NGƯỜI LÁI ĐÒ THẦM LẶNG

Chủ nhật - 10/03/2019 05:42
NGƯỜI LÁI ĐÒ THẦM LẶNG
Nguyễn Phúc Nguyên
NGƯỜI LÁI ĐÒ THẦM LẶNG
Nguyễn Phúc Nguyên
 
“Nước sông Tiền in hình người lặng lẽ
Mái chèo khua, ông lái nhẹ nhàng lay
Bao lữ khách đi về trên bến vắng
Sang sông rồi ai nhớ bến đò xưa”.
Vâng, nếu ai đã từng một lần đọc qua trang sử vàng son của Phật giáo[1]Tiền Giang, hẳn đều biết đến Ni trường Phổ Đức. Một ngôi chùa cổ kính nằm giữa lòng thành phố Mỹ Tho và nghiêng mình in bóng bên dòng sông Bảo Định – một dòng sông hiền hòa xanh biếc, tháng ngày âm thầm tuôn chảy, luôn bồi đắp phù sa cho quê hương thêm giàu đẹp. Hòa với tiếng chuông chiều đồng vọng ngân vang, khiến bao trái tim của người con xa xứ, thổn thức nhớ về quê hương, nhớ về hình bóng Thầy - Người lái đò tận tụy, đêm ngày lặng lẽ đưa bao lữ khách sang sông.
“Lớp lớp trò đi, Thầy còn ở lại
Hỡi tháng ngày xin dừng bước đừng trôi.
Cho chúng con cúi đầu lần nữa
Gọi tiếng “Thầy” với tất cả tin yêu”
          Trong phạm vi bài viết này, chúng con sơ lược đôi nét về sự nghiệp tiếp nối, kế thừa, phát huy truyền thống Tổ Sư, công hạnh và hình ảnh của người lái đò nơi Ni trường Phổ Đức. Sự hy sinh thầm lặng của Người với Ni sinh Trường Cao Trung Phật học Tiền Giang.
1. SỰ NGHIỆP KẾ THỪA, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG GIÁO DỤC CỦA CHƯ TIỀN BỐI TỔ SƯ
Tuy không trực tiếp đứng trên bục giảng với bảng đen, phấn trắng nhưng trong tâm khảm của mỗi Ni sinh nơi đây, hình ảnh quý Ngài luôn hiển hiện với tên gọi thân thương, kính quý “Thầy Phổ Đức”. Người Thầy của ngày ấy và bây giờ luôn mang trong mình tâm tình của “Ông lái đò” suốt một đời thầm lặng, nhẫn nại giữa vô vàn sóng cuộn, thác ghềnh. Nơi bến sông tri thức, quý Ngài không chỉ miệt mài lo công việc đưa khách sang sông mà còn trang trải cuộc đời mình để đắp xây một khung trời bình yên cho hàng trăm Ni trẻ nương náu.
Ni trường Phổ Đức – tên gọi thân thương, chan chứa ân tình của một thời cắp sách đến trường. Nơi đây đã lưu giữ khung trời bình yên, xán lạn của bao thế hệ Ni trẻ từ Khóa I cho đến nay là Khóa VII theo học tại Trường Trung cấp Phật học Tiền Giang.
Ni trường Phổ Đức trải qua các thế hệ truyền thừa từ vị khai sơn là Sư bà Như Ngộ đến đệ tử - Ni trưởng Như Hảo và hiện nay là đệ tôn – Ni sư Huệ Năng. Nhằm thắp sáng con đường truyền đăng tục diệm, thừa kế chí nguyện Tổ Thầy, phát huy chánh pháp, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức. Năm 2012, Ni sư Huệ Năng trùng tu chùa Phổ Đức, nhằm đáp ứng nhu cầu tu học của đại chúng xa gần.
Chùa Phổ Đức được thành lập trong những ngày bom rơi lửa đạn của năm 1964, trải qua bao độ thăng trầm  lịch sử, ngày nay chùa Phổ Đức khoác trên mình vẻ uy nghiêm, kiên cố của một ngôi già lam trầm mặc nằm giữa lòng Thành phố Mỹ Tho trẻ trung, năng động. Về nơi đây, được lắng nghe giai thoại về những bậc Ni lưu xuất trần thượng sĩ, đã dày công kiến tạo ngôi chùa Phổ Đức (Sư bà Như Ngộ và Sư bà Trí Nguyện) lòng người cảm nghe một niềm xúc động, cung kính dâng lên tự đáy lòng.
Có thể nói, Sư bà Như Ngộ[2] là bậc thạch trụ, là cây đại thọ che mát chốn Thiền môn.
Tiếp nối truyền thống của Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo, Sư bà đã hy sinh cả cuộc đời cho đạo pháp, cho tha nhân. Với hạnh nguyện lợi sanh, Sư bà tiếp Tăng độ chúng, người người quy hướng ngôi Tam Bảo, đạo tràng Phật tử ngày càng đông. Hàng đệ tử xuất gia của Người hơn 500 vị, đi hoằng hóa khắp nơi và còn có nhiều vị đang phục vụ cho Giáo hội tỉnh nhà.
Cả cuộc đời Sư bà 98 năm với 78 tuổi đạo, Ngài luôn hết lòng cống hiến cho Giáo hội, cho sự nghiệp giáo dục đào tạo Ni tài. Sau khi đất nước được thống nhất, Sư bà giao chùa Phổ Đức cho đệ tử là Ni trưởng Như Hảo vào năm 1969. Người trở về Long An xiển dương đạo tràng Thiên Phước. Nơi đất Long An, Sư bà lại tiếp tục hỗ trợ chư Tôn đức trong Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo mở Ni trường cho chư Ni tu học tại tỉnh nhà.
Từ khi tiếp nhận trụ trì, Ni trưởng Như Hảo từng bước trùng tu bổn tự và đảm đương trách nhiệm tiếp tăng độ chúng, Người còn tham gia vào các công tác quan trọng của Giáo Hội ngay buổi đầu được thành lập. Trong nhiệm kỳ I (1985 – 1988), Ni trưởng được giao chức vụ Ủy viên Ban Kinh tế tài chánh của Tỉnh hội. Đến nhiệm kỳ lần thứ II và III (1989 – 1995), Ni trưởng nhận nhiệm vụ Trưởng ban Hướng dẫn nam nữ Phật tử.
Đặc biệt, trong giai đoạn này, được sự tín nhiệm của Giáo hội, chùa Phổ Đức được chọn làm nơi nội trú cho Ni sinh theo học Trường Cơ bản Phật học – Khóa I. Ni trưởng còn nhận thêm trách nhiệm là Trưởng ban Tài chánh Trường Cơ bản Phật học – Khóa II. Ttrong suốt quá trình tham gia hoạt động công tác Giáo hội, Người còn giữ trọng trách Trưởng ban Từ thiện xã hội suốt ba nhiệm kỳ…. Sau khi Ni trưởng viên tịch, Ni sư Huệ Năng được thừa kế sự nghiệp của Ân sư.
Mặc dù ngôi chùa Phổ Đức không rộng lớn nhưng đã nuôi dưỡng hàng trăm Ni chúng tu học, là tâm huyết của chư Tổ Đức Ni, cũng là kỳ vọng của Giáo hội Phật giáo Tiền Giang. Nơi đây, không chỉ đào tạo Ni sinh Trung Cấp, mà còn có Ni chúng Sơ Cấp. Và hiện nay, Giáo Hội tỉnh nhà còn mở thêm Lớp Cao đẳng Phật học nhằm tạo điều kiện cho Tăng Ni sinh tiếp tục việc học của mình. Ni trường Phổ Đức lại gánh vác thêm trọng trách.
2. CÔNG HẠNH VÀ HÌNH ẢNH NGƯỜI LÁI ĐÒ NƠI NI TRƯỜNG PHỔ ĐỨC
Nói đến hình ảnh “Người lái đò” là nói đến những bậc Thầy ngày đêm tận tụy, hết lòng vì sự nghiệp trồng Người. Trong bài viết về “Người Thầy” của Ni sư thượng Huệ hạ Thông có nói rằng: “Nói đến “Người Thầy” là ta nghĩ ngay đến nhân cách của một nhà kỹ sư tâm hồn, có một phong thái giản dị nhưng lại rất hy sinh, luôn tìm mọi cách để rèn luyện, giáo dục, đào tạo người học trò có một đức tánh, đạo đức tốt đẹp, nuôi dưỡng trí huệ cũng như truyền trao những kinh nghiệm, cách sống ở đời… Người Thầy ở học đường luôn luôn mong mỏi những người học trò thành danh ở đời, có một chỗ đứng trong xã hội. Còn đối với người Thầy nơi chốn Thiền môn thì sao? Người Thầy trong Phật pháp, ngoài việc đóng vai trò là người cha, người mẹ nuôi dưỡng đệ tử lớn khôn. Đồng thời cũng là nhà mô phạm, nuôi dưỡng tâm linh cho người đệ tử hữu dụng trên con đường hoằng pháp lợi sanh”.[3]
Tuy Ni chúng với căn cơ trình độ, tuổi tác khác nhau. Nhưng với năng lực từ bi, trí tuệ, Ni sư thượng Huệ hạ Năng – Người lái đò của Ni trường Phổ Đức hiện nay đã cảm hóa được bao trái tim non dại.
Vì thế, chúng con luôn ví Thầy như biển cả, vì bao giờ biển cũng trong xanh, hiền hòa mát dịu, âm thầm lặng lẽ, bao dung. Cũng đã bao lần tấm lòng của biển rộng mở tha thứ, khoan dung cho những đứa con lầm lạc, không tuân thủ quy luật Thiền môn.
Vì trách nhiệm nên Thầy đôi lúc nghiêm khắc, trách phạt, nhưng tất cả sự dạy dỗ của Thầy đối với Ni chúng đều xuất phát từ tấm lòng của người Mẹ, mong muốn con mình thành nhân chi mỹ.
Từng oai nghi, cử chỉ, lời nói của Thầy là một tấm gương sáng ngời cho hàng đệ tử chúng con noi theo. Cái đẹp giản dị toát ra từ cuộc sống chân chất. Từ thân giáo, khẩu giáo của Thầy đã dạy chúng con bài học về lòng từ bi, hỷ xả; sự bình đẳng và hạnh khiêm cung.
Thầy thương đại chúng không thiên vị, không phân biệt là người miền nào, là đệ tử của ai hay đệ tử của Thầy. Tất cả đều bình đẳng, ai có công thì thưởng, ai có tội thì phạt. Thầy luôn lắng nghe và luôn thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của Ni chúng. Bất cứ ai có chí cầu tiến, tu học, hành trì đúng Chánh Pháp, đều được Thầy dạy dỗ tận tình. Thầy thường nói với Đại chúng rằng: “Nếu Thầy cư xử không công bằng với các con thì có Chư Phật, Chư Thiên công bằng với các con”.
Thấy chúng làm việc nhọc Thầy rất thương, mỗi sáng Thầy đều xuống chấp tác, làm việc cùng đại chúng. Đêm đêm đến giờ chỉ tịnh, trong khi Đại chúng đều yên giấc Thầy vẫn âm thầm lặng lẽ đến thăm viếng từng liêu phòng. Vì sợ các con giải đãi không lo tu hành, khuya nào Thầy cũng đi tuần kiểm tra các con có đi công phu đầy đủ không? Thật xúc động làm sao tình thương bao la vô bờ bến của Thầy. Có hôm, Thầy bắt gặp chú tiểu vì tuổi còn nhỏ mê ngủ, không chịu thức dậy công phu, Thầy đến bên nhẹ nhàng gọi em thức dậy.
Theo năm tháng nắng mưa, sương gió đã bám trên đôi vai gầy của Thầy. Nhưng có ai biết được trong dáng thân gầy ấy là cả tấm lòng rộng lớn, thương yêu Ni chúng.
Thầy thường sách tấn, nhắc nhở Ni trẻ chúng con rằng: “Các con còn nhỏ lắm phải siêng học siêng tu, các con là mầm non của Phật pháp, là đội ngũ kế thừa. Mai này lớn lên các con còn gánh vác công việc của Giáo hội, đi hoằng hóa làm lợi lạc cho tha nhân. Có như thế, các con mới đền ơn được công của đàn na tín thí, nhất là công ơn Thầy Tổ của mình. Thầy Tổ đã hy sinh, gánh vác hết mọi công việc cho các con được cắp sách đến trường, các con phải thật học thật tu để không phụ lòng Thầy Tổ…..”.
Ngoài việc nuôi dạy Ni chúng, Thầy còn giữ những trọng trách quan trọng trong Giáo hội:
 - Phó Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tiền Giang
 - Trưởng ban Kinh tế Tài chánh Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tiền Giang
 - Phó thường trực Phân ban Ni giới tỉnh Tiền Giang
Vì hạnh nguyện lợi tha, thương cho những mãnh đời bất hạnh. Mỗi năm Thầy đều tổ chức những chuyến đi từ thiện giúp đỡ cho những dân tộc thiểu số nghèo đói, khó khăn. Và cùng với Giáo hội Tỉnh nhà đi cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt, vận động Ni chúng Phổ Đức gây quỹ để xây nhà tình thương, tình nghĩa…
Đức hy sinh của Thầy thật cao quý biết dường nào. Bao nhiêu việc làm của Thầy đều hướng về Ni chúng, thật xứng danh “Bậc Thầy mẫu mực” của chúng con.
Hạnh nguyện cao cả và lòng từ bi vô hạn của Thầy, chúng con không thể dùng bút mực hay ngôn từ nào để diễn tả hết được. Chúng con nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho Thầy được nhiều sức khỏe để tiếp tục hun đúc, đào tạo và dẫn dắt bao thế hệ trẻ nữa thành người hữu ích cho Phật Pháp. Rồi mai đây, chúng con cũng phải chấp cánh trên vạn nẻo đường, chắc chúng con sẽ gặp rất nhiều chông gai cách trở. Những lúc ấy, chúng con sẽ nhớ về Thầy, nhớ những lời dạy của Thầy để làm hành trang cho chúng con tiến tu trên bước đường đạo nghiệp.
Thời gian có thể làm phai nhạt và chôn vùi tất cả nhưng không thể xóa nhòa những ân tình Thầy đã ban cho chúng con. Những ân tình ấy đã bao bọc, dưỡng nuôi, vun trồng thế hệ Ni trẻ chúng con. Vì tương lai đạo pháp, con nguyện nổ lực tinh tấn tu hành, giữ Giới luật trang nghiêm, thúc liễm thân tâm, trau dồi Tam vô lậu học, thực hành theo lời Phật dạy để chuyển hóa những chướng duyên thành những thắng duyên trên bước đường tu học. Hầu xứng đáng là con gái của dòng họ Thích, để mai này lớn lên có đủ khả năng gánh vác phần nào Phật sự trong ngôi nhà chánh pháp của Như Lai, ngõ hầu đền đáp tứ ân trong muôn một.
“Con sẽ học và tu theo lời Thầy dạy
Dù chưa tròn nhưng đường đạo không lui.
Lời của Thầy con cố gắng rèn trui
Để lấy đó làm nấc thang tiến bước”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
HT. Thích Huệ Thông (2002), Phật giáo Tiền Giang - Lược sử và những ngôi chùa. NXB. Thành phố HCM.  
HT. Thích Huệ Minh, Công Hạnh của Ni trưởng Thích nữ Như Ngộ. Kỷ yếu Ni trưởng Thích nữ Như Ngộ (2017), NXB. Hồng Đức.
Nhiều tác giả (2015), Chùa Việt Nam, tập 1. NXB. Tôn giáo.
TS. Thích Nữ Như Nguyệt (Viên Minh) (2007), Hành Trạng Chư Ni Việt Nam, NXB. Tôn Giáo.
Ni sư Thích Nữ Huệ Thông, Người Thầy. Kỷ yếu một chặng đường (2017). NXB. Hồng Đức.
 

[1] HT. Thích Huệ Thông (2002), Phật giáo Tiền Giang - Lược sử và những ngôi chùa. NXB. Thành phố HCM, tr. 185. Nhiều tác giả (2015), Chùa Việt Nam, tập 1. NXB. Tôn giáo.
[2] HT. Thích Huệ Minh, Công Hạnh của Ni trưởng Thích nữ Như Ngộ. Kỷ yếu Ni trưởng Thích nữ Như Ngộ (2017), NXB. Hồng Đức, tr.65
[3] Ni sư Thích Nữ Huệ Thông, Người Thầy. Kỷ yếu một chặng đường (2017). NXB. Hồng Đức, tr. 58-59

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây