KIỆN TOÀN GIỚI LUẬT NI TRẺ TIẾP BƯỚC TIỀN NHÂN - PHÁT HUY CHÁNH PHÁP

Chủ nhật - 10/03/2019 06:22
KIỆN TOÀN GIỚI LUẬT NI TRẺ TIẾP BƯỚC TIỀN NHÂN - PHÁT HUY CHÁNH PHÁP
Quảng Không
KIỆN TOÀN GIỚI LUẬT NI TRẺ TIẾP BƯỚC TIỀN NHÂN - PHÁT HUY CHÁNH PHÁP
Quảng Không

Đức Phật dạy, thân người khó được như con rùa mù dưới đáy biển cả trăm năm mới trồi lên một lần, một bọng cây nổi trôi theo thủy triều lênh đênh không cố định, con rùa mù được chui vào bọng cây, việc ấy rất hy hữu! Ngày nay, chúng ta đã được thân người, lại trùng phùng ngôi Tam Bảo, gặp được Chánh pháp của Như Lai, được tướng viên đảnh phương bào, sống đời viễn ly phạm hạnh, chắc hẳn việc gieo nhân xuất thế không phải là ít kiếp! Như vậy, đời nay chúng ta được diễm phúc hội đủ nhân duyên thì làm sao từ nền tảng này phải phát huy Thánh chủng để đền đáp tứ ân. Muốn thế, người xuất gia phải nghiêm cẩn hành trì Giới luật.
Phàm phu sở dĩ trôi lăn trong sanh tử, lặn hụp trong biển khổ là vì họ không có hàng rào của Giới luật để bảo vệ, còn người xuất gia chúng ta đã lãnh thọ Giới pháp mà không gìn giữ, một mai mất thân người thì muôn kiếp khó gặp lại. Mười phương ba đời tất cả Chư Phật thành tựu quả Vô Thượng Chánh Đẳng Giác đều bắt đầu từ sự giữ giới, Tăng đoàn của Đức Phật thời tại thế được xem là một Giáo đoàn gương mẫu, được người thế tục hết lòng kính tin ngưỡng mộ là nhờ hai đặc tính tiêu biểu, đó là sự thanh tịnh và hòa hợp. Hai tính chất này được tồn tại trong Tăng đoàn cũng là nhờ vào sự thống nhiếp của Giới luật. Các tông chỉ của Phật pháp đều lấy Giới luật làm nền, như Ngài Lục Tổ Huệ Năng thuở xưa, khi còn là cư sĩ đã đắc pháp với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn được truyền tâm ấn và trao y bát kế thừa nhưng phải đến Hòa Thượng Ấn Tông để xuất gia và thọ giới. Đức Phật chế định Giới luật nhằm vào ba phương diện: một là sự thành tựu đạo nghiệp, hai là sự thanh tịnh, hòa hợp của Tăng đoàn, ba là tránh sự cơ hiềm của người thế tục. Một Tỳ khưu, một Tỳ khưu ni sống đúng với tinh thần Giới luật thì sẽ trở thành một bậc mô phạm đức hạnh có thể thay Phật để tuyên dương Giáo pháp. Chính vì sự nghiêm chánh và vi diệu của Giới luật mà Đức Phật đã để lại di huấn tối hậu: “ Này các Tỳ khưu! Sau khi ta diệt độ, các ông phải tôn trọng, trân kính Ba La Đề Mộc Xoa, như người đi trong đêm tối gặp đèn sáng, như người nghèo được của báu, như người bệnh được lành, như người tù được thả, như kẻ đi xa được về nhà...phải biết Giới luật là thầy của các ông”. Luật Thiện kiến nói rằng: “Dù trên thế gian này chỉ còn tồn tại năm người xuất gia giữ giới thanh tịnh thì Giáo pháp của Đức Phật vẫn còn thọ mạng lâu dài. Bởi vì số lượng năm người này có thể thực hiện việc truyền giới cụ túc. Như thế tăng đoàn sẽ được sản sinh và phát triển”. Nếu Giới luật không còn chỗ đứng trong Tăng đoàn thì tòa nhà Phật pháp sẽ sụp đổ bất cứ lúc nào. Như vậy, vận mệnh của Phật pháp là hoàn toàn tùy thuộc vào sự tồn vong của Giới luật. Cũng thế, năng lực bảo vệ cho tâm bồ đề được lớn mạnh cũng chính là hàng rào tịnh giới. Chư Tôn Túc ngày xưa ít học nhưng giới đức trang nghiêm, đạo tâm kiên cố, ý chí kiên cường đều nhờ tuyệt đối tuân thủ Giới luật, cẩn mật oai nghi, thường hành lời Phật dạy, thiết tha với đạo nghiệp, biết sợ những lỗi nhỏ, không dám trái vượt những điều giới cấm, lỡ có vi phạm đều phải y Luật mà hành sám…
Từ thuở đầu đời mới xuất gia, cho đến những giai đoạn lãnh thọ từng giới pháp để tu tập, chúng ta đều có tâm niệm khát khao, trân quý những gì mình được trao, yêu thích, say mê lý tưởng, con đường mình đã chọn. Khi được Bổn Sư cho phép đảnh thọ Giới pháp, vừa mới bước vào giới đài, ba chữ TUYỂN PHẬT TRƯỜNG đã làm rúng động cả thân tâm của giới tử, phải nghiệm xét đây là Trường thi tuyển người làm Phật, chúng ta đến lãnh thọ Giới pháp tu tập để làm Phật, tức là thực hiện để chuyển hóa những tính chất phàm phu trở thành giác ngộ, tỉnh thức. Khi ấy, sẽ có 2 tư tưởng khởi lên trong tâm của giới tử, đó là tâm niệm vừa mừng vừa sợ, mừng vì biết được con đường mình đã chọn là đúng, sẽ dẫn đến giác ngộ giải thoát, sợ là không biết mình có kham nỗi hay không, vì con đường dẫn đến Phật quả rất dài xa và đầy cam go thử thách!
Biết rõ tập khí tham, sân, si lâu đời sẽ làm cản trở việc tu tập Giới, Định, Tuệ, thế nên Quý Hòa Thượng, Quý Sư Trưởng ngày xưa cho đến thời của Thầy, sau khi lãnh thọ Giới pháp, mỗi ngày đều tranh thủ thời giờ để tụng Luật và sám hối nghiệp chướng. Mỗi năm dù Phật sự đa đoan như thế nào đi nữa, Quý Ngài dẫu có đang du phương hoằng hóa nơi nao cứ đến 3 tháng mùa mưa cũng phải trở về một trụ xứ tập trung để cấm túc an cư theo Luật Phật chế, bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 cho đến ngày 16 tháng 7 là Tự tứ. Đây là thời gian thích hợp để hàng Tỳ khưu, Tỳ khưu ni có dịp phản vọng quy chơn, trao dồi Giới, Định, Tuệ. Chư hành giả đạt được những sở chứng hay thiền tâm được tỏa sáng thường là trong chuỗi ngày vàng ngọc này. Ni viện Tịnh Nghiêm của chúng ta, từ mới phôi thai là một ngôi chùa nhỏ đơn sơ được dựng lên bằng tre lá, dù số chúng ban đầu đôi ba vị cho đến 50, 60 vị đều kiết hạ hằng năm đúng 90 ngày không thiếu. Lãnh thọ Giới pháp càng cao, càng ý thức rõ ràng trọng trách của một vị Tỳ khưu, Tỳ khưu ni – Người nắm giữ mạng mạch của Phật pháp, không những chỉ trang nghiêm giới đức cho tự thân mà phải phát huy được trí tuệ, thực hành hạnh lợi tha. Phật pháp có được xương minh và Tăng đoàn có được nâng cao giá trị hay không là do từng thành viên của Tăng thân biết trân trọng và kiện toàn Giới luật. Chính vì nghiêm trì Giới luật mà đệ tử Phật có được tâm an định, từ đó tuệ giác sẽ tỏa sáng cho cuộc đời, tạo niềm tin cho chúng sanh quy hướng Tam Bảo, từ đó họ biết lắng nghe lời Phật dạy, thực hành trong đời sống chắc chắn sẽ chấm dứt khổ đau và đạt được chân hạnh phúc.
Thời nay, tinh thần học và trì Luật của một số Ni trẻ đang xuống dốc trầm trọng, phần lớn quý vị ưa chuộng nếp sống tân tiến, quan trọng phần kiến thức, thích tự do… Biết rằng, xã hội ngày càng văn minh, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, tri thức ngày càng nâng cao, muốn bắt kịp nhịp quay của thời đại thì đòi hỏi trình độ của người đệ tử Phật cũng phải ngang bằng. Do đó, người xuất gia cũng phải trang bị kiến thức vừa đủ để sử dụng, tuy nhiên việc đó không phải là mục tiêu chính. Chớ nên lầm lẫn giữa cứu cánh và phương tiện, việc chánh yếu của người tu là đạt Đạo, tức là có được đời sống tỉnh thức, giác ngộ. Hiện nay, Ni trẻ mới xuất gia do căn lành hay với một nhân duyên nào đó nhưng phần đông chưa ý thức được lý tưởng mình đang đi là cao cả, là tối thượng, có ý nghĩa tuyệt đối trong vấn đề chấm dứt khổ đau, vĩnh viễn thoát ly sanh tử, do đó không chịu khép mình vào khuôn khổ của Giới luật, không gìn giữ kỷ cương, nề nếp của thiền gia, chỉ chạy theo việc học, đeo đuổi theo bằng cấp, học vị, rồi tùy tiện ở nhà trọ, nhà Phật tử,…  khi tốt nghiệp xong lại không chịu về Thầy Tổ để phụ giúp….mà lưu trú tại những trung tâm thành phố để tự do trong sinh hoạt… một số vị đã làm cho hàng Phật tử mất niềm tin đối với ba ngôi Phật – Pháp – Tăng. Chính vì thế trong Kinh, Đức Như Lai đã nói: “Đạo của Ta không phải do ngoại đạo hay thiên ma phá được mà do đệ tử của ta không hành trì Giới luật, giống như trùng trong thân sư tử tự ăn thịt của sư tử, chớ chẳng phải trùng ở ngoài đến ăn”. Lại có một số chư Ni trẻ ham dấn thân hướng ngoại quên đi tông chỉ của người xuất gia là phải phản quan tự kỷ, muốn cứu đời thì tâm phải có đạo, khi nội tâm chưa vững vàng, định lực chưa kiên cố mà muốn cư trần bất nhiễm, lợi lạc tha nhân thì giống như kẻ chưa biết lội mà muốn cứu người té sông, chắc chắn cả hai đều bị chết chìm. Vật chất quá sung mãn, phương tiện thông tin truyền thông quá hiện đại sẽ làm nhạt phai chí khí ban đầu của người xuất gia học đạo. Danh lợi sẽ len lỏi vào trong đời sống, có nguy cơ phá hủy đạo nghiệp của các vị.
Nếu như thuở sơ cơ vào chùa, chúng ta nguyện cúng dường cả thân tâm cho Phật pháp, tắm mình trong giới luật, khép vào trong khuôn khổ thanh qui, sống trong Đại chúng với sáu pháp hòa kính, theo thứ lớp thọ học, hoàn thiện tự thân, hằng nhớ nghĩ công việc chính của bậc thoát tục làm Tăng là nuôi đức rửa lòng, thấu rõ nguồn tâm thì chúng ta mới có thể tiếp nối Tiền Nhân, phát huy Chánh pháp. Giờ đây, chúng ta hãy cùng nhau làm sống lại hình bóng giải thoát và tinh thần hòa hợp thanh tịnh của Tăng già, một Giáo đoàn gương mẫu của nhân loại, bằng cách lật lại những trang sử vàng son của Phật Tổ, nghiền ngẫm từng bước đi, từng hành trạng của các Ngài, rồi chúng ta nương theo thực hiện. Làm sao mỗi lần chúng ta xem lại những tấm gương của Phật Tổ, chúng ta cảm nghe chấn động cả thân tâm, một niềm kính ngưỡng vô biên dâng tràn trong huyết quảng. Khi xưa, Đức Đạo Sư của chúng ta chối bỏ ngai vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, quyền uy tột đỉnh, vào rừng sâu để tầm cầu chân lý, vượt qua trăm ngàn gian khó và thử thách của thân, tâm, ngoại cảnh, đạt đến sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, Thần Quang Nhị Tổ quỳ trong mưa tuyết, chặt tay để cầu pháp, Lục Tổ mang đá trên lưng để giã gạo, Kiều Đàm Di Mẫu, Công nương Da Du Đà La cùng 500 Quận chúa đài các giả từ nhung lụa giàu sang, đầu trần chân đất, gối tuyết nằm sương, dãi dầu mưa nắng, vượt bao nhiêu dặm đường đến nỗi chân trần loét máu, thân hình tiều tụy, sức lực kiệt quệ chỉ vì mong muốn được xuất gia sống đời phạm hạnh cao viễn, Ngài Hiếp Tôn Giả ba mươi năm lưng chẳng dính chiếu, Đức vua Trần Nhân Tông của Việt Nam nhường ngôi cho con lên non Yên Tử tu hành được đời xưng tụng là Đấng Giác Hoàng Điều Ngự…Vì đâu mà các Ngài rũ bỏ những dục lạc  của thế gian, ngay như ngôi vua chỉ xem như đôi giày rách để tìm đến con đường giác ngộ giải thoát. Phải chăng, vì lòng bi mẫn đối với chúng sanh đang lặn hụp trong biển sanh tử khổ đau và cũng chính vì cảm nhận:
“Như giọt nước long lanh chảy trong lòng tay,
Hỡi người ơi trong trần thế vạn ngày,
Đâu sánh bằng phút giây nhiệm mầu trong đạo giới!”.
Tất cả thú vui trần gian không thể sánh nỗi hạnh phúc của sự tĩnh lặng tâm tư. Ngày xưa các Ngài cao khiết như vậy mà nay thân phận của chúng ta thế nào, đã xuất gia đầu tròn vai vuông mang hình tướng của bậc xuất trần thượng sĩ, lại đắm chìm trong dục lạc thấp hèn.
Qui trình tu tập tiến đến giác ngộ, giải thoát đều không ngoài Giới – Định – Tuệ. Muốn có trí tuệ thì phải tu tập thiền định, muốn đạt định thì phải giữ giới. Giới là hàng rào ngăn ác, có khả năng dứt hẳn nghiệp nhân trong sanh tử. Những lời sách tấn thiết tha tận đáy lòng của Phật Tổ, lẽ nào chúng ta làm ngơ, giả như không hay không biết. Quy Sơn Cảnh Sách, Tứ Thập Nhị Chương, Di Giáo,…đều phải khắc sâu trong tâm.
Do căn lành cụ túc, chúng ta đã được nương chốn thiền môn, nhờ lời dạy của Đức Thế Tôn, hiểu đời là bể khổ, rõ được nguyên nhân dẫn đến khổ đau, biết được con đường đưa đến chấm dứt khổ đau…bản thân chúng ta nếu không nỗ lực tu hành, cứ lơ là qua buổi, thọ dụng của tín thí nồng hậu, chắc chắn bỏ thân này kiếp sau sẽ mang lông đội sừng để đền trả. Các vị vì chưa rốt ráo thực nghiệm lời Phật dạy nên chưa nếm được hương vị giải thoát và hạnh phúc từ Chánh pháp. Vẫn còn kịp, nếu chúng ta thức tỉnh, phòng hộ các căn, kiện toàn Giới luật, thực hành Giáo pháp của Đức Thế Tôn trong mỗi nhịp sống, luôn chánh niệm tĩnh giác không những tự thân được thụ hưởng hạnh phúc tối thượng mà còn đem lại cho chúng sanh một đời sống an ổn, giảm bớt khổ đau, mang đến cho cuộc đời sự vui tươi xán lạn. Như thế, Ni trẻ chúng ta đã tiếp nối được Tiền Nhân và phát huy được Chánh pháp. Cầu chúc Quý Vị tâm thiền luôn tỏa sáng.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây