Nguyên nhân gây thiếu cân bằng nhân sự Hoằng pháp giữ đồng bằng và miền núi các tỉnh Trung bộ.

Thứ hai - 17/09/2018 07:24
ĐĐ.TS.Thích Đồng Lực - Ủy viên Ban Hoằng Pháp tỉnh Bình Định
thich dong lucNGUYÊN NHÂN GÂY THIẾU CÂN BẰNG NHÂN SỰ HOẰNG PHÁP GIỮA ĐỒNG BẰNG VÀ MIỀN NÚI CÁC TỈNH TRUNG BỘ

Tóm tắt
Tình trạng hiện nay cho thấy, công tác hoằng pháp tại vùng sâu, vùng xa ở miền núi còn gặp nhiều khó khăn. Trong đó, vấn đề thiếu thốn nhân sự luôn là bài toán nan giải của Giáo hội. Nếu khảo sát một chút về đội ngũ giảng sư, hoằng pháp viên thì chúng ta thấy phần lớn tập trung ở đồng bằng và nhất là các đô thị lớn. Những nơi có điều kiện sinh hoạt và nghiên cứu chủ yếu là thành thị, thu hút đông đảo các nhà hoằng pháp giỏi. Trong bài tham luận này người viết làm sáng lý do thiếu cân bằng nhân sự giữa miền núi và đồng bằng ở các tỉnh Miền Trung. Qua đó, một số giải pháp được kiến nghị giúp khắc phục sao cho công tác hoằng pháp được thiết thực hiệu quả hơn trong những năm sắp đến.

Dẫn Nhập
Cán cân nhân sự đang là vấn đề cần ưu tư nhiều hơn nữa. Riêng các tỉnh Trung bộ Việt Nam, ở vùng núi thưa thớt, thiếu vắng các nhà hoằng pháp đủ nhiệt huyết để đi sâu rà soát sát sao hơn nguyện vọng tinh thần và tín ngưỡng của người dân vùng núi. Đồng bằng, ngược lại, quy tụ quá nhiều các giảng sư, giáo thọ, hoằng pháp viên chuyên nghiệp và nhiệt tâm. Thực trạng này xuất phát từ những nguyên nhân nào? Làm sao để kích thích sự luân chuyển nhân sự để cân bằng hóa vấn đề con người, không tồn đọng lạm phát thừa tại đồng bằng và cũng đáp ứng đủ nguồn lực cho vùng cao, vùng sâu và xa. Trong nội dung trình bày tại Hội thảo lần này, xin được nêu ra những mặt ưu đã đạt được và khuyết điểm mà chúng ta còn đang vấp phải trong việc phân bổ giảng sư, hoằng pháp viên. Từ đó, giải pháp được đưa ra dưới cái nhìn của một tầm mắt trẻ trung hơn, góp phần đổi mới phương thức điều phối nhân sự của ngành.
I. Các vấn đề đang đối mặt tại miền núi
Ở Cao Nguyên, hàng loạt điều kiện khách quan cản trở nguồn nhân lực trong công tác hoằng pháp, trong số đó, có thể kể đến 4 vấn đề sau đây: 
- Dân trí thấp, phân bố co cụm không đều: Trình độ văn hóa là yêu cầu đầu tiên để người dân có thể học và tu chánh pháp thiết thực nhất. Tỉ lệ mù chữ tuy được cải thiện trong thời gian gần đây, song đối với người dân miền núi, đặc biệt là thuộc dân tộc thiểu số, trình độ Phổ thông Trung học khá hiếm. Điều này là một chướng ngại lớn làm nản lòng các nhà hoằng pháp, bởi dù muốn truyền đạt giáo pháp nhưng nhu cầu và khả năng tiếp nhận của bà con thật sự khiêm tốn. Mặt khác, số người tốt nghiệp cấp Phổ thông và Đại học phần lớn tập trung ở những thành phố như Pleiku, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, v.v… trong khi đại đa số dân sinh sống ở các bản làng, xã huyện vùng sâu gặp khó khăn trong việc đọc kinh, nghe giảng.  
- Kinh tế thiếu ổn định: Cuộc sống người miền núi chủ yếu dựa vào canh tác Nông - Lâm nghiệp. Thời gian dành cho chăm sóc nương rẫy lấn chỗ của sinh hoạt tín ngưỡng. Nhất là, khi nhu cầu về sản lượng hoa màu ở phố thị và đồng bằng tăng lên thì người miền núi càng đầu tư tăng gia lao động để đáp ứng nguồn cung. Do vậy, vốn dĩ đời sống khó khăn cho việc tiếp cận Phật pháp lại càng thêm trở ngại vì công việc mưu sinh. Nhất là những năm mất mùa hay thiên tai thì họ càng thêm khốn đốn mọi bề. Khi Công giáo truyền đạo họ thường sử dụng các sách lược kinh tế tài chính đổ về theo chủ trương “cho dân ăn, nói dân nghe”. Nhà hoằng pháp chúng ta phần lớn có nhiệt huyết, tài năng nhưng yếu tài chính, do vậy chưa mạnh dạng dấn thân.
- Bài toán về quản lý người dân tộc thiểu số: Vì ảnh hưởng của tục lệ làng bản, tộc dân thiểu số sinh hoạt thiếu phù hợp với nề nếp người Kinh. Việc ràng buộc họ vào khuôn khổ tổ chức hay quy tụ để giảng dạy, giáo hóa cũng không dễ dàng. Năm 2004, Tây Nguyên được thống kê có hơn 20 dân tộc thiểu số và tổng số hơn hai triệu dân với tập tục sinh hoạt đa dạng.[1] Dân tộc thiểu số trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20 đã tạo ra khá nhiều bất ổn, phức tạp về Chính trị - Xã hội, khiến cho chính quyền cũng vất vả can thiệp. Yếu tố này tạo nên nỗi hoang mang cho nhà hoằng pháp Phật giáo khi lựa chọn điểm đến là Tây nguyên nếu không có sự khích lệ nào từ phía Giáo hội.
- Vấn đề tín ngưỡng còn phức tạp chưa được thuần hóa: Bà con vùng núi sâu xa còn tin theo nhiều tập tục càn rỡ, lạc hậu, chưa chịu cởi mở để đón nhận luồng ánh sáng mới mẻ của Phật pháp. Đáng e ngại hơn hết, Công giáo nhanh chân hơn chúng ta. Họ đã chú trọng truyền đạo cho dân tộc thiểu số ngay từ khi mới đặt chân vào đất Việt. Theo thống kê năm 2004 thì tại vùng núi Tây Nguyên số lượng tín đồ Phật giáo kém xa so với đạo Tin Lành và Công giáo.[2] Điều này phản ánh sự thua sút về mặt hoằng pháp của chúng ta tại vùng núi xa xôi. Bây giờ muốn chuyển hóa bà con trở về với Phật giáo thì nhà hoằng pháp sẽ vấp phải chướng ngại lớn từ phía Công giáo.  
Bốn khía cạnh trên bộc lộ rõ những trở ngại nhất định, mà Hòa thượng Thích Gia Quang đúc kết mấy tác động của yếu tố khách quan lên nhân sự hoằng pháp ở vùng núi như sau: hoàn cảnh gây tâm lý ngại khó, ngôn ngữ - phong tục bất đồng, chưa thâu hóa được người dân tộc thiểu số theo đạo, tín ngưỡng tự phát theo nhóm làng - tộc dẫn đến tình trạng thiếu ổn định trật tự xã hội, Giáo hội chưa có ưu đãi đối với Tăng Ni hoằng pháp miền núi, truyền thông yếu kém.[3] Gánh nặng nhân sự tại các tỉnh Gia Lai, Kontum, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng cũng mang tính chất tương tự.
II. Thế mạnh nhân sự của đồng bằng
Sức cuốn hút nguồn lực con người trong ngành hoằng pháp tại đồng bằng Miền Trung gần đây có thể được xem xét ở các góc độ sau:
- Kinh tế phát triển đồng bộ, nhiều lĩnh vực: Thế mạnh đầu tiên giúp cho đồng bằng thu hút nguồn nhân lực hoằng pháp là nền kinh tế phát triển đa ngành, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ thương mại đến dịch vụ, du lịch. Với cơ sở hạ tầng tốt như thế, thì kiến trúc thượng tầng về đời sống tâm linh, văn hóa tinh thần mới có nhiều nhu cầu hơn. Mật độ công việc của nhà hoằng pháp do đó càng tăng cao. Người dân, khi đời sống kinh tế ổn định, họ cần thưởng thức những món ăn tinh thần từ chánh pháp và khát khao gia vị mới mẻ từ những bài học đạo đức làm người, làm nghề được ẩn chứa trong kinh điển Phật giáo.
- Chất lượng cuộc sống đảm bảo: Theo trên, ở mặt ngược lại, nhà hoằng pháp hoạt động trong điều kiện được ưu đãi về tài chính và mọi nhu cầu sinh hoạt như thế thì tất nhiên sẽ thuận lợi để có những nỗ lực đóng góp lớn lao hơn. Cụ thể, thực phẩm đa dạng, dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe đảm bảo về mặt thể chất và tạo sự an tâm cho người tu hơn. Nhất là, nhà hoằng pháp sẽ yên tâm hơn đối với người già yếu, đau ốm có thể dịch chuyển cứu chữa thuận lợi hơn.
- Giao thông đi lại thuận lợi nên thu hút được nguồn nhân lực có trình độ: Phần lớn các giảng sư uy tín, Tăng Ni có học vị và phẩm chất tốt sau khi ra trường đều ưa chuộng các địa bàn dễ lưu thông, điều kiện đời sống tương đối đầy đủ. Dọc đồng bằng Miền Trung các thành phố phát triển như Đà nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn hiện đang hút sự đầu tư kinh tế nước ngoài như: du lịch biển, công nghiệp nặng, giáo dục, v.v… đã mời gọi ngày càng nhiều khách nước ngoài. Đây là điều kiện cho các Tăng Ni du học sau khi về nước có môi trường làm việc.
- Chùa chiềng phát triển sum tụ, dễ tiếp nhận đồ chúng: Ưu thế lớn nhất của đồng bằng duyên hải Miền Trung là chùa chiềng, tự viện dày đặt, bất kể thành thị hay nông thôn. Chùa cũng gần gũi với trường học các cấp lên đến Đại học. Nhờ vậy đội ngũ hoằng pháp dễ vận động thanh thiếu niên, học sinh - sinh viên tham gia hỗ trợ tổ chức các khóa tu chuyên biệt. Quần chúng muốn tham gia tu tập cũng thuận duyên hơn để có thể đi về trong ngày mà không mất chất lượng khóa tu. Trình độ học vấn của người dân cũng cao và đồng bộ hơn nên sự giao thoa kết nối truyền đạt với người tu học khá thuận lợi, khiến cho nhà hoằng pháp phấn khởi, hăng say trong công việc.
Những yếu tố vừa nêu đã tạo cú hích cực mạnh cho tinh thần hoằng pháp của Tăng Ni Phật tử, khiến cho cán cân nhân sự bị chênh lệch lớn so với miền núi.
III. Giải pháp cân bằng nhân sự
Từ những phân tích trên, để tạo thế thăng bằng cho cán cân nhân sự giữa đồng bằng và miền núi Trung bộ, chúng ta cần quan tâm 4 giải pháp sau:
- Kích thích hỗ trợ tài chính đến vùng sâu, vùng xa: Giáo hội cần có chính sách hỗ trợ tài vật, phương tiện đi lại để động viên Tăng Ni trẻ lên đường về miền ngược, chú trọng hơn nữa kết hợp với công tác Từ thiện - Xã hội, cứu chữa bệnh, chăm lo người nghèo. Thêm vào đó, giao thông miền núi gần đây tuy cải thiện đáng kể nhưng sân bay ở miền núi chỉ kết nối với các thành phố lớn, trong khi đường bộ thì xa xôi, lại nguy hiểm về địa hình. Nên chăng, những chuyến đi có tổ chức quy mô cần được Giáo hội phát huy.
- Mở lớp đào tạo hoằng pháp viên trẻ: Triển khai chương trình định kỳ, thường xuyên nhằm đào tạo, hướng dẫn kỹ năng tuyên truyền Chánh tín đến vùng sâu cho thế hệ trẻ. Khuyến khích Tăng Ni trẻ không nên an phận nơi đồng bằng, phố thị mà cần chủ động tiếp cận bà con miền núi. Hãy học hạnh đức Phật như con sư tử chúa ra khỏi hang tìm mồi.[4] Giúp đội ngũ hoằng pháp trẻ giải tỏa tâm lý ngại khó khổ, tìm kiếm người khổ mê để cứu độ, qua gương sáng của các Tỳ kheo thời Phật tại thế, như tôn giả Phú Lâu Na đến Sunaparanta (Tây phương Du Na quốc) xa vắng, chấp nhận gian nan để truyền bá chánh pháp đến dân chúng khó giáo hóa.
- Mở rộng mạng lưới ngành: Trong thời đại ngày nay, dù không còn phải khất thực vân du hóa độ nữa, việc gần gũi kết nối với đồng bào dân tộc thiểu số vẫn đòi hỏi những nhà hoằng pháp nhiệt tâm dấn thân đi sâu sát hơn thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến. Một mặt, đẩy mạnh công tác truyền thông, tận dụng công nghệ hiện đại. Mặt khác cần phân bổ rải đều đội ngũ công tác khi nguồn nhân lực còn mỏng, quán triệt chủ trương của đức Phật:  
“Này các Tỳ-kheo! hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài người, loài trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ”[5]
- Chú trọng xây dựng cơ sở tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa: Một nghịch lý là, thực tế từ thời mới du nhập vào nước ta, các nhà sư chủ trương ẩn tu nơi núi cao, đến thời cực thịnh thì Phật giáo Lý - Trần cũng không bỏ quên địa bàn núi cao, như chùa Hoa Yên (Yên Tử). Thế mà hiện nay, chúng ta đang lãng quên mà không chú trọng công việc này.  Giáo hội Trung ương nên kết hợp Ban Trị sự (BTS) địa phương xem xét kiến nghị cho lập chùa tại một số địa bàn chưa có, nhằm làm cơ sở đào tạo, nuôi dưỡng nguồn nhân lực tại chỗ.
Kết Luận
Những nguyên nhân gây mất cân bằng về nguồn nhân lực giữa hai miền Xuôi - Ngược ở Trung bộ như vừa phân tích giúp ta thức tỉnh hơn những mặt còn yếu kém, mà khả năng giải quyết vấn đề hoàn toàn nằm trong tầm tay Giáo hội. Chúng ta nên xem xét để áp dụng những giải pháp vừa nêu càng sớm càng tốt để giúp san sẻ gánh nặng cho BTS các tỉnh miền núi trong sứ mạng Hoằng Pháp lợi sanh. 



Tư liệu tham khảo
1. Kinh Trường Bộ, Thích Minh Châu (dịch), https://thuvienhoasen.org/a209/kinh-truong-bo-digha-nikaya
2. Kinh Trường Bộ, Thích Minh Châu (dịch), https://thuvienhoasen.org/a1057/kinh-tang-chi-bo-anguttara-nikaya
3. Thích Gia Quang, “Khơi nguồn Phật pháp nơi vùng sâu vùng xa: Vấn đề đặt ra cho tổ chức Phật giáo ở Miền núi phía Bắc”, Nghiên Cứu Tôn Giáo số 04 (130), 2014, 67-74
4. Nguyễn Thanh Xuân, “Vài nét khái quát về Tôn giáo trong vùg đồng bào thiểu số ở Việt Nam” (Religions among the Ethnic Minorities in Vietnam). Đăng tải vào ngày 20/01/2015 trên website: https://vnctongiao.vass.gov.vn



 
Thông tin tác giả:
- Đại Đức Thích Đồng Lực
- Học vị: Tiến Sĩ (Đại học New Delhi, Ấn Độ)
- Công việc hiện nay:
+ Ủy viên Ban Hoằng Pháp tỉnh Bình Định.
+ Giáo thọ Trường Trung cấp Phật học Bình Định.
+ Chùa Thiên An, số 35, đường Lê Hồng Phong, phường Bình Định, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
+ Di động: 0965677048
 

[1] Nguyễn Thanh Xuân, “Vài nét khái quát về Tôn giáo trong vùg đồng bào thiểu số ở Việt Nam” (Religions among the Ethnic Minorities in Vietnam), tại Hội thảo Quốc Tế: Tôn giáo và Pháp quyền ở Đông Nam Á ngày 8-9/9/2006. Đăng tải vào ngày 20/01/2015 trên website: vnctongiao.vass.gov.vn
[2] Phật giáo có 20.000 tín đồ dân tộc thiểu số so với con số 256.910 của Công Giáo, 393.546 của Tin Lành
[3] Thích Gia Quang, “Khơi nguồn Phật pháp nơi vùng sâu vùng xa: Vấn đề đặt ra cho tổ chức Phật giáo ở Miền núi phía Bắc”, Nghiên Cứu Tôn Giáo số 04 (130), 2014, 67-74
[4] Kinh Tăng Chi
[5] Kinh Đại Bổn, Trường Bộ I

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây