NGÀN NĂM MÂY TRẮNG

Chủ nhật - 10/03/2019 06:47
NGÀN NĂM MÂY TRẮNG
(Ni Trưởng thượng Như hạ Ngộ 1918 - 2016)
Bảo Giác
NGÀN NĂM MÂY TRẮNG
(Ni Trưởng thượng Như hạ Ngộ 1918 - 2016)
Bảo Giác
1. TỔNG QUAN
Theo dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam, hình ảnh của chư Tôn đức Ni được lưu lại trong trang sử Ni bộ Bắc Tông hiếm hoi như vài vì sao trên bầu trời đêm mênh mông cao rộng. Cuộc đời hành đạo của Ni trưởng Thích Nữ Như Ngộ (đầu thế kỷ XX) thênh thang như áng mây ngàn lặng lẽ trôi trên bầu trời Sắc Không bất nhị để lại cho đời Tu sĩ những vần thơ kiệt tác, cho người mộ đạo một niềm tin chân thật về Tam Bảo.
Ni trưởng là bậc Ni lưu hiền hòa, khiêm cung bình dị, đạo hạnh thanh cao. Tư liệu về Người không lưu lại bằng ngôn từ, văn bản nhưng được họa thành bức tranh hoàn mỹ theo chuỗi thời gian một đời người… Từng bước chân Người đi qua nơi nào, nơi đó thấm đậm tình đạo vị:
Phổ Đức Tiền Giang hương đạo tỏa
Thiên Phước Long An tịnh nghiệp thành.
Ni trưởng pháp danh thượng Diệu hạ Ngộ, húy Nhựt Viên, thế danh Lê Thị Nên, sinh năm 1918 tại xã Khánh Hậu, thị xã Tân An, tỉnh Long An, (nay là phường Tân Khánh, TP. Tân An, tỉnh Long An) là đệ tử của Sư Tổ Pháp Long, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42.
Ni trưởng xuất gia tu học tại Tiền Giang, người khai sáng ngôi chùa Phổ Đức (nay là điểm nội trú của Ni sinh Trường Trung cấp Phật học Tiền Giang). Ngài là tấm gương sáng cho hàng hậu học noi theo về hạnh đức tu hành, mến mộ thiền gia, hướng tâm Tịnh Độ, chuyên niệm Phật A Di Đà. Với hạnh nguyện lợi tha, làm người nương tựa cho chúng Ni, Ni trưởng luôn sẵn lòng bao dung che chở, bình đẳng không phân biệt môn đồ là đệ tử hay y chỉ. Với tự thân, Ngài thường khắc kỷ, lấy Giới luật làm thầy. Bước chân vân du tham học khắp mọi nơi không màng khó nhọc, chỉ mong sao lĩnh hội yếu nghĩa đạo mầu soi sáng tâm tư, độ người đi đúng hướng.
Một hành trạng, một tâm tư sáng ngời như ngọc bích của Ni trưởng nếu không được lưu lại trên trang sử vàng Ni bộ, e rằng thời gian làm mai một, người sau biết lấy đâu làm khuôn vàng thước ngọc sửa mình. Do vậy, Ni giới Long An trân trọng kính lời khắc họa cuộc hành trình tu học cao đẹp của bậc Thầy khả kính.
2. QUÁ TRÌNH XUẤT GIA TU HỌC
2.1. Nhân duyên xuất gia
Ni trưởng xuất thân trong một gia đình trung lưu thấm nhuần Nho giáo và chịu nhiều ảnh hưởng Phật giáo, là người con thứ tư trong gia đình có 7 anh em, (2 trai, 5 gái). Tất cả đều là Phật tử thuần thành kính tin Tam Bảo.
Năm 1925, thân phụ của Ni trưởng[1] phát tâm xây cất một ngôi chùa nhỏ bằng mái lá am tranh tại quê nhà[2] đặt tên là Thiên Phước và cúng dường chùa một mẫu ruộng. Ngôi chùa hoàn thành, ông cụ ân cần thỉnh Hòa thượng Pháp Long về Trụ trì. Do nhân duyên ấy, khi còn bé, Ni trưởng thường hay lui tới chùa lễ Phật, tụng Kinh, chí thành nghe Thầy giảng pháp và thấm nhuần sâu đậm giáo lý Phật Đà.
Tuổi thơ của Ni trưởng là những chuỗi ngày êm đềm bình lặng, cho đến năm 12 tuổi, khi thân mẫu qua đời, trước cuộc phân ly sanh tử, ý niệm ly trần được ấp ủ. Người quyết định xuất gia đầu Phật với Sư cụ Pháp Long chùa Thiên Phước tỉnh Long An với pháp danh là Diệu Ngộ (năm 14 tuổi)
Từ đó:
Đường đạo mầu thênh thang mở lối
Hạnh hiền nhân sớm tối chuyên cần
Tâm tư chuyên niệm ly trần
Hoằng dương Chánh pháp trọn phần hiếu ân.
2.2. Hành trình du phương học đạo
Sau khi xuất gia, Người luôn mang ý niệm “tầm sư học đạo” và được Tôn Sư gởi đến chùa Hội Phước ở Bến Tre để tham học với Hòa thượng Hoằng Khai[3]. Năm 1938, Ni trưởng trở về chùa Thiên Phước dự khóa An cư kiết hạ đầu tiên[4]. Năm đó, Hòa thượng Trụ trì mở Trường Hương, Tăng Ni đến học khá đông. Tất cả đều thọ giáo Sư cụ Khánh Anh học các Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Sa Di Luật Giải,… Chư Ni có Ni trưởng Bảo An là bạn đồng học cùng nhiều Ni trưởng khác, Người được cử làm tri sự, và cũng trong năm này Ni trưởng thọ đại giới tại chùa Hội Sơn (Sài Gòn). Sau khi thọ đại giới, Ni trưởng đến chùa Kim Sơn (Phú Nhuận) học Luật Tỳ kheo Ni, Phật Tổ Tam Kinh, Giáo Khoa Thơ, Kinh Thập Thiện,… và các bộ kinh căn bản do Hòa thượng Hành Trụ hướng dẫn.
Với nguyện vọng “tầm sư học đạo”, với nhiệt huyết tràn đầy của một vị Ni trẻ, Ni trưởng không quản gian lao, chẳng từ khó nhọc đã du phương tham học tam tạng Kinh điển tại các đạo tràng: Phật học Ni trường - Chùa Kim Sơn (Phú Nhuận), chùa Thiền Đức (Sài Gòn), chùa Linh Phong (Tiền Giang), chùa Kim Huê (Sa Đéc), chùa Phật Quang (Trà Ôn), chùa Bảo An (Cần Thơ), chùa Vĩnh Bửu (Bến Tre).
Đức hạnh hiền hòa, khiêm cung cẩn trọng, Ni trưởng luôn được sự thương yêu của các bậc Tôn đức Trưởng lão. Thời gian học Duy thức tại chùa Phật Quang, Bang Chang (Trà Ôn), Người được Hòa thượng Thiện Hoa cử làm Thư ký, phụ viết Kinh văn bằng chữ Hán. Tại đây, Ni trưởng còn dạy chữ Quốc ngữ cho trẻ em trong vùng.
Mặc dù thiết tha việc học Phật pháp nhưng để có đủ năng lực đạo hạnh hướng dẫn Ni chúng trên bước đường giải thoát sau này, Ni trưởng vẫn không quên hằng năm nhập thất ba tháng tư duy Giới Định Tuệ, nâng cao sự tu tập của mình. Mỗi kỳ thất, Ni trưởng đến mỗi nơi để kết tạo nhân duyên, khi thì tại quê nhà, lúc lại đến Đại Ninh, hoặc ở tại Vũng Tàu...
2.3. Phổ hóa chúng Ni
Sau nhiều năm du phương học đạo, nhân duyên độ sanh đã đến, Ni trưởng dừng chân tại Mỹ Tho, nhận lãnh mái lá am tranh do một thí chủ cúng dường tại chợ Vòng Nhỏ, thị xã Mỹ Tho đặt tên là Phổ Đức. Ni trưởng bắt đầu tiếp độ đệ tử. Năm 1965, vì biến cố đất nước, không thể phát triển đạo tràng ở nơi này, Người đã dời chùa Phổ Đức ra đường Nguyễn Tri Phương[5]. Rồi từ đó, dù đường hành đạo trải qua nhiều gian khổ nhưng với tâm nguyện cao cả của bậc đại sĩ, Ni trưởng luôn giữ vững chí nguyện gầy dựng ngôi nhà Phật pháp độ Ni và hoằng dương Chánh pháp nơi mảnh đất Mỹ Tho.
Năm 1957, Ni bộ lâm thời được thành lập, Ni trưởng được mời vào Ban Quản trị Ni bộ Bắc Tông với chức vụ Thư ký và dự khóa Đào tạo Trụ trì tại chùa Ấn Quang. Ni bộ đầu tiên được thành lập gồm những vị có tâm huyết đối với Giáo hội, và là những bậc Ni lưu giới đức kiêm ưu đi đầu trong phong trào chấn hưng Phật giáo.
Nhân duyên đã đến, năm 1958, Sư cụ Hoằng Khai chùa Thiên Phước viên tịch, Đại đức Thiện Thắng mời Ni trưởng về Long An trụ trì. Từ đó, “một kiểng hai quê”, Ni trưởng phải qua lại giữa hai ngôi chùa Phổ Đức và Thiên Phước để hướng dẫn đệ tử tu tập và làm Phật sự. Bước ngoặt mới lại bắt đầu, năm 1964, Ni trưởng trùng tu chùa Thiên Phước, để rồi sau đó mở rộng đạo tràng tiếp Ni độ chúng.
Vào thập niên 70, nhận thấy Ni chúng tại Mỹ Tho cần trao dồi kiến thức Phật pháp, Ni trưởng đích thân thỉnh quý giảng sư Trung ương và quý Thầy ở Phật học viện Huệ Nghiêm về Phổ Đức giảng dạy.
Từ nhân duyên đó (năm 1974), Ni trường Phổ Đức được mở ra để tất cả chúng Ni có nhân duyên học tập giáo pháp của Như Lai, đây là Ni trường đầu tiên trong thời kỳ chiến tranh và giữa lúc Phật pháp gặp nhiều biến cố. Thế nhưng, chiến tranh đã làm gián đoạn hoài bão của Ni trưởng, Ni trường chỉ hoạt động gần một năm thì đất nước giải phóng, Ni sinh phải giải tán.
Năm 1975, Ni trưởng ủy nhiệm trụ trì chùa Phổ Đức cho Ni sư Như Hảo, và Người trở về chùa Thiên Phước - Long An tu hành, lập đạo tràng tùy duyên tạo nhiều phương tiện tự túc nơi vùng kinh tế mới, đích thân canh tác ruộng nương. Khi mùa vụ xong thì Người lại dạy Kinh Luật cho đệ tử.
Ngày thì dãi nắng dầm sương
Đêm thâu thanh vắng chuỗi trường định tâm.
2.4. Giáo dục là sự nghiệ̣p
Năm 1989, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Long An chọn chùa Thiên Phước làm điểm hạ cho Ni chúng tỉnh Long An. Ni trường quy tụ rất đông và cũng là Ni trường đầu tiên của tỉnh nhà. Tấm lòng của Ni trưởng đối với đại chúng đầy ắp thương yêu và che chở.
Ni trưởng luôn tận tụy vì sự nghiệp giáo dục, đào tạo Ni chúng, Người đem thân thị chúng với ước mong Ni chúng sẽ tự nỗ lực rèn luyện đạo phong và sở học, đem cả trí tuệ, tâm lực phụng sự cho ngôi nhà Chánh pháp được xương minh.
Tấm lòng của Ni trưởng đối với đệ tử luôn bình đẳng, không có sự phân biệt thân sơ, vùng miền. Ngài không chỉ là người Thầy mà còn là người mẹ thứ hai của các đệ tử, dạy cho các con mình không chỉ bài học bằng văn tự mà là bài học về lòng kiên nhẫn, đức bao dung, bài học đạo đức, từ bi và trí tuệ. Ni trưởng luôn giữ chí nguyện một đời liễu sanh thoát tử và còn sáng tác nhiều bài thơ khuyến tu đại chúng.
Ni trưởng thường dạy đại chúng bằng thân giáo.Người luôn nghiêm túc trong từng cử chỉ và lời nói, hành động và các oai nghi. Từ tâm hạnh ấy, Ni trưởng được đồng đạo kính yêu, chư Tôn đức quý trọng, nên Người luôn được cung thỉnh làm Hòa thượng Ni Đàn đầu cho các Đại giới đàn trong và ngoài tỉnh Long An.
2.5. Tâm từ vô lượng
Mạch suối từ bi nhuận thấm trong tâm người tu sĩ, tình thương chan rải khắp muôn nơi. Dù bận rộn công tác giáo dục, Ni trưởng vẫn không quên công tác từ thiện xã hội. Mỗi năm vào dịp Lễ Phật đản, Vu Lan và Tết, Người thường tổ chức phát quà cho đồng bào nghèo tại địa phương, tặng tập vở, sách học, đồng phục cho các em nhỏ vào năm học mới. Người già có cơm ăn, trẻ thơ được đến trường, đó là tâm nguyện mà Người luôn ấp ủ. Cảm mến đức độ của Người, các Phật tử dù bận nhiều công việc vẫn cố gắng về chùa vào mỗi tối, vào những ngày lễ để đọc Kinh, để nhìn thấy từ dung và được lắng nghe pháp âm của bậc Thầy khả kính.
Lòng độ lượng, đức bao dung của Người đã kết thành chất liệu nuôi dưỡng tâm bình yên của bao người. Cảm khái tâm hạnh này, một Đại đức đã kính đề tặng Người bài thơ:
“Dạo gót Ta bà lưng túi vải
Bụi hồng mấy thuở bạc ca sa
Chiều nghiêng nắng đổ bên thềm thất
Không gió thơm đâu một loài hoa.”
3. LỜI KẾT
Trong suốt cuộc hành trình gần một thế kỷ tinh chuyên tu học, hành đạo lợi tha, dù gặp nhiều khó khăn gian khổ, Ni trưởng vẫn không nản chí, mà luôn tự sách tấn mình, vượt qua mọi gian lao thử thách vì mục đích “Hoằng pháp lợi sanh”. Công hạnh và bi nguyện lớn lao của Người đã soi sáng bao tâm hồn non dại của chư Ni. Người mãi là tấm gương sáng cho tất cả chúng hữu duyên.
Cuộc đời hành đạo của Người tựa như áng mây trắng chiều thu bàng bạc khắp không gian, thênh thang không cùng tận, cho đời những dòng thơ bất hủ.
Hành trình tu học và hoằng dương Phật pháp của Người đã chứng minh hiện thực:
Dù cho vật đổi sao dời
Tâm như mây trắng giữa trời Chân không.
Ngày mồng 01 tháng 9 năm Bính Thân, thuận lý vô thường, cánh Hạc đã tùy nguyện lực bay về cõi vô tung trong một buổi chiều thu, kết thúc cuộc hành trình 98 năm vân du nơi cõi thế.
Trang sử đời người đã khép lại, sự nghiệp độ sanh đã viên thành, huyễn thân tuy rời cõi Ta bà nhưng Ni trưởng mãi là áng mây che mát buổi trưa hè, là vầng trăng thanh soi đường cho thế hệ Ni chúng kế thừa, hướng đến con đường cao thượng “Tự mình thắp đuốc lên mà đi...”
Bài thơ ‘Khuyến tu”:
Giấc mộng dài khuyên ai sớm tỉnh
Cõi Ta bà tạm ở chẳng bao lâu
Mới mày xanh thoắt đã bạc đầu
Đã trải cuộc thạnh suy bỉ thới
Nhận rõ ràng cảnh vật ảo huyền
Nhìn sâu vào tánh Phật tâm linh
Luôn luôn ẩn ở nơi thân ấy
Tâm hiện tại thênh thang an lạc
Sống an nhàn giải thoát hồn nhiên
Giúp Ni chúng tĩnh tâm tu học
Để mai sau khỏi phụ ơn Thầy
Tròn bổn nguyện báo ân Đức Phật.
(Ni Trưởng thượng Như hạ Ngộ cảm tác)

 
 

[1] Cụ ông Lê Văn Thơ, pháp danh Thiện Lý, là một Nho gia, giỏi về Đông y, cũng là một Phật tử thuần thành.
[2] Xã Khánh Hậu, tỉnh Long An.
[3] Sư cụ Hoằng Khai - một bậc Trưởng lão thời bấy giờ.
[4] Hòa thượng Hoằng Khai làm Thiền chủ, Hòa thượng Khánh Anh làm Giáo thọ.
[5] Hiện nay là đường Ấp Bắc

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây