Hoằng pháp cho đồng bào dân tộc

Thứ hai - 24/09/2018 23:36
 TS. Nguyễn Đức Can- Đại học Quốc gia Hà Nội
ng duc canHOẰNG PHÁP CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
                              
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc lại có bản sắc văn hóa riêng. Có 54 dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm 87% dân số, 53 dân tộc ít người còn lại chiếm 13% dân số và định cư rải rác trên địa bàn cả nước nhưng chủ yếu ở vùng núi và trung du.
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối độc lập tập trung như vùng núi
  1. Đặc điểm lối sống, sinh hoạt
Đặc điểm nổi bật của văn hóa của Việt Nam nói chung và dân tộc nói riêng là văn hóa làng, xã và là một nền văn hóa rất đa dạng.
Vì là văn hóa làng xã nên các dân tộc của nước ta đặc biệt là dân tộc ít người vùng sâu, vùng xa vẫn còn giữ các phong tục truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền.
Ngày nay, trong thời đại mới cùng với sự phát triển về khoa học kỹ thuật, thì đời sống của người dân tộc cũng được cải thiện đáng kể tuy nhiên vẫn còn không ít khó khăn hạn hẹp. Điều này tác động không nhỏ tới sinh hoạt, lối sống, tín ngưỡng, tâm linh… của họ. Và điều này tác động trực tiếp tới khả năng nhận thức, khả năng nhận biết, kiến thức, cũng như kinh nghiệm sống của người dân tộc.
Vì vậy, Đảng nhà nước đã không ngừng đầu tư giáo dục cũng như là nâng cao chất lượng giáo dục cho người dân tộc và dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa nhằm cải thiện tốt nhất cho bà con về văn hóa, đời sống, kinh tế…
  1. Đời sống tâm linh và nhận thức
Hàng ngàn năm qua, các dân tộc thiểu số ( DTTS ) sống dựa vào nương rẫy và tin thờ các vị thần. Đó là những vị thần linh được người dân tộc tôn thờ gắn liền với sinh hoạt của họ: thần sông, thần núi, thần suối, thần rừng, thần cây, thần mây, thần mưa, thần sấm …
Đồng bào dân tộc vẫn còn các phong tục mang tính chất vùng miền. Do đó, nhu cầu tâm linh của họ cũng rất cần được quan tâm. Không chỉ tôn trọng việc thực hành các tính ngưỡng nghi lễ truyền thống mà nhà nước ta còn đảm bảo cho các cơ sở tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số để họ tự do hoạt động. Ngoài những tôn giáo đã có mặt ở vùng dân tộc thiểu số như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, hay một số tôn giáo mới mà người dân đang theo cũng được chấp nhận để tạo điều kiện cho người dân được hưởng quyền tự do lựa chọn tín ngưỡng.
Từ nhận thức về lối sống, phong tục tập quán vùng miền của người dân miền núi cho thấy việc Hoằng pháp cho họ là vấn đề cấp thiết của Phật giáo.
Từ góc nhìn Phật giáo thì đồng bào dân tộc ít người miền núi ở nước ta là đối tượng nhân sinh có yêu cầu được bố thí cao hơn cả. Đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần và tâm linh của họ đều thiếu thốn. Mấy năm gần đây, nhờ sự phát triển kinh tế chung của cả nước nên đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào dân tộc ít người miền núi đã có bước cải thiện. Tuy nhiên, đời sống tâm linh của họ vẫn còn nhiều vấn đề. Từ đó, một số giáo phái nước ngoài, hoặc một số tà đạo khác đã tổ chức truyền đạo khá mạnh mẽ ở các vùng đồng bào dân tộc ít người.
Đây là một thách thức không nhỏ đối với việc Hoằng Pháp của Phật giáo chúng ta. Chúng ta cũng cần xem xét lại các cách thức, phương pháp để làm sao bà con tin tưởng và có được nhận thức đúng đắn, biết hướng về Phật pháp.
Các DTTS cần có nhu cầu tâm linh, nhưng trước đây Phật giáo chưa có điều kiện phát triển vào vùng các DTTS, vốn là địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa. Như vậy, trong hoàn cảnh hiện nay, từ quan điểm của đạo Phật, chúng ta thấy trong ba loại bố thí, thì đồng bào dân tộc ít người miền núi còn cần pháp thí. Cụ thể là giúp họ có chánh tín, quy ngưỡng Tam bảo, tu tập phước huệ là trách nhiệm lớn của Phật giáo Việt Nam hiện nay.
  1. Đặc điểm về ngôn ngữ
Đặc thù của các dân tộc Việt Nam là phong phú đa dạng, ngôn ngữ vùng miền.
Ngoài việc sử dụng tiếng Kinh làm ngôn ngữ chung thì người dân tộc thiểu số họ chủ yếu dùng ngôn ngữ của địa phương để giao tiếp. Việc sử dung ngôn ngữ phổ thông chỉ phục vụ cho việc học văn hóa, giao dịch, buôn bán…
Thậm chí có những vùng sâu vùng xa họ còn không biết ngôn ngữ phổ thông.
Đây cũng là một trong những khó khăn trong việc hoằng pháp của Phật giáo nơi vùng sâu vùng xa.
  1.  Thực tế việc hoằng pháp ở vùng dân tộc ít người
Có một thực tế là, công tác Hoằng Pháp cho đồng bào các dân tộc ít người không phải đến giờ mới đặt ra. Chỉ có điều là hoạt động đó chưa thật hiệu quả và nó mới chỉ phát huy nhiều trong việc giúp cho người Kinh tại các vùng đó hiểu biết nhiều về Phật pháp. Vấn đề đặt ra ở đây là phải làm thế nào để Phật Pháp đến với bà con các dân tộc ít người. Từ sự nhận thức ở trên về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tư duy và đặc thù tính cách của đồng bào các dân tộc ít người và từ thực tế có chút điều kiện đi “Hoằng pháp” và biết về công tác Hoằng pháp cho vùng sâu vùng xa, chúng tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
    1. Thuận lợi
  • Người dân vùng sâu vùng xa họ rất thích những cái gì mới lạ, do đó việc nghe những chia sẻ về Phật Pháp sẽ làm họ thích thú và kích thích sở thích này của họ. Điểm khác biệt giữa đô thị và vùng sâu vùng xa đó là sự phát triển về các phương tiện thông tin đại chúng, có nhiều nơi để giải trí, ngược lại ở vùng ít người thì lại thiếu thốn những cơ sở vật chất này. Do đó, nếu tổ chức sinh hoạt cộng đồng, hay tổ chức lễ hội, hay giảng Pháp… sẽ rất dễ thu hút, quy tụ được bà con dân chúng đến tham dự.
  • Phật pháp bên cạnh những giáo lý sâu sắc, vi diệu  còn có những bài giảng hay triết lý châm ngôn gần gũi, áp dụng vào thực tế của con người. Tận dụng tính cách chân thật, chất phác của bà con dân tộc người đi Hoằng Pháp cần tạo ra những bài giảng gần gũi thiết thực với cuộc sống, đây là điểm mạnh để cho người dân đón nhận, từ đó dễ xây dựng hoàn thành công việc “gieo duyên” hay thành lập các đạo Tràng.
  • Phật pháp lấy tình yêu thương bao la vạn vật muôn loài làm triết lý. Điều này cũng tương đồng với việc các đồng bào ta luôn coi trọng các vị Thần cai quản thiên nhiên, họ yêu thiên nhiên, yêu cây cỏ…những cái đem lại nguồn sống thiết yếu hàng ngày. Đây cũng là một lợi thế cho người đi Hoằng Pháp để hiểu thêm về sự gần gũi của bà con với thiên nhiên, và giá trị tốt đẹp này cần phải được phát huy và duy trì.
Ví dụ: Lễ hội Mùa xuân của các dân tộc Tây Nguyên
Lễ hội Mùa xuân, còn gọi là Lễ hội mừng lúa mới được đồng bào các dân tộc Tây Nguyên (Êđê, Giarai, Bana, Xơđăng, M’Nông) tổ chức sau mùa gặt hái, đón năm mới (thường bắt đầu từ cuối tháng 12 năm cũ đến tháng 3 năm mới). Theo tục lệ, hàng năm vào dịp kết thúc một mùa rẫy là đồng bào các dân tộc nơi đây cùng tổ chức lễ hội đón năm mới (gọi là mùa ăn năm, uống tháng). Sau lễ ăn cơm mới, các buôn làng tổ chức lễ cúng bến nước, để cầu mong mưa thuận, gió hòa, mọi người khỏe mạnh, nhà nhà nhiều lúa, bắp, trâu, bò, heo, gà… Cũng trong những ngày đầu xuân này, các buôn làng còn tổ chức lễ kết nghĩa anh em, lễ cưới, lễ trưởng thành, lễ cúng sức khỏe cho mọi thành viên trong cộng đồng. Cuối cùng, khi mùa xuân sắp kết thúc, người ta làm lễ cúng cầu mưa, cúng thần gió, cầu một năm mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt, nhà nhà no ấm, hạnh phúc. Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, đồng bào cùng nhau uống rượu cần, cùng nắm tay nhau nhảy múa trong tiếng cồng tiếng chiêng rộn rã…

Tất cả những điều này đều xuất phát từ sự tin tưởng vào một thế lực mang đến cho họ, người thân của họ những điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống.
Đặc biệt, việc Hoằng pháp luôn được sự ủng h t các cấp chính quyền, lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, cụ th là Ban Hoằng pháp Trung ương. Các Giảng sư luôn là những người tận tâm, không ngại gian khó để đem tri thức  Phât Pháp để giáo hóa cho bà con cũng là thuận lợi cho việc thuyết pháp diễn ra tốt đẹp.
    1. Khó khăn
Bên cạnh một số thuận lợi thì cũng không ít những khó khăn trong việc Hoằng pháp tới bà con vùng dân tộc ít người đặc biệt vùng sâu vùng xa.
  • Vì các dân tộc chủ yếu phụ thuộc vào việc chăn nuôi, canh tác nông nghiệp, nên bà con sẽ bị phụ thuộc bởi các vụ mùa nông nghiệp, dẫn đến số lượng Phật tử tham dự tham gia các buổi thuyết Pháp hoặc tu học hoặc tham gia các đạo tràng sẽ bị ảnh hưởng theo, và làm ảnh hưởng đáng kể đến việc Hoằng pháp.
  • Chủ yếu đối tượng tham gia là những người trung tuổi hoặc cao tuổi, hơn nữa phương tiện đi lại cũng như giao thông trên vùng sâu vùng xa không được như ở các nội đô phát triển, đường xá xa xôi, phương tiện đi lại khó khăn, chưa kể vào mùa mưa bão thì lại càng vất vả hơn nữa. Do đó, đây cũng là một trong những khó khăn lớn trong việc thực hiện Hoằng Pháp.
  • Trình độ văn hóa, dân trí thấp, nhận thức yếu kém, tuổi cao…dẫn đến việc tiếp thu sẽ chậm hơn, nghe khó hiểu, khó nhớ… Đối với việc Hoằng pháp thực tế ngày nay cho thấy không chỉ ở vùng dân tộc thiểu số mà ngay cả những khu vực phát triển có trình độ văn hóa cao , việc nghe một bài giảng Pháp mang triết lý sâu sắc thì các Phật tử cũng không thể nhớ và hiểu ngay lập tức  được chưa nói gì đến người dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa. Bản chất các Phật tử vẫn cho rằng đến chùa chỉ là để Lễ Phật, cầu xin sự ban – cho, hay kính lạy thuần túy, hoặc làm công quả để tích phúc…Còn vấn đề nghiên cứu học hỏi Phật pháp là xa vời, và việc giúp cho Phật tử hiểu được giáo lý là điều không hề dễ dàng.
  • Ngoài ra, có một số thực tế cho thấy, kể cả ở những vùng quê lân cận với các khu vực phát triển thì vẫn còn rất nhiều ngôi chùa thuộc làng xã, còn nghèo về cơ sở vật chất, năng lực, sự hiểu biết về Phật Pháp của Phật tử còn hạn chế … nên Trụ trì các trụ trì còn chưa mặn nồng với công tác Hoằng Pháp. Các ngôi chùa này vẫn giữ thói quen làng xã, tạo thói quen cho Phật tử lên chùa chỉ để thắp hương chủ yếu vào các ngày Rằm và mồng Một mà chưa tổ chức tìm hiểu, học giáo lý Phật pháp cho bà con.
  • Một trong những khó khăn cho việc Hoằng Pháp đó là thay đổi tín ngưỡng của người dân tộc. Bản chất người dân tộc có phong tục tập quán của riêng họ, mỗi một vùng miền lại có sự thờ cúng, tín ngưỡng riêng. Họ tin vào sức mạnh của Trời, của các vị thần: thần sông, thần núi, thần cây, thần lửa…họ luôn coi các vị Thần là tối thượng, là người ở vị trí cao nhất, họ không chấp nhận một nhân vật nào cao hơn thay thế những vị Thần đó. Do vậy, việc thâm nhập, thay đổi việc thờ cúng, tín ngưỡng của dân tộc ít người là một thách thức rất lớn đối với việc Hoằng Pháp Phật Pháp.
Ví dụ: Ở một số dân tộc của chúng ta như Tây Nguyên, trong thế giới tinh thần của cư dân bản địa thì “Yàng” là vị thần tối cao nhất, có mọi quyền lực chi phối đến con người, là nơi trừng phạt cũng như làm phúc cho bất kỳ một người nào. Mỗi dân tộc tuy cùng chung khái niệm “Yàng” nhưng mỗi nơi lại có một cách gọi, thờ cúng khác nhau.
Người Xê Đăng có khái niệm gọi thần là Yàng, là bốc, là dạ. Nhưng cách gọi phổ biến, rộng rãi nhất là Kia hoặc Kiếc dùng để chỉ các vị thần. Trong nghi lễ thờ cúng, người Xê Đăng coi trọng nhất là ông trời, thần sấm sét (Chư drai) hay thần lúa (Xri). Tâm thức của họ luôn mong chờ một sự che chở linh thiêng vô hình và tìm đến sự nương tựa để chống đỡ những mối đe dọa đến đời sống của họ.
Người Ba Na, Yàng được gọi một cách tôn kính là ông bốc (Bok), bà dạ (Yã). Trong đó Bốc Kơi Đơi, Dạ Cung Ké được coi là hai vị thần quan trọng nhất, là những vị thần sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài. Bên cạnh những vị thần quan trọng, người Ba Na còn thờ kính các vị thần như Bốc Roih (thần voi), Bốc Kla (thần cọp), Dạ Nôn (bà thiện), Dạ Cầu (bà ác), Yàng Đăk (thần nước), Yàng Kông (thần núi)...
Ở người Gia Rai cũng có rất nhiều thần linh được đồng bào coi trọng như thần nhà (Yàng Seng), thần làng (Yàng Alabôn), thần nước (Yàng Pênla)... Đồng bào quan niệm đó là những vị thần gần gũi với người dân, giúp người dân có nhà ở, bảo vệ mùa màng, làng mạc... Ngoài ra, người Gia Rai còn thờ cúng các vị thần khác vào những ngày lễ như thần đất, thần sét...
Trong tín ngưỡng thờ thần, người Giẻ Triêng chưa có sự đồng nhất giữa các cách gọi để phân biệt giữa đâu là thần, thánh và ma quỷ. Nhìn chung, tín ngưỡng đang còn nằm ở dạng đa thần. Tuỳ vào từng nơi, bản làng mà người dân gọi Yàng hoặc Năm để chỉ đến lực lượng siêu nhiên nào đó liên quan đến đời sống của họ.
Ở người Brâu, dù là một dân tộc có số lượng ít nhất so với các dân tộc khác ở Kon Tum nhưng tín ngưỡng thờ thần thì rất phong phú và đa dạng như thần mặt trời (Yàng mắt ngay), thần rừng (Yàng Bri), thần nước (Yàng đúc),...
Có thể nói, thế giới tâm linh của các cư dân bản địa Kon Tum rất phong phú, đa dạng. Thế giới đó đã tác động mạnh mẽ đến đới sống của đồng bào nơi đây. Chính những yếu tố đó đã chi phối đến cách ứng xử của họ đối với cộng đồng.
  • Người dân tộc ngoài việc tin các vị Thần của họ thì họ còn tin vào các Thầy Mo, thầy cúng vì đây là một trong những nhân tố đóng góp không nhỏ vào đời sống tâm linh của họ, người thay các vị Thần truyền phán, ban phát phúc lành hoặc thông báo giáng họa tới người dân, người kết nối giữa tâm linh với cong người. Do đó, người dân tộc họ cũng tin tưởng những vị này không kém các vị Thần. Do đó, người đi Hoằng Pháp phải là người giáo hóa những vị này trước, khi giáo hóa được họ thì chính họ sẽ là công cụ đắc lực trong việc mang đời sống tinh thần vào đời sống của đồng bào giúp họ hiểu rõ hơn về Phật pháp.
Người đi Hoằng Pháp không nên áp đặt, hay vội vàng coi phong tục truyền thống từ lâu đời của họ là mê tín dị đoan, vì nếu bài xích thì chỉ làm cho họ hiểu sai, và sẽ mất niềm tin vào tín ngưỡng mà chúng ta đang đi gây dựng cho họ. Đòi hỏi người Hoằng Pháp viên phải khéo léo, tinh tế xử lý các trường hợp.
  • Một đặc điểm nữa gây khó khăn cho người đi Hoằng Pháp đó là bà con dân tộc ở vị trí cách xa nhau, người đi Hoằng Pháp phải đi vận động, giáo hóa từng nhà từng người.
  1.  Kết lun  và gii pháp đ xut
Hoằng pháp hay hoằng dương chính pháp là hoạt động đưa giáo lý sâu xa của Đức Phật tới từng con người. Những người ấy, theo quan niệm của Đức Phật, là những chúng sinh còn chìm trong bể sinh tử. Xuất phát từ đặc điểm của mỗi chúng sinh, của mỗi một cộng đồng tộc người, và vì mỗi cộng đồng lại có tiếng nói riêng, có phong tục tập quán đặc thù, lại cư trú trên những vùng đất khác biệt nhau về độ cao và khí hậu; mà cần thiết có những phương cách truyền bá chính Pháp khác nhau.
Đức Phật, trong những lần thuyết giảng đã từng nhấn mạnh đến tính chất tùy thuận của Phật giáo, đến tính tùy duyên mà bất biến của giáo lý Phật giáo, và đề cập đến con số 84.000 pháp môn cần sử dụng trong kế hoạch thiện xảo của người đi hoằng Đạo, để nhằm mang lại lợi lạc cao nhất cho người tiếp nhận.
Như vậy, có nghĩa là không thể có một cách thức cụ thể, một công thức chung áp dụng cho tất cả mọi vùng, mọi nơi, mọi đối tượng được mà cần có sự áp dụng tùy biến vào từng môi trường, từng khu vực riêng. Đất nước có hơn 50 DTTS là có đặc trưng của hơn 50 tộc người, mang nét riêng biệt về văn hóa, về sự phát triển xã hội tộc người, về mức sống và lối sống; và có những hoạt động kinh tế riêng.
Để phục vụ cho việc Hoằng pháp có hiệu quả cần đưa ra mục tiêu trước mắt và dài hạn.
    1. Mục tiêu trước mắt
Cần nhận thức đúng tầm quan trọng và cấp thiết của công tác Hoằng pháp ở vùng DTTS . Muốn đạt hiệu quả của công tác Hoằng Pháp, cần nắm bắt, tìm hiểu đặc điểm về ngôn ngữ, lối sống sinh hoạt, phong tục tập quán, đặc biệt tín ngưỡng tâm linh của từng dân tộc nơi mà sẽ áp dụng việc Hoằng pháp.
  1. Tổ chức các buổi thuyết giảng ngắn trong tuần, trong tháng
Đây là những buổi gặp gỡ, trao đổi, giao lưu thường xuyên nên tổ chức vào ngày cố  định  trong tháng. Nên tổ chức những buổi truyền pháp ngắn, bằng hình ảnh hơn là qua sách vở. Nội dung là những đoạn băng đĩa tóm tắt cuộc đời của đức Phật, hoặc một số mẫu chuyện về đức Phật trong nhiều kiếp của Người, về các vị Bồ tát, về những tấm gương hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, những tấm gương tốt, những việc làm tốt trong cuộc sống đời thường…để cho bà con dễ hiểu, dễ nhớ. Đặc biệt, cũng lưu ý với người DTTS trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn các cây, con quý hiếm trong rừng; hạn chế sát sinh, không chặt phá rừng bừa bãi… Hình thức hoằng pháp này dễ được ghi nhớ và tạo không khí vui vẻ, dễ thực hiện
  1. Tổ chức hoạt động sinh hoạt văn hóa – nghệ thuật
Hoằng pháp viên lên chương trình tổ chức, hướng dẫn bà con trong buôn làng tham gia sinh hoạt văn nghệ, có thể vào cuối tuần, sử dụng các nhạc cụ dân tộc địa phương trong ca múa, hát các chủ đề có liên quan đến Phật giáo.
  1. Tổ chức các hoạt động từ thiện kết hợp với hoạt động kinh tế
Do đặc thù trong lối sống và điều  kiện  sống của đồng bào các DTTS, hoạt động từ thiện - xã hội cần kết hợp với hoạt động Hoằng Pháp. Thông qua hoạt động từ thiện chúng ta giúp bà con đến với Phật Pháp, bước đầu họ biết được hình ảnh vị tu , các vị hành giả mang tâm Phật, họ hiểu được đến với Phật Pháp là đến với tình yêu thương, vị tha, sự đùm bọc chia sẻ. Những hoạt động từ thiện với sự trợ giúp về kinh tế đã giúp họ phần nào những khó khăn trước mắt về kinh tế sẽ khiến họ tin yêu và dần gắn bó với Phật Pháp. Ở những nơi bà con đã có Phật Pháp, thì đẩy mạnh Công tác từ thiện cúng dường Tam Bảo bằng cách cúng ngày công lao động trong việc trồng cây và thu hoạch cây, quét dọn, hoặc làm công đức trong các ngày giỗ tổ, các ngày lễ trong năm … Qua các họat động trên, còn giúp cho người dân tộc hiểu biết rõ hơn và tập thực hành hạnh bố thí, một yếu tố giữ được kiên định, nhất quán đầu tiên và cơ bản nhất trong 6 yếu tố (lục độ) của quá trình tiến tu trong Phật giáo.
Cùng với những họat động của nhà nước thông qua các tổ chức từ thiện nhằm giúp cho bà con tốt hơn lên mọi mặt thì người đi Hoằng Pháp cùng kết hợp trực tiếp thực hiện hoạt động đó để bà con hiểu rằng họ đang được nhận sự giúp đỡ từ phía nhà nước, từ cộng đồng, từ người đại diện Phật Pháp làm cho cuộc sống họ tốt hơn, và đặc biệt là họ cảm thấy không xa lạ, và gần gũi hơn với những người đại diện cho Phật Pháp. Điều này giúp cho việc giáo hóa dễ dàng hơn rất nhiều.
  1. Nâng cao đời sống vật chất của bà con
Nâng cao đời sông vật chất tinh thân cho bà con các dân tộc ít người là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng và nhà nước. Nhưng với người làm công tác Hoàng Pháp thì cũng nên coi đó mà việc làm không kém phần quan trọng. Ngoài việc nâng cao đời sống tinh thần, thì nhiệm vụ của người Hoằng Pháp cần phải nâng cao đời sống vật chất cho bà con. Vì có câu châm ngôn : “Có thực mới vực được đạo”, “dĩ  thực vi tiên” muốn nói rằng đời sống vật chất có ổn định, cải thiện thì đời sống tinh thần mới của bà con mới được nâng cao. Lúc này, người Hoằng Pháp như vai trò của một nhà Công tác xã hội.
    1. Mục tiêu dài hạn
  1. Đào tạo các Hhoằng pháp viên
Trong tất cả các hoạt động, dù trong bất kể lĩnh vực nào thì yếu tố dẫn đến thành công chính là  nhân tố con người tức là nhân sự. Không có con người thì không thể đưa nội dung hoạt động đến từng đối tượng – chính là vùng miền để Hoằng Pháp. Con người ở đây chính là những hoằng pháp viên có năng lực trên nhiều góc độ: tận tâm, có kiến thức về dân tộc thiểu số và đặc biệt am hiểu Chánh Pháp.
Trong đó, kiến thức về các dân tộc thiểu số là quan trọng nhất đối với người thực hiện Hoằng pháp. Để đào tạo một hoằng pháp viên có đầy đủ năng lực hoằng pháp tại vùng DTTS, trước hết hoằng pháp viên ấy phải có kiến thức về dân tộc mà mình đến hoằng pháp. Kiến thức ấy, ngoài việc được trang bị lý thuyết, vốn là những thông tin từ sách vở, từ những buổi nói chuyện, trao đổi với các chuyên gia Nhân học/Dân tộc học, còn là những buổi sinh hoạt dài ngày tại nơi cần đến, để nắm bắt thực tiễn, hiểu hơn về cách sống, lối sống, luật tục và tập quán pháp của các dân tộc này. 
Ngoài ra, hoằng pháp viên cũng cần tìm hiểu và có kiến thức rộng về địa bàn sinh sống của DTTS nơi mình đến hoằng pháp, hoặc những kiêng kỵ thuộc về phong tục tập quán được người DTTS đặt ra và được lưu giữ qua nhiều thế hệ. Đó là những việc rất nhỏ nhưng cũng có thể làm phá vỡ các kế hoạch lớn của hoằng pháp viên trong quá trình đi hoằng pháp. Ví dụ: Người Thái có tục kiêng cữ phụ nữ chải đầu trong nhà, kiêng ngủ màn trắng, v.v… vì đó là những việc chỉ làm cho người vừa mới qua đời. Những điều nhỏ nhặt ấy nếu vô tình chúng ta chưa nắm rõ, khi vào sinh hoạt với gia đình, sẽ dễ tạo nên khoảng cách, khó gần gũi, thân mật để có thể “đưa đạo vào đời”. Người Hoằng Pháp phải kiên trì, không nóng vội, không tỏ thái độ bài xích trước những nhận thức sai lầm hoặc những hủ tục của bà con các dân tộc. Không nên vội quy kết những kiêng kỵ là mê tín dị đoan, để phủ nhận sạch trơn những luật tục vốn đã hình thành và được bảo tồn qua nhiều thế hệ.
Một điều tối quan trọng là, để có thể hoằng pháp hiệu quả tại vùng DTTS, hoằng pháp viên phải học ngôn ngữ của họ, thấu hiểu thật kỹ phong tục tập quán của họ. Việc này đòi hỏi người xuất gia, người đi Hoằng Pháp phải là người có tư tưởng dấn thân, không ngại gian khổ, có sự kiên trì lớn, nỗ lực không ngừng trong việc rèn luyện trí tuệ, vượt qua được gian khổ, thậm chí kể cả phải vượt qua được những hạn chế cố hữu trong tâm lý của bản thân như: chán nản, điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, khó khăn mọi mặt, ít Phật tử… để giữ được kiên định, nhất quán và đi đến thành công. Như vậy chúng ta cần có những vị xuất gia, những vị Hoằng Pháp “cắm bản” để thực hiện việc Hoằng Pháp thường xuyên, liên tục, thấm dần. Các vị xuất gia và Hoằng Pháp viên phải sử dụng được ngôn ngữ, tiếng nói của đồng bào các dân tộc ít người. Và cấp bách hơn là việc chúng ta phải giáo hóa được người dân tộc ngộ đạo, xuất gia tu học để rồi chính họ sẽ quay trở lại giác ngộ cho bà con các dân tộc của họ.
  1. Xây dựng các chùa và các cơ sở thờ tự tại khu vực Hoằng pháp
Công việc lâu dài này được đặt ra trong những vùng sâu vùng xa chưa có cơ sở tự viện. Đối với những nơi đã có chùa, tịnh thất, niệm Phật đường… thì nên sử dụng những cái đã có, trang bị thêm một số phương tiện nghe nhìn để được thuận lợi hơn trong hoằng pháp.
Nếu xây dựng tự viện mới, cần lưu ý đến tộc người tại chỗ, đa số là tộc người nào, để có thể trang trí màu sắc và nghệ thuật theo đúng nhu cầu, tâm lý, đặc trưng văn hóa của tộc người ấy. Cần đặc biệt lưu ý đến kỹ thuật và kiến trúc cơ sở tự viện theo như kiến trúc nhà ở của tộc người tại địa phương, nhất là cần lưu giữ dạng nhà sàn đối với những vùng có núi cao và thung lũng, nhằm tránh thú dữ và các côn trùng độc hại.
  1. Ấn tống kinh điển, văn hóa Phật giáo
Kinh sách phổ biến trong vùng các DTTS bước đầu cần ngắn gọn, nhiều hình ảnh, như các truyện bằng tranh có màu sắc, truyện kể có tư tưởng, giáo lý Phật giáo. Về lâu dài, cần phát hành kinh sách bằng tiếng dân tộc. Văn hóa phẩm Phật giáo cần đưa hình ảnh các vị Phật, Bồ tát vào từng hộ gia đình có đạo để thờ tự.
  1.  Hướng dẫn cho bà con cách thức đọc tụng kinh điển và các nghi lễ trong Phật giáo
Ngoài việc ấn tống kinh sách thì việc hướng dẫn cho bà con cách đọc tụng, giải thích các từ ngữ trong Phật giáo là điều không thể thiếu.
Các nghi lễ cơ bản trong Phật giáo cũng cần được hướng dẫn cụ thể để bà con biết được mình đang lễ ai? Lễ như thế nào? Lễ ra sao là đúng?
Việc thực hiện các mục tiêu trước mắt và lâu dài cần phải được thường xuyên và lâu dài, liên tục.
Có sự điều phối nhân lực bổ sung cho những nơi thiếu nhân lực.
Vận động kinh phí cho việc Hoằng pháp tại vùng sâu vùng xa.
Tổ chức các khóa huấn luyện cho Hoằng pháp viên để nâng cao kiến thức.
Tổ chức các buổi đàm đạo, tọa đàm với các khu vực lân cận để trao đổi thông tin, rút ra kinh nghiệm cho khu vực mình hoạt động.
Chăm lo đời sống, hướng dẫn cho bà con chăm lo sản xuất cải thiện đời sống, cải thiện tinh thần, ổn định kinh tế từ đó việc Hoằng pháp sẽ được cải thiện theo chiều hướng đi lên tích cực.

THAM KHẢO
  1.  Kỷ yếu Hội thảo Hoằng pháp với truyền thống “Hộ quốc an dân”, Kiên Giang tháng 5 năm 2010. 
  2. Mùa lễ hội của các đồng bào dân tộc – báo Tin tức
  3. Giáo dục Phật Giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại, Kỷ yếu Hội thảo (35 năm thành lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam 1981 – 2016), HN ngày 06 tháng 11 năm 2016
  4. Phật Giáo Trúc lâm: Hội tụ và lan tỏa, Quảng Ninh, tháng 12 năm 2015.
  5.  
HOẰNG PHÁP CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
 TS. Nguyễn Đức Can- Đại học Quốc gia Hà Nội
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây