hoạt động. Hiện tại, mô hình giáo dục mầm non được xem là một thành tựu lớn trên phương diện hoạt động từ thiện - xã hội của Phật giáo tỉnh nhà, một mô hình giáo dục thiện nguyện có ý nghĩa cho cộng đồng và xã hội. Điều này bắt nguồn từ tâm nguyện cũng như sự nỗ lực cố gắng vì sự nghiệp ươm mầm tri thức cho thế hệ mầm non đất nước của Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm.
    1. Hoài bão ươm mầm tri thức
Nhận thấy tình trạng nhiều gia đình nghèo, khó khăn ở thành phố Mỹ Tho không đủ điều kiện chăm lo việc học hành cho con cái, với lòng bi
 

nguyện độ sanh, Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm khởi tâm mong muốn thành lập ngôi trường mầm non để giáo dục cho nhóm trẻ em này, đồng thời phần nào giúp nhiều gia đình vơi đi nỗi lo lắng cũng như an tâm chu toàn kế sinh nhai. Xung quanh Ni viện Tịnh Nghiêm - trú xứ của Ni trưởng luôn xuất hiện hình ảnh các em nhỏ theo cha mẹ buôn bán, theo chân du khách viếng chùa Vĩnh Tràng để xòe tay xin tiền và thậm chí nói năng thô tục làm mất hình ảnh mỹ quan, sự thân thiện và văn minh của nơi du lịch tâm linh - văn hóa lớn của Tiền Giang. Bản thân các em không được gia đình đầu tư học hành, phải ra đời bươn chải khi còn quá nhỏ. Đây là điều làm Ni trưởng và chư Ni ở Ni viện Tịnh Nghiêm trăn trở, nghĩ ngợi nhiều năm liền.
vậy, sau một thời gian trăn trở và quyết liệt để hoàn thành các thủ tục, cũng như được sự cho phép của các cấp chính quyền lẫn ngành giáo dục, vào năm 2007, Trường Mầm non Tịnh Nghiêm ra đời trong sự mong đợi của nhiều người dân hòa cùng niềm hoan hỉ vô biên của bản thân Ni trưởng, chư tôn đức Ni cộng sự. Trường tọa lạc tại ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Ban đầu, Ni trưởng Tịnh Nghiêm rất băn khoăn trong việc chọn lựa hình xây dựng ngôi trường mầm non. Ni trưởng đã cất công tham khảo, tìm hiểu nhiều ngôi trường mầm non tư thục để đúc kết kinh nghiệm. Đặc biệt, Ni trưởng đến chùa Giác Tâm (quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh) thực tế tìm hiểu Trường mầm non Họa Mi. Ni trưởng Thích Nữ Huệ Từ đã ân cần giới thiệu, hướng dẫn về quy trình tổ chức hoạt động, nhất là công tác chuyên môn đào tạo của trường.
Sau nhiều ngày suy nghĩ, bằng tình thương và sự dấn thân mạnh mẽ để giúp đỡ các em được yên tâm học tập, Ni trưởng quyết định thành lập Ngôi trường Mầm non hoàn toàn miễn phí. Chỉ có như thế các em mới an tâm học hành, đồng thời cũng là phương tiện để những Phật tử, thiện hữu tri thức gần xa có cơ hội gieo trồng ruộng phước của mình. Ngôi trường được đặt tên bằng chính pháp hiệu của Ni trưởng như một tâm nguyện lớn trong cuộc đời học đạo, hành đạo của Người đã được viên mãn. Trước khi xuất gia, Ni trưởng vốn là một giáo viên trung học. Vì thế, hoài bão ươm mầm tri thức luôn thao thức trong tâm tư của Người.
 

Trường Mầm non Tịnh Nghiêm được thành lập chính là hoàn thành hoài bão lẫn lòng bi nguyện độ sanh của Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm.
    1. Những bước đi ban đầu
Ngay buổi đầu nhà trường được thành lập rồi đi vào hoạt động, ý tưởng và niềm mong mỏi, khát vọng của mọi người luôn tràn đầy, hăng hái. Nhưng thật ra, đối với Ni trưởng và toàn thể giáo viên, nhân viên mái trường Mầm non đã nỗ lực cống hiến rất nhiều để vượt qua bao khó khăn, trở ngại lớn. Đến nay, Trường Mầm non Tịnh Nghiêm trải qua ba nhiệm kỳ hiệu trưởng, nhưng chỉ có duy nhất một người Chủ trường luôn gắn bó, động viên và chính là hậu phương lớn lo toan cho mọi hoạt động của trường được ổn định, phát triển. Người đó chính là Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm.
Đầu tiên, sở vật chất thiếu thốn, không đủ đáp ứng sinh hoạt học tập là điều cần giải quyết nhanh chóng. Thời điểm này, mái chùa Tịnh Nghiêm còn nhỏ hẹp và đơn sơ, chỉ đủ dành cho Ni chúng sinh hoạt tu tập. Cho nên, để giải quyết vấn đề này, Sư cô Viên Chiếu (lúc này còn là Phật tử Ánh Ngọc của chùa) đã phát tâm hiến tặng toàn bộ nhà, đất sử dụng (diện tích 500 m2) cho Ni trưởng Tịnh Nghiêm xây dựng. Năm đầu tiên, Trường Mầm non Tịnh Nghiêm xây dựng ba phòng học, sân chơi, bếp ăn kịp tiếp nhận 80 trẻ em nghèo theo học ba cấp Chồi, Mầm, Lá ngay trong niên học 2006 - 2007. Năm học tiếp theo, với sự phát tâm ủng hộ của Phật tử gần xa, trường được xây cất khang trang và quy mô theo bảng thiết kế 1 lầu, 1 trệt gồm 6 phòng học cùng với hệ thống phòng chức năng: Phòng làm việc của Ban Giám hiệu, 1 hội trường, phòng thiết bị, bếp ăn một chiều, sân chơi trẻ, nhà xe, vườn cây. Nhờ vậy, tập thể giáo viên và học sinh hoàn toàn yên tâm tập trung nhiệm vụ dạy và học cho đến nay.
Giai đoạn vừa mới thành lập, một số giáo viên chưa thể đáp ứng ngay chất lượng giảng dạy tốt là điều trăn trở của Ni trưởng cùng Ban Lãnh đạo Trường Mầm non Tịnh Nghiêm. Cô Trần Thị Tiên - Hiệu trưởng nhà trường thời kỳ này nhớ lại: Cô đã dành thời gian để bồi dưỡng, đào
 

tạo giúp cho vài giáo viên yếu kém về phương pháp, kinh nghiệm giáo dục trẻ theo độ tuổi để họ vững vàng đứng lớp, nhiệt huyết yêu nghề yêu trẻ. Về sau, Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm chủ trương cho một số vị Ni là đệ tử đi học chuyên ngành mầm non, học khóa nghiệp vụ sư phạm, khóa bồi dưỡng quản lý giáo dục tại Trường Cao đẳng phạm Tiền Giang. Bản thân Ni trưởng tích cực tham gia khóa học bồi dưỡng quản lý giáo dục để tăng cường kiến thức quản lý trường học. Những năm về sau, để giúp cho giáo viên không ngừng nâng cao tay nghề, rèn luyện kỹ năng sư phạm, phát huy tính sáng tạo trong giáo dục, nhà trường tổ chức cho giáo viên lên tiết tốt mỗi tháng một tiết, làm đồ dùng dạy học mỗi tháng ít nhất một món, dự giờ chéo và sinh hoạt chuyên môn, tổ chức hội giảng, kiểm tra sư phạm nhà giáo cấp trường, khuyến khích giáo viên tham gia các hội thi cấp trường,… Nhà trường còn đưa giáo viên tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên do Phòng Giáo dục - Đào tạo tổ chức tham quan môi trường học tập, dự giảng ở trường bạn. Nhiều giáo viên theo học lớp vi tính để dễ dàng áp dụng công nghệ thông tin vào công tác giảng dạy, hỗ trợ việc dạy học hiệu quả. Nhìn chung, hoạt động chuyên môn giảng dạy của nhà trường luôn thích ứng, hòa nhập và cải tiến theo chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo để không bị lạc hậu, luôn mới mẻ. Vì sự nghiệp trồng người, vì thế hệ mầm non tương lai của đất nước, chư Ni và tập thể giáo viên Trường Mầm non Tịnh Nghiêm luôn nỗ lực phấn đấu cho chất lượng giảng dạy của nhà trường trước nay để không phụ lòng người sáng lập.
Tiếp tục, chất lượng dinh dưỡng cho các em trong mỗi bữa ăn tại trường là vô cùng quan trọng, một bài toán nan giải đối với Ni trưởng cùng Ban Giám hiệu. Hằng ngày, nhà trường cung cấp cho các em ba suất ăn, một suất chính vào buổi trưa và hai suất phụ vào hai buổi sáng, chiều. Lúc đầu, toàn bộ các suất ăn bằng thực phẩm chay khiến cho cơ quan quản giáo dục phân vân về chế độ dinh dưỡng. Bằng kinh nghiệm của bản thân, Ni trưởng Tịnh Nghiêm đã thuyết phục thí điểm cung cấp thức ăn chay trong vòng hai năm cho học sinh. Cuối cùng, nhà trường đảm bảo dinh dưỡng hằng ngày cho trẻ phát triển thể chất, trí thông minh.
 

Quan tâm chăm sóc đến đội ngũ giáo viên nhà trường là điều mà bản thân Ni trưởng chú trọng từ lúc hình thành cho đến nay. Ni trưởng luôn quan tâm đến đời sống giáo viên, nhân viên về cuộc sống vật chất như tăng lương, thưởng đột xuất, thăm viếng khi hữu sự, tổ chức tham quan du lịch, tọa đàm, thi ứng xử cho tập thể đội ngũ nhà trường nhân ngày 20/11 và 8/3. Ngoài ra, Ni trưởng tổ chức các buổi họp mặt để khen ngợi tấm lòng yêu nghề, mến trẻ của các cô về tinh thần cống hiến cho thế hệ tương lai của đất nước. Điều này tạo ra sự đoàn kết, tin tưởng và gắn bó lẫn nhau giữa người Chủ trường với đội ngũ giáo viên, nhân viên nhà trường. Khác với những ngôi trường mầm non khác ở thành phố Mỹ Tho, giáo viên được nhà trường cung cấp bữa ăn trưa miễn phí. Vì thế, tất cả đội ngũ giảng dạy và phục vụ nhà trường luôn hướng đến mục tiêu cao cả “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” như Bác Hồ kính yêu đã dạy.
Từ lúc thành lập đến nay, để duy trì nguồn kinh phí hoạt động hiệu quả của trường phải nói đến sự nỗ lực rất lớn của Ni trưởng Tịnh Nghiêm. Ni trưởng chủ trương tự túc kinh phí hoạt động nhà trường, tránh phụ thuộc nhiều vào bên ngoài. Vì vậy, Ni trưởng mở thêm nhà hàng chay Bồ Đề Quán, Phòng phát hành văn hóa phẩm Phật giáo. Phải nói thêm, đóng góp lớn nhất cho hai cơ sở này là những vị Phật tử đầy nhiệt huyết trong việc ngoại hộ, miệt mài, tận tụy với tâm thiện nguyện hoàn toàn không nhận thù lao. Vì thế, toàn bộ lợi nhuận dùng để trang trải cho lương và kinh phí cho giáo viên, nhân viên, đồng phục cho trẻ, trang thiết bị dạy và học, bếp ăn,… kinh phí hoạt động nhà trường ước tính mỗi tháng gần 200 triệu đồng. Bên cạnh đó, nhiều mạnh thường quân và nhà hảo tâm đã đến thăm, ủng hộ vật chất lẫn tinh thần cho các học sinh liên tục trong nhiều năm qua.
    1. Thành quả hôm nay và sự phát triển tương lai
Đến năm 2016, nhà trường có đội ngũ giáo viên và nhân viên gồm 25 người và đã đào tạo được 1.996 học sinh, tổng kinh phí hoạt động trên 16 tỷ đồng. Đây là một thành quả lớn của quá trình mười năm xây dựng và phát triển Trường Mầm non Tịnh Nghiêm. Tập thể giáo viên của nhà trường đã nhận được nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Ủy ban
 

nhân dân tỉnh Tiền Giang cũng như ngành giáo dục. Đây là niềm khích lệ to lớn đối với cá nhân Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm và toàn bộ nhà trường để tiếp tục phấn đấu hơn nữa trong tương lai. Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân và Phạm Vũ Luận trao tặng bằng khen cho nhà trường vì những thành tích đạt được. Ngày 14/3/2018, Bà Nguyễn Thị Doan, nguyên Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam đã đến tìm hiểu, tặng quà cho các em học sinh và trao tặng phần thưởng cao quý cho nhà trường. Bà đánh giá cao những nỗ lực của đội ngũ giáo viên, nhân viên và rất đồng tình với chương trình giáo dục của nhà trường, đó là coi trọng giáo dục đạo đức.
Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm luôn trăn trở về định hướng phát triển tương lai của nhà trường. Bằng lòng từ bi, đôi mắt trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn, Ni trưởng luôn chủ trương đổi mới phương pháp giảng dạy tích cực, lấy trẻ làm trung tâm giúp giáo viên rèn luyện tay nghề để nâng cao chất lượng chuyên môn là nhiệm vụ trọng tâm của trường. Ni trưởng quan tâm xây dựng môi trường học tập phải gắn với ba tiêu chí Xanh - Sạch - Đẹp để tạo mỹ quan, tính thân thiện giúp dạy tốt, học tốt. Giáo dục trẻ, bên cạnh kiến thức, phải chú trọng kỹ năng và đạo đức xã hội nhằm hình thành nhân cách tốt, tâm hồn đẹp luôn là niềm mong mỏi, ưu tư của người sáng lập ngôi trường.
Trường Mầm non Tịnh Nghiêm là một thành tựu lớn trên con đường dấn thân phụng sự lợi lạc quần sanh của Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm. Thành tựu của trường chính là tâm huyết lớn, thể hiện sự hòa quyện giữa phẩm chất từ bi và lòng bao dung vô bờ bến đối với tha nhân bằng chí nguyện Phụng sự chúng sanh tức cúng dường chư Phật của người sáng lập.
 





 

NGƯỜI LÁI ĐÒ THẦM LẶNG

Nguyễn Phúc Nguyên



“Nước sông Tiền in hình người lặng lẽ Mái chèo khua, ông lái nhẹ nhàng lay Bao lữ khách đi về trên bến vắng
Sang sông rồi ai nhớ bến đò xưa”.
Vâng, nếu ai đã từng một lần đọc qua trang sử vàng son của Phật giáo(1)Tiền Giang, hẳn đều biết đến Ni trường Phổ Đức. Một ngôi chùa cổ kính nằm giữa lòng thành phố Mỹ Tho nghiêng mình in bóng bên dòng sông Bảo Định - một dòng sông hiền hòa xanh biếc, tháng ngày âm thầm tuôn chảy, luôn bồi đắp phù sa cho quê hương thêm giàu đẹp. Hòa với tiếng chuông chiều đồng vọng ngân vang, khiến bao trái tim của người con xa xứ, thổn thức nhớ về quê hương, nhớ về hình bóng Thầy - Người lái đò tận tụy, đêm ngày lặng lẽ đưa bao lữ khách sang sông.
“Lớp lớp trò đi, Thầy còn ở lại
Hỡi tháng ngày xin dừng bước đừng trôi. Cho chúng con cúi đầu lần nữa
Gọi tiếng “Thầy” với tất cả tin yêu”.
Trong phạm vi bài viết này, chúng con sơ lược đôi nét về sự nghiệp tiếp nối, kế thừa, phát huy truyền thống Tổ Sư, công hạnh và hình ảnh

  1. HT. Thích Huệ Thông (2002), Phật giáo Tiền Giang - Lược sử và những ngôi chùa. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 185. Nhiều tác giả (2015), Chùa Việt Nam, tập 1, Nxb. Tôn giáo.
 

của người lái đò nơi Ni trường Phổ Đức. Sự hy sinh thầm lặng của Người với Ni sinh Trường Cao Trung Phật học Tiền Giang.
    1. SỰ NGHIỆP KẾ THỪA, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG GIÁO DỤC CỦA CHƯ TIỀN BỐI TỔ SƯ
Tuy không trực tiếp đứng trên bục giảng với bảng đen, phấn trắng nhưng trong tâm khảm của mỗi Ni sinh nơi đây, hình ảnh quý Ngài luôn hiển hiện với tên gọi thân thương, kính quý “Thầy Phổ Đức”. Người Thầy của ngày ấy và bây giờ luôn mang trong mình tâm tình của “Ông lái đò” suốt một đời thầm lặng, nhẫn nại giữa vô vàn sóng cuộn, thác ghềnh. Nơi bến sông tri thức, quý Ngài không chỉ miệt mài lo công việc đưa khách sang sông mà còn trang trải cuộc đời mình để đắp xây một khung trời bình yên cho hàng trăm Ni trẻ nương náu.
Ni trường Phổ Đức - tên gọi thân thương, chan chứa ân tình của một thời cắp sách đến trường. Nơi đây đã lưu giữ khung trời bình yên, xán lạn của bao thế hệ Ni trẻ từ Khóa I cho đến nay là Khóa VII theo học tại Trường Trung cấp Phật học Tiền Giang.

 
 
Ni trường Phổ Đức trải qua các thế hệ truyền thừa từ vị khai sơn là Sư bà Như Ngộ đến đệ tử - Ni trưởngNhư Hảo và hiện nay là đệ tôn - Ni Huệ Năng. Nhằm thắp sáng con đường truyền đăng tục diệm, thừa kế chí nguyện Tổ Thầy, phát huy chánh pháp, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức. Năm 2012, Ni sư Huệ Năng trùng tu chùa Phổ Đức, nhằm đáp ứng nhu cầu tu học của đại chúng xa gần.
Chùa Phổ Đức được thành lập trong những ngày bom rơi lửa đạn của năm 1964, trải qua bao độ thăng trầm lịch sử, ngày nay chùa Phổ Đức khoác trên mình vẻ uy nghiêm, kiên cố của một ngôi già lam trầm mặc nằm giữa lòng
 


 
 
Thành phố Mỹ Tho trẻ trung, năng động. Về nơi đây, được lắng nghe giai thoại về những bậc Ni lưu xuất trần thượng sĩ, đã dày công kiến tạo ngôi chùa Phổ Đức (Sư bà Như Ngộ và Sư bà Trí Nguyện) lòng người cảm nghe một niềm xúc động, cung kính dâng lên tự đáy lòng.Có thể nói, Sư bà Như Ngộ(1) là bậc thạch trụ, là cây đại thọ che mát chốn Thiền môn.
Tiếp nối truyền thống của Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo, Sư bà đã hy sinh cả cuộc đời cho đạo pháp, cho tha nhân.
Với hạnh nguyện lợi sanh, Sư bà tiếp Tăng độ chúng, người người quy hướng ngôi Tam Bảo, đạo tràng Phật tử ngày càng đông. Hàng đệ tử xuất gia của Người hơn 500 vị, đi hoằng hóa khắp nơi và còn có nhiều vị đang phục vụ cho Giáo hội tỉnh nhà.
Cả cuộc đời Sư bà 98 năm với 78 tuổi đạo, Người luôn hết lòng cống hiến cho Giáo hội, cho sự nghiệp giáo dục đào tạo Ni tài. Sau khi đất nước được thống nhất, Sư bà giao chùa Phổ Đức cho đệ tử là Ni trưởng Như Hảo vào năm 1969. Người trở về Long An xiển dương đạo tràng Thiên Phước. Nơi đất Long An, Sư bà lại tiếp tục hỗ trợ chư Tôn đức trong Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo mở Ni trường cho chư Ni tu học tại tỉnh nhà.
Từ khi tiếp nhận trụ trì, Ni trưởng Như Hảo từng bước trùng tu bổn tự và đảm đương trách nhiệm tiếp tăng độ chúng, Người còn tham gia vào các công tác quan trọng của Giáo hội ngay buổi đầu được thành lập. Trong nhiệm kỳ I (1985 - 1988), Ni trưởng được giao chức vụ Ủy viên Ban Kinh tế Tài chánh của Tỉnh hội. Đến nhiệm kỳ lần thứ II và III (1989 - 1995), Ni trưởng nhận nhiệm vụ Trưởng ban Hướng dẫn nam nữ Phật tử.


1.   HT. Thích Huệ Minh, Công hạnh của Ni trưởng Thích Nữ Như Ngộ. Kỷ yếu Ni trưởng Thích Nữ Như Ngộ (2017), Nxb. Hồng Đức, tr.65.
 

Đặc biệt, trong giai đoạn này, được sự tín nhiệm của Giáo hội, chùa Phổ Đức được chọn làm nơi nội trú cho Ni sinh theo học Trường Cơ bản Phật học - Khóa I. Ni trưởng còn nhận thêm trách nhiệm là Trưởng ban Tài chánh Trường Cơ bản Phật học - Khóa II. Trong suốt quá trình tham gia hoạt động công tác Giáo hội, Người còn giữ trọng trách Trưởng ban Từ thiện xã hội suốt ba nhiệm kỳ…. Sau khi Ni trưởng viên tịch, Ni sư Huệ Năng được thừa kế sự nghiệp của Ân sư.
Mặc dù ngôi chùa Phổ Đức không rộng lớn nhưng đã nuôi dưỡng hàng trăm Ni chúng tu học, là tâm huyết của chư Tổ Đức Ni, cũng là kỳ vọng của Giáo hội Phật giáo Tiền Giang. Nơi đây, không chỉ đào tạo Ni sinh Trung cấp mà còn có Ni chúng Sơ cấp. Và hiện nay, Giáo hội tỉnh nhà còn mở thêm Lớp Cao đẳng Phật học nhằm tạo điều kiện cho Tăng Ni sinh tiếp tục việc học của mình. Ni trường Phổ Đức lại gánh vác thêm trọng trách.

2. CÔNG HẠNH HÌNH ẢNH NGƯỜI LÁI ĐÒ NƠI NI TRƯỜNG PHỔ ĐỨC


 
Nói đến hình ảnh “Người lái đò” là nói đến những bậc Thầy ngày đêm tận tụy, hết lòng sự nghiệp trồng Người. Trong bài viết về “Người Thầy” của Ni thượng Huệ hạ Thông nói rằng: “Nói đến “Người Thầy” là ta nghĩ ngay đến nhân cách của một nhà kỹ sư tâm hồn, có một phong thái giản dị nhưng lại rất hy sinh, luôn tìm mọi cách để rèn luyện, giáo dục, đào tạo người học trò một đức tánh, đạo đức tốt đẹp, nuôi dưỡng trí huệ cũng như

truyền trao những kinh nghiệm, cách sống ở đời… Người Thầy ở học đường luôn luôn mong mỏi những người học trò thành danh ở đời, có một chỗ đứng trong xã hội. Còn đối với người Thầy nơi chốn Thiền môn thì sao? Người Thầy trong Phật pháp, ngoài việc đóng vai trò là người cha, người mẹ nuôi dưỡng đệ tử lớn khôn. Đồng thời cũng là nhà mô
 

phạm, nuôi dưỡng tâm linh cho người đệ tử hữu dụng trên con đường hoằng pháp lợi sanh”.(1)
Tuy Ni chúng với căn trình độ, tuổi tác khác nhau. Nhưng với năng lực từ bi, trí tuệ, Ni sư thượng Huệ hạ Năng - Người lái đò của Ni trường Phổ Đức hiện nay đã cảm hóa được bao trái tim non dại.
Vì thế, chúng con luôn ví Thầy như biển cả, vì bao giờ biển cũng trong xanh, hiền hòa mát dịu, âm thầm lặng lẽ, bao dung. Cũng đã bao lần tấm lòng của biển rộng mở tha thứ, khoan dung cho những đứa con lầm lạc, không tuân thủ quy luật Thiền môn.
Vì trách nhiệm nên Thầy đôi lúc nghiêm khắc, trách phạt, nhưng tất cả sự dạy dỗ của Thầy đối với Ni chúng đều xuất phát từ tấm lòng của người Mẹ, mong muốn con mình thành nhân chi mỹ.
Từng oai nghi, cử chỉ, lời nói của Thầy là một tấm gương sáng ngời cho hàng đệ tử chúng con noi theo. Cái đẹp giản dị toát ra từ cuộc sống chân chất. Từ thân giáo, khẩu giáo của Thầy đã dạy chúng con bài học về lòng từ bi, hỷ xả; sự bình đẳng và hạnh khiêm cung.
Thầy thương đại chúng không thiên vị, không phân biệt người miền nào, là đệ tử của ai hay đệ tử của Thầy. Tất cả đều bình đẳng, ai có công thì thưởng, ai có tội thì phạt. Thầy luôn lắng nghe và luôn thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của Ni chúng. Bất cứ ai có chí cầu tiến, tu học, hành trì đúng Chánh Pháp, đều được Thầy dạy dỗ tận tình. Thầy thường nói với Đại chúng rằng: “Nếu Thầy cư xử không công bằng với các con thì có Chư Phật, Chư Thiên công bằng với các con”.
Thấy chúng làm việc nhọc Thầy rất thương, mỗi sáng Thầy đều xuống chấp tác, làm việc cùng đại chúng. Đêm đêm đến giờ chỉ tịnh, trong khi Đại chúng đều yên giấc Thầy vẫn âm thầm lặng lẽ đến thăm viếng từng liêu phòng. sợ các con giải đãi không lo tu hành, khuya nào Thầy cũng đi tuần kiểm tra các con có đi công phu đầy đủ không? Thật xúc động làm sao tình thương bao la vô bờ bến của Thầy. Có hôm, Thầy bắt gặp chú tiểu vì tuổi còn nhỏ mê ngủ, không chịu thức dậy công phu, Thầy đến bên nhẹ nhàng gọi em thức dậy.


1.   Ni sư Thích Nữ Huệ Thông, Người Thầy. Kỷ yếu một chặng đường (2017). Nxb. Hồng Đức, tr. 58-59.
 


 
Theo năm tháng nắng mưa, sương gió đã bám trên đôi vai gầy của Thầy. Nhưng có ai biết được trong dáng thân gầy ấy là cả tấm lòng rộng lớn, thương yêu Ni chúng.

Thầy thường sách tấn, nhắc nhở Ni trẻ chúng con rằng: “Các con còn nhỏ lắm phải siêng học siêng tu, các con là mầm non của Phật pháp, là đội ngũ kế thừa. Mai này lớn lên các con còn gánh
vác công việc của Giáo hội, đi hoằng hóa làm lợi lạc cho tha nhân. Có như thế, các con mới đền ơn được công của đàn na tín thí, nhất là công ơn Thầy Tổ của mình. Thầy Tổ đã hy sinh, gánh vác hết mọi công việc cho các con được cắp sách đến trường, các con phải thật học thật tu để không phụ lòng Thầy Tổ…”.
Ngoài việc nuôi dạy Ni chúng, Thầy còn giữ những trọng trách quan trọng trong Giáo hội:
  • Phó Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tiền Giang
  • Trưởng ban Kinh tế Tài chánh Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tiền Giang
  • Phó Thường trực Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang
Vì hạnh nguyện lợi tha, thương cho những mảnh đời bất hạnh. Mỗi năm Thầy đều tổ chức những chuyến đi từ thiện giúp đỡ cho những dân tộc thiểu số nghèo đói, khó khăn. Và cùng với Giáo hội Tỉnh nhà đi cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt, vận động Ni chúng Phổ Đức gây quỹ để xây nhà tình thương, tình nghĩa…
Đức hy sinh của Thầy thật cao quý biết dường nào. Bao nhiêu việc làm của Thầy đều hướng về Ni chúng, thật xứng danh “Bậc Thầy mẫu mực” của chúng con.
Hạnh nguyện cao cả và lòng từ bi vô hạn của Thầy, chúng con không thể dùng bút mực hay ngôn từ nào để diễn tả hết được. Chúng con nguyện
 

cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho Thầy được nhiều sức khỏe để tiếp tục hun đúc, đào tạo và dẫn dắt bao thế hệ trẻ nữa thành người hữu ích cho Phật pháp. Rồi mai đây, chúng con cũng phải chấp cánh trên vạn nẻo đường, chắc chúng con sẽ gặp rất nhiều chông gai cách trở. Những lúc ấy, chúng con sẽ nhớ về Thầy, nhớ những lời dạy của Thầy để làm hành trang cho chúng con tiến tu trên bước đường đạo nghiệp.
Thời gian có thể làm phai nhạt và chôn vùi tất cả nhưng không thể xóa nhòa những ân tình Thầy đã ban cho chúng con. Những ân tình ấy đã bao bọc, dưỡng nuôi, vun trồng thế hệ Ni trẻ chúng con. Vì tương lai đạo pháp, con nguyện nỗ lực tinh tấn tu hành, giữ Giới luật trang nghiêm, thúc liễm thân tâm, trau dồi Tam vô lậu học, thực hành theo lời Phật dạy để chuyển hóa những chướng duyên thành những thắng duyên trên bước đường tu học. Hầu xứng đáng là con gái của dòng họ Thích, để mai này lớn lên có đủ khả năng gánh vác phần nào Phật sự trong ngôi nhà chánh pháp của Như Lai, ngõ hầu đền đáp tứ ân trong muôn một.
“Con sẽ học và tu theo lời Thầy dạy
Dù chưa tròn nhưng đường đạo không lui. Lời của Thầy con cố gắng rèn trui
Để lấy đó làm nấc thang tiến bước”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. HT. Thích Huệ Thông (2002), Phật giáo Tiền Giang - Lược sử và những ngôi chùa, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. HT. Thích Huệ Minh (2017), Công Hạnh của Ni trưởng Thích Nữ Như Ngộ, Kỷ yếu Ni trưởng Thích Nữ Như Ngộ, Nxb. Hồng Đức.
  3. Nhiều tác giả (2015), Chùa Việt Nam, tập 1, Nxb. Tôn giáo.
  4. TS. Thích Nữ Như Nguyệt (Viên Minh) (2007), Hành trạng chư Ni Việt Nam, Nxb. Tôn giáo.
  5. Ni sư Thích Nữ Huệ Thông, Người Thầy - Kỷ yếu một chặng đường
(2017). Nxb. Hồng Đức.
 







 

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA NỮ GIỚI PHẬT GIÁO

TỈNH TIỀN GIANG
NS. Thích Nữ Tuệ Minh



T
 
iền Giang là một tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ, quê hương của miền sông nước, phù sa hiền hòa và cũng là vùng đất “địa linhnhân kiệt”, sản sanh ra những danh nhân, những bậc trí giả, hiền tài.
Nơi đất Gò Công là nơi xuất thân của những bậc mẫu nghi thiên hạ như Thái hậu Từ Dũ và Nam Phương Hoàng hậu. Tiếp tục truyền thống hào hùng, nhân dân Tiền Giang tiếp tục kế thừa và không ngừng phát huy trong công cuộc xây dựng đổi mới đất nước và đã có những đóng góp cho phong trào phụ nữ tỉnh nhà. Suốt chiều dài lịch sử Phật giáo Việt Nam, Ni giới Tiền Giang phát xuất nhiều vị danh Ni có công lớn trong tiến trình xây dựng đội ngũ Ni giới. Từ năm 1920 trở về sau cho đến khi thành lập Ni bộ Nam Việt (1956), Ni giới Tiền Giang bấy giờ đã có những Sư nữ xuất hiện đơn lẻ, tu học xuất gia thọ giới ở chùa Tăng với quý Hòa thượng đạo cao đức trọng. Chư Tôn Hòa thượng đã hướng dẫn Phật tử ủng hộ Ni giới tu hành. Đây là một thuận lợi lớn, trợ duyên cho sự phát triển của Ni giới sau này. Vào đầu thế kỷ XX, chư Tỳ kheo ni bắt đầu xuất hiện và đã có những chỗ đứng khiêm nhường trong Đạo pháp và xã hội.
Chùa Bửu Lâm giai đoạn 1910 - 1930, quý Ni trưởng từ xa về đây xuất gia và trở thành những bậc danh Ni sau này như: Ni trưởng Đàm
 

Hương ở Diệu Ấn - Phan Rang, Ni trưởng Diệu Thanh ở Vĩnh Long,… đều xuất gia với Tổ Thiên Trường Như Lý. Sau nhiều năm, Ni chúng ngày càng phát triển, việc tổ chức trường dạy học, củng cố tòng lâm quy củ được quý Ni trưởng quan tâm sâu sắc. Đầu thế kỷ XVIII, chùa Sắc Tứ Linh Thứu ở xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành có nhiều đời danh nhân tu hành. Từ năm 1950, Hòa thượng Thành Đạo giao lại cho 3 Ni trưởng là Như Nghĩa, Như Chơn và Thông Huệ, bấy giờ chùa trở thành Ni trường. Lớp Phật học gia giáo đầu tiên của tỉnh Định Tường do Ni trưởng Thông Huệ đảm trách được hình thành và kéo dài 2 năm với gần 40 Ni chúng, tu tập kỷ cương dưới sự chứng minh của Hòa thượng Hành Trụ, Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Thiện Hòa. Quan Âm Tu viện (Bình Đức - Mỹ Tho) do Ni trưởng Minh Ngọc làm Trụ trì. Đây là ngôi chùa Ni có mặt rất sớm ở Tiền Giang, một đạo tràng trang nghiêm có tiếng nề nếp quy củ do Ni trưởng Minh Ngọc và Ni trưởng Giác Nhẫn đồng Trụ trì. Lớp Sơ đẳng Phật học, tiếp nhận 50 Ni chúng từ các tỉnh miền Tây tựu về. Đây là lớp Phật học gia giáo nổi tiếng về giáo dục cả trong và ngoài tỉnh do quý Hòa thượng Thanh Từ, Huyền Vi, Trí Châu, Thiền Định, Nhựt Long… đảm trách giảng dạy. Chùa Phổ Đức do hai Ni trưởng Như Ngộ và Trí Nguyện thành lập. Hai vị Ni trưởng đã khai sáng ngôi chùa Phổ Đức ở thành phố Mỹ Tho và sau đó mở lớp gia giáo Phật học, Ni chúng tu học có đến 40 vị. Hiện nay, chùa Phổ Đức là Ni trường - nơi nuôi dưỡng Ni sinh của 6 khóa học tại trường Trung cấp Phật học tỉnh Tiền Giang, mỗi khóa khoảng 100 vị.
Theo nguồn sử liệu cho biết thêm, những bậc danh Ni xuất thân ở mảnh đất sông Tiền này đã viết nên trang sử vẻ vang cho Ni giới Phật giáo Việt Nam nói chung và Ni giới Tiền Giang nói riêng. Ni trưởng Diệu Tịnh (1910 - 1942), thế danh Phạm Đại Thọ, người xứ Gò Công, năm 15 tuổi xuất gia với Tổ Như Chí Thiền là bậc Danh Tăng đạo đức nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh. Ni trưởng thọ giới ở tuổi 33 với 12 tuổi đạo nhưng đã khai sơn ngôi phạm vũ tòng lâm Sắc Tứ Hải Ấn - Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là bậc Tôn túc, giới đức kiêm ưu cho Ni chúng 3 miền thời bấy giờ, là tấm gương của bậc chân tu vượt khó. Kế đến là Ni trưởng Diệu Tín (1852 - 1923), tục danh là Phạm Thị Lệ, xuất gia tại
 

chùa Vĩnh Tràng với Hòa thượng Quảng Ân Chánh Hậu. Ni trưởng ở chùa Vĩnh Tràng tu học đến khi viên tịch, đến nay chùa vẫn còn tháp Bảo đồng thờ Ni trưởng. Ni trưởng Chí Kiên (1913 - 2007), thế danh Đặng Thị Mười, xuất gia năm 1928 tại chùa Từ Ân (Cái Bè) dưới sự truyền đăng của Thiền sư Huệ Mạng. Ni trưởng theo học ở Vạn An Hải Ấn, Diệu Đức (Huế), thành lập Ni viện Tập Thành năm 1940, mở Ni trường Từ Quang. Sau đó, Người được cử làm Phó ban Quản trị Đặc trách Giáo dục Ni bộ Bắc Tông. Ni trưởng nổi tiếng thơ văn đạo lý, là bậc danh Ni thời cận đại. Ni trưởng Liễu Tánh Nhật Tri (1916 - 1982), người làng Mỹ Hạnh Đông, Cai Lậy, Tiền Giang. Xuất gia với Tổ Chí Thiền và được Tổ cho pháp danh là Diệu Tánh. Ni trưởng cùng Sư trưởng Như Thanh là những người có công đầu trong việc thành lập Ni bộ Nam Việt. Từ năm 1947 - 1957, Ni trưởng xây chùa Phật Bửu (Cai Lậy) và mở trường Phật học. Năm 1968, Ni trưởng được cử làm Vụ trưởng Ni bộ Bắc Tông. Ni trưởng Như Chơn Trí Hiển (1918 - 2008) xuất gia cầu pháp với Tổ Hoằng Khai Kiểu Đạo chùa Hội Phước (Bến Tre). Ni trưởng là bậc kỷ cương của Ni giới Tiền Giang từ năm 1950 cho đến nay.
Ngày nay, hầu hết chư vị Ni trưởng trong giai đoạn đầu tiên và thời kỳ chấn hưng Phật giáo thế kỷ XX đều đã về cõi Phật. Những vị Trưởng lão Ni Tiền Giang hiện tại là những cây đại thụ, không những tỏa bóng mát từ bi giới hạnh cho Ni chúng nương nhờ tiếp nối nét đẹp của chư Ni tiền bối. Có thể kể đến, các vị Chứng minh Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang: Ni trưởng Như Bình - Trụ trì chùa Linh Thứu; Ni trưởng Tân Liên - Trụ trì Tịnh xá Ngọc Quang, thị xã Gò Công; Ni trưởng Minh Viên - Viện chủ Tổ đình Phật Bửu, huyện Cai Lậy; Ni trưởng Nhan Liên Trụ trì Tịnh xá Ngọc Mỹ; Ni trưởng Minh Châu - Trụ trì Tu viện Thanh Tịnh; Ni trưởng Như Minh - Trụ trì chùa Sắc Tứ Linh Thứu. Hiện nay, còn nhiều vị Ni đang ra sức đóng góp cho hoạt động của Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang như: Ni trưởng Tịnh Nghiêm - Trụ trì Ni viện Tịnh Nghiêm; Ni sư Huệ Năng - Trụ trì chùa Phổ Đức; Ni sư Tuyết Liên - Trụ trì Tịnh xá Ngọc Hiệp - Phó Phân ban Ni giới Tiền Giang.
Bên cạnh đó, còn nhiều chư Tôn đức Ni trong Phân ban giữ những chức vụ, vai trò khác nhau, tất cả đều tích cực trong mọi hoạt động Phật
 

sự. Đặc biệt là công tác từ thiện xã hội, sẵn sàng chia sẻ, cảm thông với mảnh đời bất hạnh, trẻ mồ côi, người khuyết tật, xây nhà tình thương, dựng cầu bê tông, trao học bổng cho học sinh nghèo hiếu học… Ngoài ra, quý Ni trưởng, Ni sư còn quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo thế hệ Ni tài để cống hiến cho Giáo hội ở Ni trường Phổ Đức hay các Tự viện Ni khác trong tỉnh. Từ đây, có nhiều Ni trẻ lãnh nhận bằng Cử nhân, Thạc sĩ, học vị Tiến sĩ, tốt nghiệp các khóa Giảng sư… Mặt khác, Ni trưởng Tịnh Nghiêm - Trưởng Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang còn mở trường Mầm non từ thiện cho trẻ mồ côi, cơ nhỡ, con em dân lao động nghèo, giúp trẻ có tương lai tươi sáng, chắp cánh ước mơ cho các em.
Ni giới tỉnh Tiền Giang đã bề dày truyền thốngđược trao truyền cho đến hôm nay. Kế thừa những giá trị tốt đẹp mà chư tiền bối Ni qua các thế hệ đã dày công vun đắp, nữ giới Phật giáo Tiền Giang nguyện đem hết sức mình để phụng sự Đạo pháp, phục vụ chúng sinh. Đây là việc làm thiết thực góp phần xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng vững mạnh và đồng hành cùng dân tộc.
 







 

TIẾP BƯỚC TIỀN NHÂN, PHÁT HUY CHÁNH PHÁP

VỚI VAI TRÒ TIÊN PHONG CỦA TRƯỞNG NHƯ THANH
TRONG VIỆC TỔ CHỨC LỄ GIỖ THÁNH TỔ NI
NS. TS. Thích Nữ Như Nguyệt



N
 
gày 08 tháng 02 âm lịch hàng năm giờ đây có thể nói đã trở thành ngày truyền thống của Ni giới Việt Nam. Trong 5 nămtrở lại đây, Đại Lễ đã được tổ chức rất long trọng luân phiên ở các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Thừa Thiên Huế, Bình Dương, Đồng Nai. Hôm nay, chúng con vô cùng biết ơn Thường trực Phân ban Ni giới Trung ương đã giúp đưa Ngày Lễ Giỗ Tổ trở thành một sự kiện trọng đại tầm quốc gia từ năm 2014 đến nay. Đồng thời, chúng con cũng vô cùng biết ơn Sư trưởng Như Thanh, người đã phát pháo đầu tiên về Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm Di vào năm 1987.
Việc tổ chức Hội thảo với chủ đề “Tiếp bước tiền nhân, phát huy Chánh Pháp” nhân dịp Đại Lễ Giỗ Tổ năm nay là rất kịp thời và ý nghĩa. Thực vậy, các thế hệ Ni giới hôm nay và mai sau có bổn phận tri ân và tiếp bước các thế hệ Ni tiền bối. Tuy nhiên, điều khiến con ưu tư là trong những kỳ Đại Lễ Giỗ Tổ gần đây, không có ai nhắc đến vai trò khai mở của Sư trưởng Như Thanh. Con thiết nghĩ, làm sao thế hệ Ni hôm nay có thể thực sự tiếp bước tiền nhân nếu như không nhớ đến công lao khai mở của Sư trưởng? Là người sống giữa hai thế hệ, lại trực tiếp có cơ
 

duyên được Thị giả Sư trưởng Như Thanh khi Người còn sanh tiền, con mong muốn nhân dịp này nhắc lại những đóng góp tiên phong của Sư trưởng trong lịch sử Đại Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm Di. Con hiểu rằng, mọi người không nhớ, không nhắc đến Sư trưởng vào dịp Lễ giỗ Tổ vì mọi người không biết đến vai trò tiên phong của Sư trưởng, chứ đây hoàn toàn không phải là một sự cố ý lãng quên.
Một học giả Phật giáo phương Tây đã chỉ ra, trong Phật giáo, “karma nghĩa hành động, “nghiệp” tạo nên từ hành động của chúng ta, nhưng cũng có karma/nghiệp của sự “không hành động”, nghĩa là nếu chúng ta thấy, biết việc nên làm mà không làm cũng là tạo nghiệp. Vì vậy, hội thảo Phật giáo năm nay là một thời điểm phù hợp để con chia sẻ thông tin còn ít được biết đến này với đông đảo chư Ni thế hệ hôm nay.
Con cho rằng, lịch sử hình thành phát triển của Đại Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm Di tại Việt Nam hằng năm có thể được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn 1 từ năm 1987 đến 2014 và giai đoạn 2 từ năm 2014 đến nay.
• Giai đoạn 1987 - 2014
Con đã có dịp gặp gỡ Ni trưởng Như Nguyên và Ni sư Như Tâm, là người sống giữa hai thế hệ, cũng là người trực tiếp trợ lý công việc Sư trưởng Như Thanh khi Người còn tại thế.
Ni sư Như Tâm chia sẻ về thời điểm Sư trưởng Như Thanh đưa ra sáng kiến tổ chức Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm: Sau giải phóng, tình hình thay đổi, Ni Bộ Bắc Tông không thể tiếp tục hoạt động như trước, Trụ sở Ni Bộ Bắc Tông cũng đổi tên thành “Tổ đình Từ Nghiêm”, hoạt động của Ni Bộ trầm xuống, đến Đại hội Phật giáo ở Hà Nội năm 1981 người ta không nhắc đến Ni Bộ nữa. Thấy hoạt động của Ni giới mờ nhạt, Sư trưởng ưu tư nhiều. Vì vậy, Sư trưởng đã nghĩ đến việc tổ chức Lễ Giỗ Tổ, vừa là để nhớ về Tổ, vừa là để tập hợp Ni chúng, liên kết Ni chúng, khôi phục và duy trì hoạt động của Ni Bộ. Cho nên, trong sự hình thành Ni Bộ Bắc Tông cũng như sự khởi động Đại Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm, Sư trưởng Như Thanh là người tiên phong. Trong suốt cuộc đời, Sư trưởng luôn ưu tư với hoạt động của Ni giới. Với vai trò dẫn đường, Sư trưởng Như Thanh xứng đáng được tri ân bằng hình thức treo ảnh thờ bên dưới
 

ảnh của Kiều Đàm Di trên băng rôn của Đại Lễ Giỗ Tổ. Đây không phải là vấn đề riêng tư hay cá nhân mà là sự thật lịch sử chúng ta nên trân trọng. Để tiếp bước tiền nhân, phải nhớ về Tổ là đúng, nhưng để tiếp bước tiền nhân, cũng phải nhớ về người đã tiếp nhận tinh thần của Tổ và đưa tinh thần ấy đến với các thế hệ Ni Việt Nam sau này.”
Ni trưởng Như Nguyên đã chia sẻ những ưu tư hoài niệm về Sư trưởng Như Thanh trong bài viết “Mỗi độ xuân sang”. Trong bài viết này, Sư trưởng Như Nguyên đã nói rõ về vai trò phát pháo đầu tiên của Sư trưởng Như Thanh trong việc tổ chức Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm Di vào ngày 08/02/1987. Ni trưởng Như Nguyên đã nói về lý do vì sao Sư trưởng Như Thanh lựa chọn ngày này: “Lịch sử không ghi rõ ngày Tổ tịch nhưng Ngài xuất gia vào mùa xuân nên Sư trưởng chọn ngày đó, là một ngày xuân để làm điểm nhấn. Sư trưởng cho rằng, sau tất cả chuyện chùa, cúng kiếng trong tháng giêng, chư Ni gặp nhau vào tháng hai, bàn bạc hoạt động bắt đầu cho một năm làm việc. Ngày lễ giỗ Tổ được tổ chức vào mùa xuân, là dịp đầu năm để sách tấn các thế hệ Ni hậu bối tiến tu đạo nghiệp, noi gương các bậc cao Đức Ni tiền bối lập hạnh, lập nghiệp, hướng Tổ tìm Tông, kế thừa đạo mạch, tự lợi, lợi tha.”(1)
Ni trưởng Như Nguyên chia sẻ thêm: “Vào năm 1985, Sư trưởng (Như Thanh) đã trực tiếp chỉ đạo thiết kế tô tượng chuẩn bị cho Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm. Năm 1986 bắt đầu quá trình đúc tượng, đến năm 1987 thì tượng hoàn thành. Lễ tôn tượng diễn ra vào dịp Lễ Giỗ Tổ đầu tiên năm 1987. Trong thời gian làm tượng, trưởng thường xuyên qua chùa Từ Nghiêm chỉ đạo, chú ý sửa chữa từng chi tiết, khi thì sửa má, khi thì sửa mũi, sao cho gương mặt của Tổ phù hợp với người châu Á mà vẫn không mất đi nét riêng của người phụ nữ Ấn Độ.”
Tại Lễ Giỗ Tổ đầu tiên, Sư trưởng Như Thanh đã trực tiếp chủ trì, khai mạc Lễ. Buổi Lễ kéo dài một ngày. Lúc đó, Lễ chưa có sự tham gia đông đảo của chư Ni các tỉnh như bây giờ, chư Ni các tỉnh chỉ về lác đác, một phần vì điều kiện đất nước khi đó còn khó khăn, một phần vì số lượng chư Ni còn ít. Sư trưởng (Như Thanh) là người trực tiếp lo tất cả nội dung, chương trình cũng như hình thức tổ chức Lễ, bao gồm:

  1. Phỏng vấn Sư trưởng Như Nguyên.
 

thư mời, trang trí, ăn uống… Khách mời lúc này cũng có giới hạn, bao gồm: Ban Trị sự Thành hội HT. Thiện Hào; Ni bộ Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận như Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Sa Đéc, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau. Lễ Giỗ Tổ đầu tiên có sự tham dự của NT. Như Xuân, NT. Như Nguyệt (Từ Nghiêm), NT. Như Thủy (Pháp Võ), NT. Hạnh Ngọc (Ban Nghi lễ). Người chủ lễ đầu tiên là NT. Như Hoa (Chùa Mai Sơn) - một vị chuyên làm chủ lễ, có giọng rất hay. Quý Ni trưởng kể trên chính những nhân chứng - những người đã có mặt tại Lễ Giỗ Tổ năm đó.
Lễ Giỗ Tổ đầu tiên tuy chưa được lớn như bây giờ nhưng cũng rất có chiều sâu về tâm linh, có tinh thần về nguồn, về tổ, khiến cho ai tham dự cũng phải xúc động. Đặc biệt, chương trình và nội dung giới thiệu về Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm lần đầu tiên cũng đã được đăng trên tờ “Hoa Đàm” của Sư trưởng. Hôm nay, con thấy vinh dự và tự hào khi được kế thừa Đặc san “Hoa Đàm” của Sư trưởng. Trong mấy năm gần đây, Đặc san “Hoa Đàm” đã rất tích cực phục vụ cho công tác truyền thông của Đại Lễ Giỗ Tổ. Nhân dịp này, con xin được bày tỏ sự tri ân sâu sắc đến Sư trưởng Như Như, vì sự ủng hộ quý báu của Sư trưởng đối với Đặc san Hoa Đàm trong thời gian qua.
Từ năm 1987, mỗi năm Sư trưởng đều tổ chức Giỗ Tổ cho đến khi viên tịch vào năm 1999. Hàng năm, sau khi xong Lễ, Sư trưởng thường đưa Ni bộ về thăm nhà ở ấp Tăng Nhơn Phú, (Thủ Đức) thắp hương Lễ Tổ ở chùa Phước Tường, một mặt sắp xếp hội họp Phật sự Ni giới vào buổi tối, nhằm củng cố tình đoàn kết trong Ni giới, giúp đỡ Ni giới phát triển trên con đường tu học và từ thiện xã hội.
Sau khi Sư trưởng viên tịch, từ năm 1999 đến năm 2014, chùa Từ Nghiêm và Ni giới Thành phố tiếp tục duy trì việc tổ chức Lễ Giỗ Tổ, chư Ni tỉnh nào nhớ thì tự giác về dự. Vì vậy, không khí Lễ Giỗ Tổ có phần trầm lắng.
    • Giai đoạn từ năm 2014 đến nay
Từ năm 2014 đến nay, có lẽ con không cần nói, quý Sư và chư Ni cũng thấy được Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm Di đã trở thành một Đại lễ, một
 

Lễ hội của Ni giới Việt Nam. Chúng con hôm nay vô cùng biết ơn Ni trưởng Như Như, người đã đưa ra sáng kiến các tỉnh luân phiên đăng cai tổ chức Đại Lễ vào năm 2014. Trong một cuộc họp Ni giới Trung ương năm 2014, Ni trưởng Như Như đã đưa ra đề nghị tổ chức Lễ Giỗ Tổ luân phiên và Ni trưởng phát tâm làm đầu tiên. Tâm nguyện của Sư trưởng là làm lan rộng phong trào tổ chức Lễ Giỗ Tổ tại các tỉnh, làm cho mỗi tỉnh ý thức và thấy được giá trị của Đại lễ, giống như Trường Kiều Đàm được lan rộng nên nhiều người mới biết đến.
Từ năm 2014 đến nay, Đại Lễ Giỗ Tổ được tổ chức long trọng hàng năm, với quy mô năm sau lớn hơn năm trước. Nếu như vào những Lễ Giỗ Tổ đầu tiên chỉ có khoảng 100 người thì hiện nay số lượng đã tăng lên khoảng 2-3 ngàn người (gấp 20, 30 lần).
Đặc biệt, nội dung của Lễ Giỗ Tổ cũng đã được mở rộng. Bắt đầu từ Đại Lễ giỗ Tổ ở Bình Dương năm 2017, các hội thảo khoa học đã được tổ chức nhằm tạo điều kiện cho chư Ni chia sẻ về tri thức Phật học nói chung, về Ni giới nói riêng, qua đó giúp khai mở trí tuệ cho chư Ni, khơi nguồn cảm hứng cho chư Ni đóng góp nhiều hơn cho Đạo pháp và xã hội. Đến nay, một số hội thảo khoa học đã được tổ chức thành công, như Hội thảo ở Bình Dương về chủ đề: “Lịch sử hình thành và phát triển Ni giới”; Hội thảo ở Đồng Nai về “Ni giới việt Nam là mạch sống của dân tộc”. Chất lượng của các hội thảo ngày càng được nâng cao, yêu cầu đối với các bài tham luận ngày càng nghiêm túc hơn, khoa học hơn. Tại Hội thảo ở Tiền Giang lần này còn có thêm một bước trong quá trình lựa chọn tham luận, đó là bước phản biện, nhằm lựa chọn những tham luận tốt nhất để đưa vào Hội thảo.
Giờ đây, Đại Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm Di đã trở thành một Lễ hội lớn của những người con gái của Đức Phật trên khắp cả nước ai cũng háo hức mong chờ.
Như vậy, với vai trò tiên phong của Sư trưởng Như Thanh vào năm 1987, Lễ Giỗ Tổ Kiều Đàm Di đã chính thức được tổ chức và trở thành một truyền thống tốt đẹp của Ni giới Việt Nam. Lễ Giỗ Tổ không chỉ là dịp để nhớ về Tổ mà còn là dịp để Ni giới tổ chức họp bàn công tác
 

của Ni Bộ. Đó là ý tưởng ban đầu của Sư trưởng Như Thanh. Ngọn lửa mà Sư trưởng Như Thanh thắp lên đã được truyền trao cho các thế hệ Ni hậu bối. Ngọn lửa ấy có lúc rực sáng, có lúc trầm xuống nhưng chưa bao giờ tắt lịm. Ngọn lửa ấy đã một lần nữa được thổi bùng lên nhờ tầm nhìn và sáng kiến của Chư Tôn Đức trực thuộc Phân ban Ni giới Trung ương, đặc biệt Ni trưởng Như Như. Nhân dịp này, cho phép con được dành một phút cảm niệm công đức của các bậc Ni tiền bối, chúng con nguyện “tiếp bước tiền nhân, phát huy Chánh Pháp”, giữ gìn và trao truyền ngọn lửa thiêng liêng này cho các thế hệ Ni hôm nay và mai sau.
 





 

CON ĐƯỜNG


TKN. Tuệ Đăng



Bàn tay Người từ ái Thả nhẹ trên dòng sông
Một cành sen thanh khiết Xuôi về biển mênh mông.

Mang vô số hương sen Thơm ngát đất sông Tiền Nghìn sau, nghìn sau nữa! Lan tỏa đức hạnh lành.

Nhớ một thuở xa xăm Chân trần chai sỏi đá Vạch lối vào cõi Tây
Đường xưa trắng mây ngàn.

Long lanh từng giọt nắng Sáng đẹp bước sen hồng Trời Nam ngời Phật nhật
Chánh đạo, đường thênh thang.
 







 

NI GIỚI TIỀN GIANG

HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN
TKN. Diệu Tâm



 
  1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Theo nhiều tài liệu ghi nhận, vào thời chúa Nguyễn, năm 1679, vùng đất Mỹ Tho là một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam bộ. Bấy giờ, người Minh Hương và người Việt từ miền Trung và miền Bắc, trong đó phần lớn là từ vùng Ngũ Quảng đã đến khai hoang và định cư rất đông trên vùng đất này. Chùa chiền cũng bắt đầu hình thành và chư Tổ từ đó cũng bắt đầu công cuộc hoằng pháp nơi vùng đất mới.
“Đến đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở châu Á, nhất là Phật giáo Trung Hoa, được Đại sư Thái Hư chủ xướng, Phật giáo Việt Nam cũng được khởi sắc chấn hưng. Đứng đầu phong trào này là Hòa thượng Khánh Hòa. Ngài đã đi vận động hầu hết các chùa ở Nam bộ gấp rút mở trường Phật học đào tạo Tăng tài. Thế là lớp Phật học ngắn hạn được ra đời mang tên “Phật học Liên xã” được tổ chức lưu động ở các chùa: Long Phước (Trà Ôn), Long Phước (Trà Vinh), Viên Giác (Bến Tre),... Số lượng Tăng sinh theo học lên đến cả trăm vị.”(1)
Cùng với tinh thần đó, quý Ni trưởng, Ni sư tỉnh nhà đã không ngại khó khăn gian khổ dấn thân cầu đạo và hoằng truyền Phật pháp. Với sự



1.   Tài liệu Hội thảo Khoa học: Nhiều tác giả - Hội thảo khoa học 300 năm Phật giáo Gia Định - Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
 

chỉ dạy, trợ duyên của chư Tôn đức Đại Tăng, các Ni trường Phật học Gia giáo, trường Hương (khóa Hạ), trường Kỳ (Đại Giới đàn),… dành cho chư Ni trong tỉnh và khu vực bắt đầu hình thành. Tuy lúc sơ khai này, Ni giới Tiền Giang chưa hình thành rõ nét nhưng đã để lại dấu ấn đặc biệt và làm nền tảng vững chắc cho Ni giới tỉnh nhà phát triển vững chãi đến ngày nay.
  1. CÁC NI TRƯỜNG ĐẦU TIÊN TẠI TIỀN GIANG
  1. Ni trường Sắc Tứ Linh Thứu
Năm 1951, một sự chuyển biến lớn, do hoàn cảnh khách quan, Hòa thượng Thích Thành Đạo đã quyết định để lại ngôi vị Trụ trì chùa Sắc Tứ Linh Thứu cho ba vị Ni trưởng đảm nhiệm: Ni trưởng Thông Huệ, Ni trưởng Như Chơn và Ni trưởng Như Nghĩa.
Từ khi ba vị Ni trưởng kế nghiệp, ngoài việc trùng tu cơ sở vật chất; quý Ni trưởng còn xây dựng nơi này thành chốn Già lam tịnh địa tu học cho Ni giới nói chung và Ni giới tỉnh Tiền Giang nói riêng.
Năm 1956, ba vị Ni trưởng đã cùng với chư Ni trưởng Ni bộ Bắc Tông mở lớp Sơ đẳng Gia giáo Phật học tại chùa Sắc Tứ Linh Thứu, có hơn 40 vị theo học. Suốt khóa học bốn năm, Ni trưởng Thích Nữ Thông Huệ đảm nhận chức vụ Giám đốc kiêm Giáo thọ sư, chăm lo sự nghiệp giáo dục đào tạo lớp Ni kế thừa ở miền Tây Nam bộ và các tỉnh lân cận. (Ni trưởng Thông Huệ cũng là một trong những vị Ni trưởng thế hệ đầu tiên thành lập Ni bộ Bắc Tông, giai đoạn đầu thập niên 50, Người đã từng đảm nhận chức vụ Trưởng ban Nghi lễ của Vụ Ni bộ).
Nơi này, nhiều lần được chư Tôn đức cho phép mở Đại Giới đàn cho chư Ni nhiều thế hệ, cũng là điểm thường xuyên mở khóa An cư tu học cho chư Ni tại Tiền Giang.
  1. Ni trường Phật Bửu
Năm 1947, được sự đồng ý của Hòa thượng Pháp Tràng, Ni trưởng Liễu Tánh đã cho xây dựng ngôi chùa Ni đầu tiên tại Tiền Giang - đó là chùa Phật Bửu Ni, huyện Cai Lậy (nay là thị xã Cai Lậy).
 

Năm 1957, với cương vị là Phó Vụ trưởng Ni bộ Trung ương kiêm Trưởng Ni bộ tỉnh Định Tường, Ni trưởng đã mở trường Sơ đẳng Phật học tại chùa Phật Bửu Ni, có hơn 40 chư Ni theo học.
Năm 1968, Ni trưởng được đề cử làm Vụ trưởng Ni bộ Bắc Tông kiêm Trưởng ban Từ thiện Xã hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Dưới sự hướng dẫn và chỉ dạy tận tụy của Ni trưởng, nhiều chư Ni đã được đào tạo trở thành bậc hữu ích cho Đạo pháp và chúng sinh đến hôm nay.
  1. Ni trường Phổ Đức
Năm 1964, nhị vị Ni trưởng Thích Nữ Như Ngộ và Thích Nữ Trí Nguyện đã cùng với bổn đạo quyết định dời chùa Phổ Đức từ đường Trần Hưng Đạo về số 40 Ấp Bắc, bên dòng sông Bảo Định như vị trí hiện nay.
Song song với thời gian làm chùa, quý Ni trưởng cũng bắt đầu công việc tiếp Tăng độ chúng. Với uy đức và tâm độ lượng của hai Ni trưởng, rất nhiều chư Ni gần xa lần lượt tìm đến cầu Pháp và nương theo xuất gia tu học. Ni trường Phổ Đức hình thành từ đây. Ni trưởng Thích Nữ Như Hảo cũng tìm đến cầu pháp và trợ giúp Phật sự tại chùa Phổ Đức từ lúc ban sơ này.
Năm 1990, trường Trung cấp Phật học tỉnh Tiền Giang được thành lập, chư Tôn đức BTS đã quyết định chọn chùa Phổ Đức làm nơi nội trú cho chư Ni theo học tại trường. Từ đó đến nay, đã qua 7 khóa học, Ni trường Phổ Đức đã trở thành điểm tựa thân thương của chư Ni sinh theo học các chương trình Phật học tại tỉnh nhà và Ni trường này cũng không còn xa lạ đối với những ai muốn tìm hiểu về Phật giáo Tiền Giang.
  1. PHÂN BAN NI GIỚI TỈNH TIỀN GIANG
  1. Phân ban Ni giới Tiền Giang nhiệm kỳ 1 (2009 - 2012)
Ngay từ khi Phân ban Ni giới Trung ương trực thuộc Ban Tăng sự Trung ương GHPGVN được thành lập trong nhiệm kỳ VI, vào tháng 3 năm 2009, Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm được cơ cấu là Ủy viên
 

Phân ban Ni giới Trung ương trong nhiệm kỳ đầu, với tâm thao thức lo cho tương lai Ni giới Tiền Giang, Ni trưởng đã cố gắng vận động chư Ni thành lập Phân ban Ni giới tỉnh nhà, được sự cho phép của chư Tôn đức Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Tiền Giang, Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang đã được thành lập.
Nhiệm kỳ đầu, Phân ban Ni giới 27 thành viên, do Ni trưởng Thích Nữ Như Bình làm Trưởng Phân ban. Quý Ni trưởng, Ni thành viên Phân ban Ni giới đều tham gia vào các công tác của Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Tiền Giang địa phương hoạt động rất tích cực, được sự ghi nhận của chư Tôn đức BTS các ban ngành Nhà nước. Do đây giai đoạn mới thành lập nên trong hoạt động chung chưa được đồng bộ.
  1. Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 2 (2012 - 2017)
Ở nhiệm kỳ II, Ni trưởng Thích Nữ Như Bình vẫn đảm nhận chức vụ Trưởng Phân ban. Thành viên Phân ban lúc này có 29 vị.
Tuy nhiên, do tuổi cao sức yếu nên phần nhiều công việc của Ban đều được Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm đảm trách, Tuy vậy, Ni trưởng Thích Nữ Như Bình vẫn từng bước theo sát với công việc của đại chúng. Nhất là về công tác An cư kiết hạ, Ni trưởng Thích Nữ Như Bình cả cuộc đời gắn liền với đại chúng tại mỗi khóa An cư trong tỉnh.
Những thành tựu của Phân ban Ni giới Tiền Giang nhiệm kỳ này cũng đạt nhiều kết quả tốt đẹp, nhất là công tác tổ chức sự kiện, tham gia hoạt động tích cực vào các ngành như: Giáo dục, Hoằng pháp và đặc biệt là Từ thiện xã hội.
  1. Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 3 (2017 - 2022)
Chứng minh Phân ban có 06 vị. 29 thành viên giữ các chức vụ cụ thể trong Phân ban.
Trong nhiệm kỳ này, Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm đảm nhận chức vụ Trưởng Phân ban, thay cho Ni trưởng Thích nữ Như Bình tuổi đã cao.
Với vai trò mới, lại là người có tài lãnh đạo, quán xuyến công việc, Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm từng bước kiện toàn nhân sự và phân
 

công công việc cho nhân sự rất cụ thể, các hoạt động của Phân ban từ đó cũng khởi sắc và trôi chảy nhịp nhàng.
Nhiều vị Ni trong Phân ban của nhiệm kỳ này hiện đang đảm nhận chức vụ của BTS GHPGVN tỉnh Tiền Giang cũng như BTS các huyện thị, thành và hoạt động rất có hiệu quả.
  1. . KẾT LUẬN
Như vậy, Ni giới Tiền Giang có mặt từ rất sớm. Ngay từ buổi đầu, qua sự tu tập và làm việc, chư Ni đã tạo được niềm tin lớn với chư Tôn đức Tăng, quý lãnh đạo chính quyền và tín đồ Phật tử.
Xuyên suốt từ khi Giáo hội hình thành cho đến ngày thành lập, chư Ni trưởng tiền bối luôn có mặt và nhiệt thành đóng góp công sức, trí tuệ cùng với chư Tôn đức Tăng hoàn thành công cuộc hoằng dương Phật pháp tại tỉnh nhà.
Điều đáng trân quý và hạnh phúc đối với Ni giới tỉnh nhà là dù ở thời đại nào chư Tôn đức Ban Trị sự và Đại Tăng đều xem chư Ni như một phần tử tích cực không thể thiếu trong Tăng đoàn, quý Ngài đã không hề có sự phân biệt giới tính.
Sự chuyển giao trách nhiệm Trụ trì ngôi chùa Sắc Tứ Linh Thứu của Hòa thượng Thành Đạo cho ba Ni trưởng; Sự khuyến khích cho Ni trưởng Liễu Tánh xây chùa Ni và mở Ni trường của Hòa thượng Pháp Tràng; Nhất là từ khi Giáo hội Phật giáo tỉnh nhà được thành lập, sự có mặt của quý Ni trưởng, Ni sư trong BTS từ những nhiệm kỳ đầu như: Ni trưởng Thích Nữ Như Hảo, Ni trưởng Thích Nữ Như Quang; cho đến ngày nay như: Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nghiêm, Ni sư Thích Nữ Huệ Năng, Ni sư Thích Nữ Tuyết Liên, Ni sư Thích Nữ Minh Nhẫn, Ni sư Thích Nữ Tuệ Minh, Sư cô Thích Nữ Diệu Tâm,… Với những chức vụ đã đảm nhận và thành quả của chư Ni đã làm được trong Giáo hội, đủ để khẳng định sự có mặt của Ni giới Tiền Giang là cần thiết, là tất yếu, góp phần không nhỏ vào việc ươm mầm, vun bón cho vườn hoa Phật pháp, xây dựng Phật giáo tỉnh nhà ngày càng vững mạnh và chung sức với chánh quyền trong công cuộc xây dựng đất nước, quê hương.
 

Ôn lại đôi nét về Ni giới Tiền Giang để làm nền tảng soi mình trên con đường tu tập và phụng đạo. Cũng là để vững niềm tin cho các hoạt động Phật sự tiếp theo, góp phần làm cho Phật giáo nói chung, Phật giáo Tiền Giang và Ni giới Tiền Giang nói riêng ngày càng phát triển vững mạnh với thời đại.
 







 

SỰ NGHIỆP KẾ THỪA

NƠI TỔ ĐÌNH SẮC TỨ LINH THỨU
TKN. Trung Nhã - TKN. Trung Hữu



N
 
ói đến Phật giáo tỉnh Tiền Giang không thể không nhắc đến chùa Sắc Tứ Linh Thứu. Và khi nhắc đến chùa Sắc Tứ Linh Thứukhông thể không nghĩ đến Ni trưởng Thích Nữ Như Chơn. Năm nay, Tỉnh hội Phật giáoTiền Giang hân hạnh tổ chức Lễ tưởng niệm thường niên đối với Thánh Tổ Đại Ái Đạo. Lễ tưởng niệm cũng là dịp để tôn vinh chư Tiền bối Ni mà sự tu hành và cống hiến của quý Ngài, xứng đáng là tấm gương sáng ngời lưu danh muôn thuở.
Ni trưởng Như Chơn, tự Diệu Chơn, hiệu Trí Hiển, húy Nhựt Hương, sinh năm 1917 tại làng Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Người là đệ tử đắc pháp với Sư Tổ Hoằng Khai Kiểu Đạo, hiệu Thiện Minh Hồng Khê chùa Hội Phước - Tân Thạch, Bến Tre. Thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41.
Thân sinh của Ni trưởng là cụ ông Nguyễn Văn Thiện, thân mẫu là cụ bà Đoàn Thị Nga, thuộc gia đình trung lưu, đạo đức. Là con gái út trong một gia đình có 10 anh em, nên Ni trưởng rất được cha mẹ thương yêu chiều chuộng. Nhà ở gần chùa Sắc Tứ Linh Thứu nên Ni trưởng thường theo mẹ đến chùa lễ Phật trong những ngày rằm vía. Do vậy, dần dần Ni trưởng đã mến mộ Phật pháp. Với lòng kính tin Tam bảo, Người thường xuyên đến chùa công quả, tụng kinh để kết duyên lành. Năm 16 tuổi thọ Tam quy Ngũ giới với Ngài Chơn Huệ trụ trì chùa Sắc Tứ Linh Thứu.
 

Năm 1935, tròn 18 tuổi, cha mẹ muốn cho lập gia thất, nhưng Người đã từ chối xin được xuất gia. Được cha mẹ bằng lòng, Ni trưởng đến chùa Bảo Tàng, Tầm Vu, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, thế phát xuất gia. Sau khi xuất gia, Ni trưởng vân du tầm học đạo. Hễ nghe nơi nào mở