81. ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ: NHỮNG THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Chủ nhật - 09/09/2018 19:07
ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ: NHỮNG THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
ĐĐ.TS. Minh Duy
Tịnh xá Ngọc Thịnh – Bình Dương
 
DẪN NHẬP

Trong giai đoạn thế kXX, tình hình đất nước đang trong tình trạng rối ren bởi Pháp thuộc, Phật giáo do bảnh hưởng của thời cuộc nên cũng đi o tình trạng suy vi. Trước tình hình nhiễu nhương của xã hội, niềm tin n giáo bpha tạp, phai nhạt dần tính trong sáng thánh thiện, n chư n đức lãnh đạo Phật giáo đã phát động phong trào chấn hưng Phật giáo. Trong tình trạng n ngưỡng bpha tạp giữa c niềm tin n giáo, một nguồn ánh sáng mới xuất hiện p phần củng clại niềm tin và đồng thời đã trthành một trong những nguồn dưỡng chất tinh thần, m linh cho quần chúng tại miền Nam Việt Nam thời bấy giờ. Nguồn ánh sáng mới đó là Đạo Phật Khất Sĩ, mang đậm bản sắc đặc trưng của người n Việt Nam với n chvà n gọi: Nối truyền Thích-ca Chánh pháp – Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam.

Đạo Phật Khất Sĩ (ĐPKS) là một mô hình khôi phục và tiếp nối đường lối y t chân truyền và tu tập sinh hoạt theo mẫu mực Tăng đoàn c Phật n tại thế. Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn ba thế kỷ, giáo pháp Phật u truyền theo hai hướng Nam-Bắc, và tùy theo căn cơ trình độ, phong tục, địa dư và n a đời sống của n chúng khác nhau mà phương pháp tu tập, hành trì cũng biến thiên hội nhập.

Khi Pháp xâm lăng nước ta, đi đôi với việc áp đặt nền cai trị là
 


nền văn hóa, tôn giáo Tây Âu, xã hội Việt Nam bị phân hóa, xáo trộn và nét văn hóa truyền thống cha ông cũng bị đe dọa. Trong tình hình xã hội rối ren, một số tổ chức chống ngoại xâm ra đời, đồng thời cũng xuất hiện nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo nội sinh kết hợp với chính trị để bảo vệ Tổ quốc. Trước tình cảnh đó, Tổ sư Minh Đăng Quang xuất hiện làm sống lại, tươi nhuận một đạo Phật đang bị biến dạng, song song với trào lưu chấn hưng Phật giáo khắp nơi. ĐPKS ra đời đã kết hợp hài hòa giữa hai truyền thống Nam và Bắc truyền, từ hình thức đến nội dung, thích hợp với trình độ dân trí và văn hóa người dân Nam Bộ lúc bấy giờ. Đây là một dạng Đạo Phật góp phần tạo thế vững vàng, không những trong lãnh vực tôn giáo tín ngưỡng mà còn là nét văn hóa trong sáng cho dân tộc trong thế kỷ
XX. Trăm hoa đua nở của các tổ chức kháng chiến, của những tông phái Phật giáo, báo hiệu dân tộc sớm hưởng cảnh bình minh của đất nước sau thời gian dài tăm tối bởi ngoại thuộc.

Xã hội ngày nay đang trong bối cảnh toàn cầu hóa, Phật giáo cũng đang chuyển mình và đồng hành tốt trong quá trình này. ĐPKS cũng không thể nằm ngoài xu hướng ấy nếu muốn phát triển một cách hài hòa vào lòng dân tộc. Theo quy luật tự nhiên, không một sự vật, sự việc nào tồn tại một cách độc lập mà không cần những yếu tố ngoại duyên. Chúng cần phải có sự quan hệ hỗ tương mà trong giáo lý nhà Phật gọi là trùng trùng duyên khởi. Có thể nói, trong thời điểm hiện nay, Phật giáo Việt Nam nói chung hay Hệ phái Khất sĩ nói riêng, đang trong giai đoạn chuyển mình, có cơ hội phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên cũng có những khó khăn và thách thức cần phải vượt qua.

Hphái Khất sĩ đang a nhập và đồng hành cùng Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đóng p y dựng xã hội sau khi đất nước thống nhất. Ngoài skế thừa chuyên tu hành trì theo đường lối Tthầy đlại, chư Tăng Ni Hphái Khất sĩ đã cập nhật c kiến thức đạo học và thế học đtheo kịp svận hành của thời đại, đồng thời vẫn giữ được những t đặc thù, bản sắc riêng biệt của Hphái.
 
 
  1. NỘI DUNG
 
    1. Hoàn cảnh ra đời của Đạo Phật Khất Sĩ

Khi thực dân Pháp đặt chân lên mảnh đất Nam Kỳ vào giữa thế kỷ XX, cũng là lúc người Việt Nam chịu nỗi đau mất nước, giáo quyền đạo Phật bị đàn áp, bởi người Pháp bảo hộ sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam, Phật giáo có chiều hướng suy yếu.

Thời kỳ này ở Nam Bộ Việt Nam, mảnh đất có nhiều thành phần dân cư từ các nơi khác đến sinh sống, với các phong tục tập quán, tín ngưỡng mà họ mang theo, góp phần quan yếu cho sự hình thành và xuất hiện nhiều tôn giáo mới như: Đạo Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo... Xã hội thời kỳ này còn rất lạc hậu, đời sống cơ cực do chịu sự đô hộ của thực dân Pháp, nên họ muốn hướng về đời sống tâm linh để tìm nguồn an lạc nơi nội tâm.

ĐPKS ra đời (1944) với đường lối tu tập hành trì và tôn chỉ Nối truyền Thích-ca Chánh pháp - Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam” đã được nhiều người kính ngưỡng, ủng hộ và quy hướng theo.
    1. Tính đặc thù của Đạo Phật Khất Sĩ

Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam do Đức Tsư Minh Đăng Quang sáng lập và tthân hướng dẫn sinh hot, tu học theo truyền thống của Pht Tăng a (trì bình kht thực, ăn ngọ, không giữ tiền, du phương hành đạo, sống dưới những gốc cây...). Ngày nay, Hphái Khất sĩ một hphái biệt truyền, mặc dsinh hoạt tuân ththeo giới luật nhà Phật cũng như hiến chương GHPGVN, nhưng hphái vẫn có những phương thức tchức và sinh hoạt truyền thống cần n n giữ và phát huy. n cạnh đó, những gì không phhợp cần phải thay đổi đthích nghi với xã hội thì cũng n thay đổi, thậm chí là bhẳn. Cần dung hòa và hthống lại đcó sđồng nhất giữa nội dung và hình thức.
      1. Kiến trúc – thờ phụng

Đạo Phật Khất Sĩ buổi đầu không nặng vhình thức, thphượng cốt tượng, Đức Tsư dạy trong Chơn l“Thphượng”: “ThuPhật sanh tiền, Phật và Tăng là bậc giải thoát tu chơn, n không cthờ
 


phượng. c Ngài không cy ra sthphượng n ngoài, cùng các nghi l cúng kiến phức tạp; c Ngài ch qutrọng tư tưởng giáo lý. […] Vậy thì chúng ta n hiểu rằng thphượng là một phương pháp tạm trong c đầu cho kác quấy tội lỗi yếu m non dạ. Sthphượng tạm y là đan i khuyến khích kềm giđức tin, nhắc nhcho kmới sơ cơ, như nhdại một c đầu thôi, rồi vsau là phải tgiác ngộ, tlo tu để mà m Phật, y như Phật, chphải đâu vĩnh kiếp m i đòi cho cốt tượng”1. Chính vì thế mà trong c tịnh xá Khất sĩ thời kđầu, ngoài tượng Đức Phật Bổn sư và tranh hình Tổ, không ththêm bất chình cốt o khác.

Tịnh xá là i thphượng và là chcư trú cho chư Tăng Ni. Mô hình nguyên thủy của tịnh xá là t giác (8 cạnh), tượng trưng cho Bát chánh đạo, là biểu tượng con đường Trung đạo đưa chúng sanh đến sự an lạc giải thoát. n trên là hình tgiác tượng trưng cho Tdiệu đế - nền tảng n bản trong giáo lý Phật-đà. Nhìn o tịnh xá trông thanh thoát và thoáng đãng. Theo quy cách y dựng a kia: Tịnh xá phải 8 thước, vuông bốn phía, hình t giác. Cnhà giảng thuyết pháp, góc vuông 16 thước. Cnhà đm nghmát, bngang 8 thước, bi 16 thước (ba i y gọi là nhà Tam Bảo), và cnhà thriêng cho cư gia, bi 8 thước, bngang 4 thước2. Phía n trong chánh điện thtôn tượng của Đức Bổn sư Thích-ca ngồi n trong a bảo tháp c có 13 tầng, biểu tượng của con đường tiến a tchúng sanh đến quPhật (lục phàm – tthánh – tam tôn).
      1. Đời sống tu học

Ban đầu khi ĐPKS ra đời, Tăng đoàn chỉ trú dưới gốc cây và không ở quá hai đêm một chỗ, không nấu nướng cất giữ, không thọ nhận tiền bạc vật báu; và sau khi có trú xứ, chư Tăng chỉ được phép lưu trú không quá 3 tháng một chỗ. Nhưng khi Tăng đoàn Khất sĩ đã hòa nhập chung với sinh hoạt Giáo hội, việc bổ xứ di trú hay cất
  1.  
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, tp III, Thphượng, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2009, tr. 248-249.
  2. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, Lut nghi Kht sĩ, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2004, tr. 55.
 


giữ tiền bạc, ăn ngọ... cũng được tùy duyên uyển chuyển. Tuy vậy, những điều căn bản trong nếp sống truyền thống Tăng đoàn Khất sĩ vẫn được nghiêm trì. Tăng Ni Khất sĩ ngày nay cũng đã theo đuổi kịp kiến thức thời đại, nhưng chuyên tu hơn là trau dồi học vấn.

Đời sống tu học của Tăng sư Khất sĩ truyền thống dựa trên nền tảng Tứ y pháp, tức quy chế phạm hạnh trong Luật tạng được Tsư tự thân hành trì, triển khai và khuyên dạy đchúng. Bốn điều y là nền tảng phạm hạnh mà một vTỳ-kheo phải hành trì suốt đời với mục đích làm thanh tịnh thân tâm, hướng đến hạnh x ly, thoát khỏi mọi sràng buộc của vật chất đời thường. Tứ y pháp gồm: 1. Nhà sư Khất sĩ phải lượm những vải bmà khâu lại thành áo nhưng cai cúng vải, đcũ thì được nhận; 2. Nhà sư Khất sĩ chăn đxin mà thôi nhưng ngày hội thuyết pháp, đọc giới bổn, thì được ăn tại chùa; 3. Nhà sư Khất sĩ phải nghỉ dưới cội y nhưng cai cúng lều, am nhthì được ; 4. Nhà sư Khất phải lượm phân uế của bò mà m thuốc trong khi đau, nhưng cai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng3. Sống và hành theo Tứ y pháp, tức đang sống và đi trên con đường x ly tịch tịnh, hướng đến sgiác ngộ, giải thoát như chư Phật ba đời: Khi a Đức Phật chra Chánh pháp Tứ y pháp, Trung đạo mà chư Phật và chư Tăng đã hành trìvà “ai hành trì đúng Tứ y pháp là đúng Chánh pháp của chư Phật ba đời, là giáo lý Y t chơn truyền4.
      1. Pháp danh

Trước đây, cách đặt pháp danh cho Tăng Ni trong Hệ phái đều nhất quán và mang nét đặc thù. Tất cả pháp danh trong Hệ phái chỉ lót chữ Giác hoặc Minh đối với chư Tăng, và chữ Liên dành cho chư Ni. Thế nhưng, hiện nay vấn đề này không còn tính nhất quán, rõ ràng nữa. Một số Giáo đoàn đặt pháp danh cho đệ tử chữ đầu ngoài Giác và Minh còn có Giác Minh, Giác Đăng. Điều này cần có chủ trương chung và có phương thức thực hiện để tăng cường độ nhất quán cho những thế hệ kế tiếp.
 
  1. Sđd, Chơn lý,Lut nghi Kht sĩ, tr. 47.
  2. Sđd, Chơn lý, tp II, Chánh pháp, tr. 13.
 
 
      1. Pháp phục

Cần có sự đồng bộ và thống nhất về màu sắc kiểu may. Đây là một vấn đề đã từng được chư Tôn đức Giáo phẩm quan tâm và chỉ thị, nhưng sự thực thi vẫn còn tính chất tự phát, chưa có sự đồng bộ và quán triệt một cách rộng rãi toàn vẹn. Một số vị có khuynh hướng sử dụng y điều, với từng miếng có kích cỡ y như nhau, may ráp khuôn rập với hình thức tương tự như truyền thống Nam truyền. Điều này làm giảm đi tính chất “lượm những vải bỏ mà khâu lại thành áo”, điều đầu tiên trong Tứ y pháp mà cũng là điểm nhấn của Đạo Phật Khất Sĩ ngày xưa. Ngược lại, là trường hợp may y bá nạp quá dày, quá nhiều màu. Việc thái quá bất cập ấy cần phải được điều chỉnh để có biểu tướng của trung đạo và để sự thống nhất của Tăng đoàn được biểu thị ở hình thức pháp phục.
      1. Nghi lễ, nghi thức tụng niệm

Hệ phái cũng cần có sự thống nhất rõ ràng và hệ thống cụ thể. Hiện nay, Hệ phái có quyển Nghi thức Tụng niệm nhưng ở mỗi đạo tràng, tịnh xá vẫn chưa thực hành một cách đồng bộ và nhất quán. Giờ tụng niệm buổi tối tại các đạo tràng, tịnh xá mỗi nơi hành trì theo mỗi nghi thức, chưa nói đến vấn đề thời thọ trì công phu khuya hay những thời thọ trì khác, có nhiều nơi không biết thọ trì kinh gì, nghi thức gì cho phù hợp. Đây là vấn đề quan yếu mà lãnh đạo Hệ phái cần lưu tâm xem xét, điều chỉnh lại để có sự nhất quán cần thiết.
      1. Đào tạo – Giáo dục

Ngay từ những ngày đầu khởi nguyên của Hệ phái, ngoài những lúc hướng dẫn Tăng đoàn đi khất thực hóa duyên, dạy đạo cho cư gia bá tánh, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang còn giảng dạy kinh điển
- chơn lý, huấn luyện oai nghi, truyền trao giới luật và những kinh nghiệm tu tập cho hàng môn đồ tứ chúng. Đệ tử học từ nơi Ngài qua thân giáo và khẩu giáo, hầu hết đều được thấm nhuần giáo pháp và tông chỉ một cách hiện thực và sống động. Sau khi Đức Tổ sư vắng bóng, chư vị Đức Thầy, Trưởng lão vẫn tiếp nối con đường hoằng pháp của Ngài. Do điều kiện khó khăn của thời cuộc lúc bấy giờ, quý
 


Ngài cũng không có điều kiện thuận duyên để tổ chức các trường lớp chuẩn mực nên sự giáo dục truyền thừa từ Thầy sang trò, từ những bậc Thầy, Trưởng lão đối với hàng đệ tử, hậu học mang tính gia giáo mà thôi. Tuy sự dạy dỗ này mang đậm chất “gia giáo” nhưng vẫn mang lại hoa thơm trái ngọt. Mỗi vị thầy đều thể hiện sự tự thân tu tập và trực tiếp chỉ dạy cho học trò về đời sống phạm hạnh của người xuất gia. Theo truyền thống Khất sĩ thì:

Bước đầu bổn phận làm trò,

Cả thân tâm ý dâng cho người thầy, Mặc người uốn nắn chuyển xoay, Để mình diệt hẳn riêng tây ý xằng5.
Phương pháp nguyên thủy dạy dỗ và đào tạo học trò của Hệ phái mang tính đặc thù trong truyền thống giáo dục Phật giáo. Phương pháp này giúp cho người học trò mới bước vào cửa đạo bỏ dần tự ngã, điều phục tâm tánh, dễ dàng thăng hoa trên đạo lộ giải thoát.

Ngày nay, do đời sống xã hội đang ngày càng phát triển, slượng giới trxuất gia m đến với đạo Phật cũng gia tăng. Trong lớp tuổi xuất gia đó có nhiều con em sinh trưởng tgia đình có truyền thống đạo Phật, hay xuất thân tnhững tchức đơn vGia đình Phật tử. Những người xuất thân ti trường Phật pháp như vậy mang một hoàio và chí nguyện rất lớn, tràn đầy đức tin và nhiệt huyết muốn h đạo giúp đời. Lòng hluôn hướng đến con đường chân ,m sự an lạc giải thoát cho tthân và tha nhân. Thế nhưng, n cạnh đó cũng không ít những người xuất gia vì lý do hoàn cảnh khác nhau, vì kinh tế gia đình hay những mục đích khác. Do vì thời duyên những yếu tkhách quan, nhiều vtrtrì của một sđạo tràng, tịnh xá thâu nhận người xuất gia mà không ý thức đầy đđến trách nhiệm ‘trồng ngườinặng nnhư thế o n chưa dành đthời gian, điều kiện đgiáo huấn, và hướng dẫn người mới o đạo tu tập theo truyền thống của Tthầy a kia. Mặt khác, có những ngôi đạo tràng, tịnh

5. Tổ sư Minh Đăng Quang, Lut nghi Kht sĩ, Ý, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2004, tr. 25.



xá không có đTăng sư trú xquán xuyến, chăm lo c công việc trong tviện n c vtrtrì những i đó đã chấp nhận, cũng như thâu nhận Tăng chúng một cách quá ddãi. Thậm chí, hcó thnhận người mà không biết rõ nguồn gốc, không qua skiểm tra sàng lọc đồng thời không dành nhiều thời gian gần i và dạy dđtử. Những thành phần y theo thời gian rồi cũng trưởng thành nhưng lại thiếu kiến thức, thiếu stu tập hành trì. Nếu không kịp chấn chỉnh, tình trạng y slà một trngại lớn cho sphát triển của Hphái Khất i riêng và Phật giáo Việt Nam i chung.
  1. KẾT LUẬN

Dẫu biết rằng, ngay tthukhởi nguyên của đạo Phật, c Đức Thế n n tại thế, cũng như c ban sơ của ĐPKS, khi những bậc Tổ, Thầy n hiện tiền thì những vấn đhọc tập cũng như truyền bá giáo lý không mang tính cấp thiết, mà mục đích tối hậu của một hành gi nlực tu tập đđạt được giải thoát. Thế nhưng, Phật giáo muốn tồn tại song hành cng với thời đại thì phải có những thay đổi cho phhợp.

Chúng ta đang sống trong thế kXXI của khoa học và tri thức nên phải uyển chuyển ứng dụng tính phương tiện và nhập thế của nhà Phật. ĐPKS cũng vậy, không thcphải cứng nhắc y theo những của buổi sơ khai như là không giữ tiền, sống dưới những gốc cây, v.v... Những gì là tinh hoa đặc thcủa Hphái thì cần phải phát huy và gìn giữ, thế nhưng những gì không n thích ứng và phhợp với thời đại thì cần phải sửa đổi thậm chí là bhẳn. Tiếp thu có chọn lọc, phát huy có nền tảng là điều ĐPKS cần m đcó thđứng vững và phát triển theo cng thời gian.

Tinh thần cốt tủy của đạo Phật cũng như ĐPKS, i bản chất ban sơ vốn có của nó cần phải n giữ và phát huy, không được đánh mất hay m phai mđi. Xin được trích dẫn lời của HT. Giác Toàn phát biểu tại buổi lTưởng niệm 55 m Đức Tsư Minh Đăng Quang vắng bóng, thay cho lời kết: “Sthay đổi hình thức sinh hoạt của Phật giáo nói chung, và của Hphái Khất sĩ nói riêng, là y cơ đphù hợp với thời duyên; nhưng i tinh thần Khất sĩ của Tăng Ni vẫn i duy trì”.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây