Vai trò của vị Thầy dẫn đường

Thứ hai - 17/09/2018 07:32
TT. Thích Thông Huệ - Uỷ viên Thường trực Ban Hoằng pháp TW, Trưởng Ban Hoằng pháp GHPGVN tỉnh Khánh Hòa
thong hueVAI TRÒ CỦA VỊ THẦY DẪN ĐƯỜNG

   I. Dẫn nhập:
   Thế giới ngày nay, đang trên đà phát triển với mức độ thần tốc của công nghệ số hoá, nền văn minh khoa học kỹ thuật đã đạt đến tầm cao khó tưởng tượng, từ vi mô đến vĩ mô, từ nhân sinh đến vũ trụ. Tuy nhiên, bên cạnh sự tiến bộ vượt bậc của đời sống vật chất là sự tha hóa xuống cấp của đạo đức. Con người dễ dàng trở nên ích kỷ, sẵn sàng gây hại cho nhau để phục vụ lợi ích riêng mình. Trong những cơn bỉ cực ấy, lương tri nhân loại được đánh thức, con người ngày càng có khuynh hướng tìm đến con đường đạo đức tâm linh, tìm về những phương pháp thoát khổ. Giáo lý đạo Phật vừa mang tính khoa học phù hợp với trình độ nhận thức của con người hiện đại, vừa mang tính hòa bình đáp ứng lòng khát khao an lạc hạnh phúc, ngày càng được nghiên cứu, tôn vinh và thực hành.
   Sự nghiệp hoằng pháp là nghĩa vụ thiêng liêng, sứ mệnh cao cả của những nhà truyền giáo nói riêng và người con Phật nói chung. Giáo pháp của Đức Phật mang tính nhân bản, chỉ dẫn con người quay về đời sống nội tâm, ổn định đời sống đạo đức tâm linh cho mỗi cá nhân và cộng đồng. Muốn cho Phật pháp được lan rộng đến nhân quần xã hội cần phải nhờ những “sứ giả Như Lai”, thay Phật làm những “vị Thầy dẫn đường” hoằng truyền, nhận lãnh sứ mạng tiếp tăng độ chúng, truyền trao giáo pháp của Đức Phật cho chúng sanh, hầu chuyển hóa tâm thức, tạo dựng một đời sống an lạc và hạnh phúc ngay tại thế gian.
   Công tác hoằng pháp đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp duy trì mạng mạch Phật pháp, điều này không thể phủ nhận, đồng thời nêu lên vị trí đặc biệt của vị giảng sư. Giảng sư là sứ giả quan trọng bậc nhất trong việc hoằng dương Phật pháp. Những vị ấy, phải có giới đức nghiêm thân, năng lực tu tập, trí tuệ uyên thâm và tâm nguyện dấn thân phụng sự đạo pháp, phục vụ nhân sinh trên tinh thần vô ngã vị tha, tuỳ duyên bất biến. Vai trò của vị giảng sư trở thành tác nhân trung tâm của mọi sự chuyển tải nội dung Phật pháp vào xã hội, có nhiều thuận lợi và ưu thế, có tính chủ động cao trong sứ mệnh hoằng pháp giúp cho giáo pháp của Đức Phật được lan tỏa khắp nơi, đến với nhiều đối tượng khác nhau. Do đó, một vị giảng sư cần hiểu rõ vai trò quan trọng và trách nhiệm của mình với bối cảnh xã hội, nhu cầu của thính chúng và sự vận động bánh xe pháp như thế nào để chuyển đổi cho phù hợp với công tác hoằng pháp trong thời đại mới.
   II. Nội dung:
   1. Giới đức của vị giảng sư:
   Đức hạnh của vị giảng sư đóng vai trò chính yếu trong việc thiết lập niềm tin nơi quần chúng để mọi người có cái nhìn tốt đẹp về một vị Thầy dẫn đường chuẩn mực, về một đạo Phật thực tiễn và khoa học, góp phần vào việc hướng dẫn, chuyển hóa những người chưa hiểu đạo vào đạo là một vấn đề quan trọng trong sứ mạng hoằng pháp thông qua nghệ thuật giáo hóa và thuyết giảng. Vị giảng sư là người có điều kiện thường xuyên tiếp xúc Phật tử trên các diễn đàn Phật pháp, các đạo tràng, khoá tu, những thời chia sẻ pháp thoại..., giải quyết những vấn đề vướng mắc trong sự tu học và định hướng một đời sống đạo đức tâm linh cho họ. Vai trò của vị giảng sư trở thành trung tâm chuyển tải nội dung Phật pháp, khơi nguồn tuệ giác trong mỗi người.
   Do đó, nghiêm trì giới luật là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của người hoằng pháp. Đạo hạnh uy nghiêm mới có thể làm chỗ nương tựa vững chắc cho tứ chúng noi theo tu tập và đảm đương vai trò sứ mạng hoằng pháp độ sanh. Khi giới luật được giữ gìn một cách thanh tịnh thì tính cách ly trần thoát tục của một bậc xuất gia hiện bày. Mọi người khi nhìn vào đạo hạnh sáng ngời của vị giảng sư sẽ phát tâm quy hướng Phật pháp. Đây là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự cảm hóa quần chúng đến với Đạo Phật, dẫn đến những thành tựu trong quá trình hoằng dương chánh pháp. Nếp sống chuẩn mực trong đời sống phạm hạnh của vị giảng sư cũng phản chiếu tấm gương cao đẹp đến với mọi người. Hình ảnh và nếp sống đạo hạnh của vị giảng sư sẽ là một bài thuyết pháp vô ngôn sinh động, đầy tính thuyết phục để cảm hóa mọi người trở về với chánh pháp.
Thân giáo là một biểu tượng mẫu mực gây được ấn tượng đạo hạnh trên bước đường cảm hóa tha nhân. Trong cuộc sống thường nhật, quần chúng Phật tử thường quan sát và nhận xét vị giảng sư ở nhiều góc độ, từ vóc dáng, cử chỉ cho đến phong cách ứng xử, trình độ tu tập cũng như phương pháp hành trì… Tự thân của người mang sứ mệnh hoằng pháp phải luôn tu dưỡng bản thân, hoàn chỉnh nhân cách của mình để làm mô phạm cho mọi người xung quanh. Nếu không có một đời sống mẫu mực thì không thể tạo cho đồ chúng niềm tin tưởng, khiến họ thực hành theo những gì mình hướng dẫn, con đường giáo hóa sẽ không mang lại kết quả gì. Lời nói đi đôi với hành động, giảng những gì đã làm, làm những gì đã giảng (tri hành hợp nhất). Thông qua những hoạt động thường ngày, vị ấy thể hiện được cung cách của một bậc xuất trần thượng sĩ, giải quyết mọi việc bằng cái tâm tu tập và hành trì lời Phật dạy, tạo nên nguồn năng lượng chuyển hóa an lạc cho mọi người.
2. Công năng tu tập:
Với mục đích chuyển tải tư tưởng của Ðức Phật đi vào đời sống thực tiễn, vị giảng sư không chỉ truyền bá Phật pháp qua kiến thức Phật học phổ quát trên lý thuyết văn tự (tử ngữ) mà phải bằng sự thực nghiệm tự thân bơi lội vào công phu tu tập. Khi muốn chỉ dạy cho người khác một phương pháp tu tập nào đó đòi hỏi vị ấy phải là người có quá trình tu tập, đạo lực thăng tiến mới có khả năng ứng dụng một cách nhuần nhuyễn để chuyển hóa và tháo gỡ những vướng mắc cho người khác. Những phương pháp hướng dẫn đó phải y cứ lời Phật dạy, thực tế và mang đến lợi ích thiết thực trong hiện tại và tương lai.
Vị giảng sư phải có quá trình tu học lâu dài, chuyên sâu nghiên cứu kinh điển và hành trì giáo pháp. Nếu vị ấy, không có sự dụng công nhất định trong nghiên cứu và tu tập sẽ là một thiếu sót lớn, sứ mạng hoằng pháp cũng khó mà thành tựu. Vị giảng sư không thể thuyết giảng mà không có sự tu tập hành trì từ chính tự thân của mình, tịnh hoá thân tâm, lìa các đắm nhiễm.
Tinh thần đạo lý của vị giảng sư được bắt nguồn từ giáo lý của Phật. Vị giảng sư phải học tập giáo lý từ nơi kinh điển, sau đó được thể hiện bằng kinh nghiệm tu hành tự thân. Đạo lý nào chính mình thực tập, thì sẽ trở thành những giáo trình sống động thực tiễn phục vụ vào công tác giảng dạy về sau. Ảnh hưởng của Phật giáo tích cực hay tiêu cực, mạnh mẽ hay yếu ớt, rộng lớn hay hạn chế luôn phụ thuộc vào đạo đức, trình độ kiến thức, đặc biệt là sức mạnh nội tâm của các nhà hoằng pháp.
Ngày nay, với sự tiện ích của ngành công nghệ số 4.0, mọi người có thể tìm hiểu, nghiên cứu và học hỏi triết lý Phật pháp qua sách vở, thông tin đại chúng, các website… một cách dễ dàng và đa dạng. Điều thiết yếu quan trọng đặt ra là cần những vị Thầy có khả năng chia sẻ kinh nghiệm hành trì, giúp họ giải toả được những phiền não trong đời sống thường nhật, có thể đem đến những phút giây an tịnh cho con người trong một xã hội đầy biến động và nhiều sức ép, có thể tạo ra niềm tin tốt đẹp và lạc quan cho những tâm hồn đau khổ.
Năng lượng tu tập là bản chất cốt lõi, là hành trang cần thiết đối với một tu sĩ Phật giáo nói chung và một người hoằng pháp nói riêng. Năng lượng tu tập này có khả năng chuyển hoá lòng người một cách hiệu quả. Nội lực này có được  là thành quả của một quá trình tu tập và ứng dụng giáo lý của Đức Phật vào trong đời sống hàng ngày thông qua ba nghiệp thân khẩu ý. Nó chính là chất liệu từ bi, trí tuệ của Đạo Phật được tẩm ướt và thẩm thấu vào thân tâm, tạo nên tư cách của một vị giảng sư kiểu mẫu về đạo đức và trí tuệ của Phật giáo. 
3. Kiến thức nội điển và ngoại điển:
Đạo Phật là đạo trí tuệ, Đức Phật đã tỏ ngộ chân lý tuyệt đối và giảng dạy cho đồ chúng những gì Ngài biết bằng trí tuệ siêu xuất của mình. Những lời dạy của Ngài về vũ trụ nhân sinh, cho đến nay vẫn là chân lý. Phật giáo phân biệt hai loại trí tuệ, như là kết quả của hai giai đoạn hành trì: Một là Trí hữu sư, kiến thức tích lũy qua quá trình nghe, suy tư và tu theo lời dạy của thiện hữu tri thức (Văn-Tư-Tu). Hai là Trí vô sư, tức trí tuệ sẵn có nơi nguồn tâm, hoặc trí tuệ tự mình phát khởi do nghiêm trì giới luật và tâm an định (Giới-Định-Huệ). Trí tuệ ấy do sức thiền định sâu xa, tự nơi mình mà khám phá. Trí tuệ ấy cũng sẵn có trong tất cả chúng sanh, chỉ vì vô minh che lấp nên mãi chịu kiếp đọa đày trong trần lao sinh tử, như mặt trăng luôn hiện hữu trên trời không, vì mây phủ che nên dưới đất bị bao trùm trong bóng tối.
Điều kiện tất yếu để trở thành một vị giảng sư là phải có đầy đủ kiến thức Phật học uyên bác, một nguồn đạo lý vô hạn trong kho tàng tâm thức. Đạo Phật mang ý nghĩa độ sanh nên những người Hoằng pháp phải thông suốt Phật pháp, đem ra giảng dạy truyền bá cho tín đồ thông hiểu đạo lý. Bởi khi hiểu, chúng ta mới thực hành, hành cái chỗ hiểu. Hiểu và hành áp dụng song đôi mới có kết quả. Nếu không thông hiểu Phật pháp mà đem ra giảng dạy thì khác nào kẻ mù dắt người đui, dễ rơi vào tà đạo mê tín. Do đó, vị giảng sư trước hết phải là một học giả uyên bác về triết lý và các quan điểm của Phật giáo, có sự nhận định thông suốt về tư tưởng của các bộ phái và pháp môn tu tập để tránh tình trạng khi thuyết giảng tùy tiện diễn đạt thiếu tính nhất quán về mặt nội dung của giáo pháp, chủ quan phô diễn đề cao, tán dương tư tưởng cá nhân mà chê bai, chỉ trích các tông phái khác, gây sự mất đoàn kết trong nội bộ Phật giáo và gây hoang mang cho đồ chúng về các phương pháp tu tập hành trì, tạo sự ngộ nhận của thính chúng về nội dung giáo lý của Đức Phật; cho đến việc bài xích tư tưởng, giáo lý của các tôn giáo bạn. Đây là điều tuyệt đối nên tránh trong công tác hoằng pháp.
Xã hội hiện nay đang có sự mất cân bằng giữa đời sống tâm linh và đời sống vật chất. Con người bị quay cuồng trước những trào lưu thông tin về những tình hình chính trị, kinh tế, xã hội phức tạp. Sau những ngày giờ căng thẳng phiền não, họ tìm đến giảng đường, lắng nghe những lời giảng dạy đạo lý để có được sự an lạc của tâm hồn, chia sẻ năng lượng yêu thương, tiếp nhận những lời dạy của bậc giác ngộ nhằm chuyển hoá ba nghiệp, hướng đến sự giải thoát cao thượng. Tuy nhiên, một số ít giảng sư khi thuyết giảng lại lồng ghép nhiều những vấn đề nhạy cảm của xã hội như thách đố về chính trị, thời cơ, lạm bàn thái quá về tình hình kinh tế đất nước... dẫn đến tình trạng khi thuyết pháp, đạo chẳng ra đạo, đời chẳng ra đời, xa lìa với mục đích tu tập của người Phật tử.
Ngày nay, tín đồ Phật tử nhiều người có trình độ Phật pháp rất thâm sâu. Do vậy, vị giảng sư cũng cần trang bị cho mình kiến thức về mọi lĩnh vực cần thiết cho công tác hoằng pháp, thông suốt nội điển, am hiểu ngoại điển. Vị giảng sư cần phát huy trí huệ, cả Trí hữu sư và Trí vô sư. Trước nhất, chúng ta chuyên tâm học tập giáo lý, nghiên cứu kinh điển để biết rõ đường hướng tu hành, không lạc vào tà đạo, đồng thời củng cố học hỏi thêm kiến thức thế gian làm phong phú thêm hành trang cho công cuộc hoằng pháp lợi sanh sau này. Vị giảng sư phải đáp ứng nhu cầu đa dạng của quần chúng Phật tử như: xây dựng môi trường đạo đức xã hội, truyền thống văn hóa, tâm linh tôn giáo, triết học, thẩm mỹ, nghệ thuật sống... Nhưng cao hơn hết, mọi kiến thức đó phải hướng đến phục vụ cho lý tưởng giác ngộ giải thoát.
Tâm niệm của vị giảng sư phải luôn cầu tiến, học hỏi nâng cao kỹ năng thuyết pháp để xứng đáng với vị trí và vai trò của một giảng sư trong bối cảnh xã hội hiện đại. Cần cập nhật hóa ngôn từ cùng những thông tin đại chúng để làm giàu tri thức của mình, nhưng quan trọng phải luôn giữ được chân lý giác ngộ, “dĩ văn tải đạo”, khéo léo ứng dụng nền tri thức, ngôn từ hiện đại để diễn đạt Phật ngôn, đem chân lý đi vào ngự trị trong tâm mọi người chứ đừng mượn đạo phô diễn văn chương, khoe bày kiến thức quảng bát ngoại điển thế tục. Một số vị giảng sư lanh lợi, đã tự sáng chế ra đủ thứ lý luận, pháp môn trở nên khác hẳn so với đạo lý chính thống của Phật. Đây là điều cần nên cân nhắc.
Nhà hoằng pháp chân chính phải là một kỹ sư tâm hồn, vừa là một học giả, vừa là một hành giả, thuyết pháp bằng chính pháp hành của tự thân mới đảm đương tốt trách nhiệm truyền bá chánh pháp của Đức Phật. Với kỹ năng và phương pháp, vị giảng sư từng bước xây dựng cho mình niềm tin nơi thính chúng, rèn luyện khả năng trình bày mọi vấn đề hợp với luận lý, thuyết phục được thính chúng đi đúng con đường của Đức Phật đã dạy hầu đem lại an lạc và hạnh phúc cho họ cũng như xây dựng một xã hội an hòa. Đó là nét sáng tạo của vị giảng sư trong việc hoằng dương giáo pháp thời đại mới.
4. Tinh thần tùy duyên bất biến:
Người tu Phật luôn lấy trí tuệ làm sự nghiệp chung thân, nhưng không quên lập hạnh lợi tha tùy duyên hóa độ người, không thể lẫn tránh trần gian đau khổ mà mưu tìm chân trời hạnh phúc cho riêng mình. Đạo Phật đi vào cuộc đời, mang lợi ích cho chúng sanh vạn loại, vừa khế lý vừa khế cơ, vừa có tính minh triết lại vừa mang tính bình dân phổ cập. Giáo lý Phật Đà có tính minh triết vì phát xuất từ chỗ thấy biết như thật, nhận rõ bản chất của thực tại; mặt khác lại có nhiều phương tiện thiện xảo nên không hề xa lạ với quần chúng bình dân, đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng phổ cập. Lời dạy của Đức Phật dù có cao quý, lợi ích đến đâu, nếu không có người truyền bá thì lời dạy ấy cũng không được thiết thực lợi lạc nhân sinh. Chính vị giảng sư là người trùng tuyên lời Phật dạy cho mọi người hiểu biết, nhận chân được đâu là con đường giác ngộ giải thoát, vận dụng như thế nào mới mang lại lợi ích thiết thực an lạc, hạnh phúc cho chúng sanh.
Với sứ mạng tuyên dương chánh pháp, vị giảng sư phải tích cực truyền bá giáo lý của Đức Phật để người khác cũng được lợi lạc, để Phật pháp mãi mãi trường tồn. Việc truyền bá cần theo tinh thần khế lý, khế cơ hay bất biến tùy duyên. Khế lý là phù hợp với chân lý bất biến của nhân sinh vũ trụ, khế cơ là phù hợp với căn cơ và thời đại mà tùy nghi sử dụng phương tiện, để ai cũng có thể thấm nhuần và tu tiến. Người truyền bá Phật pháp lúc nào cũng linh động nhưng không bao giờ nói sai chân lý. Mục tiêu của việc thuyết pháp là tác động lên tâm tư của con người, thuyết phục họ đến với đạo lý. Nhưng ngược lại, nếu nói đúng với chân lý mà không phù hợp với trình độ nhận thức, căn cơ của thính chúng thì cũng khó thuyết phục, khó đưa chánh pháp thấm sâu vào lòng người, khó giúp đương sự tu hành có kết quả.
Để hoàn thành những mục tiêu và nhiệm vụ trên, vị giảng sư cần phải hoàn thiện về phương thức thuyết giảng, đa dạng hóa nội dung các đề tài được thuyết giảng mang tính sáng tạo và thực tiễn, vận dụng nhuần nhuyễn các phương tiện để có khả năng chuyển tải cao nhất triết lý Phật giáo vào đời sống hằng ngày của người Phật tử cũng như đời sống xã hội. Giảng sư phải có kinh nghiệm tu tập và kiến thức phổ quát, nghệ thuật diễn giảng..., nhất là nội dung thuyết giảng phải gắn với thực tiễn của đời sống, tâm lý, sinh lý và ước vọng của đại đa số thính chúng cử toạ.
III. Kết luận:
Đạo Phật là đạo trí tuệ và từ bi. Chúng ta đem hạt giống trí tuệ, từ bi gieo rắc vào lòng người, đó là truyền bá đạo Phật. Phật giáo ngày nay đã trở thành một tôn giáo lớn, tín đồ mỗi lúc một đông, ảnh hưởng lớn đến mọi lĩnh vực hoạt động của quần chúng nhân sinh trên thế giới. Sự nghiệp hoằng pháp quyết định cho sự tồn vong, phát triển của đạo Phật. Những vị giảng sư hoằng pháp là những nhân tố quan trọng trong việc hoằng dương chánh pháp, giáo hoá độ sanh. Người truyền bá đạo Phật mang sứ mạng “Như Lai Trưởng Tử” phải phù hợp với chánh kiến và chánh tín. Vị giảng sư như hoa sen trong biển lửa, vì lợi ích quần sanh dấn thân vào muôn ngàn chướng ngại, không nệ hà hang cùng ngỏ hẽm, không câu nệ vùng đất xa xôi hiểm trở, mang thông điệp từ bi, ánh đuốc trí tuệ trao đến người hữu duyên. Hình ảnh vị giảng sư uy nghi đĩnh đạc trên pháp tòa cất lời tuyên dương đạo lý, xoá mê khai ngộ, mang đến an lạc, hạnh phúc nhân sinh là hình ảnh lý tưởng cao đẹp của đạo Phật từ ngàn xưa. Vị giảng sư Phật giáo cần siêng năng tinh tấn tu học để mỗi ngày tâm từ bi được nẩy nở, trí tuệ được minh mẫn, truyền đạt những lời Phật dạy cho mọi người cùng tu hành, bớt khổ được vui, chính là góp phần làm cho Phật pháp được hưng thịnh trên cuộc đời này.
 
VAI TRÒ CỦA VỊ THẦY DẪN ĐƯỜNG
TT. Thích Thông Huệ

UV. Thường trực BHP TƯ, Trưởng Ban HP tỉnh Khánh Hoà

img 1688img 1661
img 1673
img 1694

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây