79. PHẬT GIÁO KHẤT SĨ Ở THỪA THIÊN HUẾ: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Chủ nhật - 09/09/2018 18:55
PHẬT GIÁO KHẤT SĨ Ở THỪA THIÊN HUẾ: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
ThS. Lê Thọ Quốc
Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế
Phật giáo Khất sĩ tuy mới hình thành vào những thập niên nửa đầu thế kỷ XX, nhưng sức sống cùng những tinh túy đặc trưng trong tu đạo và hành đạo đã phát triển lan rộng trên cả nước. Ở Thừa Thiên
- Huế, vốn ảnh hưởng sâu đậm Phật giáo Bắc tông nhưng với sự nhu nhuyến của mình, Phật giáo Khất sĩ đã xây dựng được tịnh xá và sinh hoạt trên đất thần kinh xứ Huế trong những thập niên 50 và 60, đóng góp không ít cho tiến trình phát triển Phật giáo nói chung và Phật giáo Khất sĩ nói riêng ở vùng đất phía Bắc miền Trung.

Sự hình thành và phát triển Phật giáo Khất sĩ trên vùng đất này đã để lại những dấu ấn riêng biệt, điểm tô bức tranh Phật giáo với nhiều nét văn hóa đặc sắc trên tất cả các mặt thể hiện. Và đó cũng là sự hội nhập Phật giáo trong thời đại mới bằng cách riêng của chính mình trước những thử thách, thay đổi của thời cuộc, đáp ứng sự phát triển xã hội hiện đại và nhu cầu tín ngưỡng tâm linh.

Từ những vấn đề trên, tham luận chú trọng đến các vấn đề: Từ những nhân duyên… đến sự hình thành và phát triển Phật giáo Khất sĩ ở Thừa Thiên - Huế, nhằm làm rõ bức tranh Phật giáo Khất sĩ ở Huế trong suốt chiều dài phát triển của Phật giáo Khất sĩ Việt Nam.
  1. Đặt vấn đề

Di sản văn hóa Phật giáo đã có ảnh hưởng nhất định trong văn
 


hóa tín ngưỡng của cư dân Việt và đã tạo nên một bản sắc văn hóa đặc sắc, hòa đồng, tinh tế với những chuyển biến tích cực trong đời sống hằng ngày đối với cộng đồng cư dân sinh sống trên dải đất miền Trung. Với Phật giáo Khất sĩ, mặc dù ra đời muộn trong nửa đầu thế kỷ XX nhưng đã có tác động, ảnh hưởng khá lớn đến các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người dân trên vùng đất Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Huế nói riêng. Dấu ấn văn hóa Phật giáo Khất sĩ hiện diện trên vùng đất Huế có những nét tương đồng lẫn các dị biệt khi hòa nhập vào đời sống văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng cư dân ở đây. Tuy nhiên, với một tính chất linh hoạt, hòa hợp và tiếp biến, sự phát triển của Phật giáo Khất sĩ đã đóng góp một phần không nhỏ trong đời sống tín ngưỡng và các sinh hoạt văn hóa Phật giáo ở Huế. Điều đó đã cho thấy, Phật giáo là tôn giáo dễ tìm được sự sống chung trong dòng chảy văn hóa dân gian của các quốc gia phương Đông, mặc dù sự lưu truyền của nền triết giáo Phật theo hướng chính thống luôn được bảo tồn và phát huy trong tầng lớp bác học. Patrick B. Muller đã từng có nhận xét: “Tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian có thể tương đồng với nhau về mặt cấu trúc và chức năng, sự khác biệt là ở chỗ chúng được nhận thức bởi những nhóm người khác nhau1. Chính vì thế, sự có mặt của Phật giáo Khất sĩ ở Huế cũng được người dân sinh sống trên vùng đất này thừa nhận như chính những gì mà Phật giáo đã có từ trước cho đến nay, dù vẫn còn nhiều điều khác biệt.
  1. Những nhân duyên…

Phật giáo Khất sĩ Việt Nam nói riêng và Phật giáo hay một tôn giáo khác nói chung, trong sự phát triển luôn có sự thích ứng xã hội bằng chính tự lực bản thân, khẳng định con đường chơn lý của mình trước những nhu cầu, tác động của xã hội. Mới hình thành năm 1944 nhưng Phật giáo Khất sĩ đã mang trong mình sự sáng tạo dung hòa tinh túy Phật giáo, mở ra con đường mới trong sự tu đạo, hành đạo và biểu hiện sức sống mãnh liệt của Phật giáo trong hoạt động tôn
    1. Frank Proschan – Ngô Đức Thịnh (2005), Folklore mt số thut ngữ đương đi, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Hà Nội, Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 275.
 


giáo, tín ngưỡng của con người Việt Nam.

Trên con đường phát triển và hoằng a đsanh, Phật giáo Khất sĩ với những đoàn Du tăng tmiền Nam tiến dần ra miền Trung trong hoàn cảnh đất nước đang n trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Sau Tsư Minh Đăng Quang, c đtcủa Ngài lần đầu tiên hành đạo đến Huế o m 1957, lần hai 1958, đã đặt những “viên đáđầu tiên ở Huế, và i đến hai m sau thực scó mặt, tồn tại ở Huế với s hình thành Tịnh xá Ngọc Hương Tịnh xá Ngọc Kinh.

Sự có mặt của Phật giáo Khất sĩ ở Huế, chúng ta có thể thấy bởi từ những nhân duyên sau:

Thnhất: Huế vốn được mệnh danh là “Kinh đô Phật giáo” Đàng Trong, tồn tại và phát triển mạnh tthời c chúa Nguyễn cho đến hiện nay, vẫn u giữ những t truyền thống, đặc trưng riêng biệt khi đối sánh hai miền Nam – Bắc. Đến trước những năm có mặt Hphái Khất , thì sphát triển của Phật giáo Huế đã đạt được những thành tựu rất lớn với một hthống chùa chiền, Tăng sĩ cũng như n đphát triển mạnh. Tđó Phật giáo đã thấm sâu vào trong n chúng, trthành i trvm linh của chính mỗi người dân. Hddàng dung nạp được những tinh y của Phật giáo, coi Phật giáo như chính nguồn sống trong thời buổi loạn lạc, chiến tranh đau thương đrồi hquay trlại ủng hsphát triển của đạo Phật, trthành nguồn lực lớn mạnh trong công cuộc xây dựng Phật giáo ở Huế.

Thhai: Suốt chiều i lịch stồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam, chúng ta thấy shưng suy của Phật giáo luôn gắn với sủng hcủa chính quyền (hay vương quyền) mà Phật giáo có mặt c đó. Do vậy, khi Phật giáo Khất sĩ mới ra đời ở miền Nam đã được chính quyền miền Nam chấp thuận cho phép hành đạo bằng nhiều n bản quy định truyền giáo n khi các đoàn Du tăng Khất sĩ truyền đạo ra đến c tỉnh miền Trung nói chung và Huế i riêng đã không gặp strngại vscấm đoán phát triển đạo Phật mà n được chính quyền stại đồng ý. Với
 


những pháp lý đó, Hphái Khất sĩ đã đứng chân được trên đất Thần Kinh này.

Thứ ba: Bên cạnh sự cho phép hành đạo của chính quyền lúc đó, một điều quan trọng nữa là sự ủng hộ của Giáo hội Phật giáo Trung phần Thừa Thiên đối với Phật giáo Khất sĩ. Trong đó, các vị Trưởng lão và các vị Hòa thượng như: Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Hòa thượng Thích Thiện Siêu cũng như Ban Trị sự Giáo hội Trung phần đã khuyến khích ủng hộ sự phát triển của Phật giáo Khất sĩ khi bước đầu đặt chân đến miền Trung. Các chùa ở Huế như: chùa Phổ Quang, chùa Từ Đàm, Khuôn hội Vĩnh Nhơn… đã giúp các vị Tăng sư hành đạo và quý Phật tử giúp xây dựng các tịnh xá trong những năm 1960 ở phường Thuận Lộc.

Thứ tư: Mặc dù tư tưởng và cách hành đạo có phần khác Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông, nhưng hình ảnh vị sư đi khất thực trên các đường phố vốn đã quen thuộc trong mỗi người dân, bởi lúc này Phật giáo Nam tông đã có mặt ở Huế cùng với sự phát triển của Hệ phái Bắc tông. Do vậy, Hệ phái Khất sĩ đã dung nạp được hai nền Phật giáo Nam - Bắc tông tạo nên sự tương đồng rất lớn trong sự nghiệp xây dựng phát triển đạo Phật, đặt nền tảng cho sự tin tưởng trong lòng người dân Huế.

Thứ năm: Đối với bên ngoài, Hệ phái Khất sĩ đã được nhiều sự thuận lợi như vậy, nhưng điểm cốt yếu quan trọng hơn hết là sự tự lực của Hệ phái trên con đường phát triển. Ngay từ khi Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập Hệ phái đã xây dựng mục đích “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp” bằng tư tưởng chơn lý, được đúc kết từ sự chọn lọc tinh túy của hai Hệ phái Nam tông và Bắc tông mà hình thành. Do đó, càng về sau, các đệ tử của Tổ sư Minh Đăng Quang đã phát huy được con đường chánh đạo, thực hành đúng giáo pháp với hình ảnh của Phật Tăng xưa, lấy Giới - Định - Tuệ đặt lên hàng đầu, làm căn bản đối với mỗi Tăng sĩ trong Hệ phái. Hơn nữa, khi Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng, các đệ tử đã kế thừa và phát huy nội lực Hệ phái một cách triệt để. Các đoàn hành đạo ra đời với sự dẫn dắt, đứng đầu là các vị Trưởng lão có năng lực lãnh đạo và pháp hạnh
 


trang nghiêm, hàng Tăng sĩ thực hành đúng giới luật, khiêm cung cầu pháp hầu muốn đạt được sự an lạc tự thân, cứu độ chúng sanh thoát vòng khổ hải.

Với tất cả những nhân duyên đó đã làm cho Phật giáo Khất sĩ tồn tại và phát triển trên mảnh đất cố đô, nơi Phật giáo Bắc tông vốn đã ăn sâu và bám rễ từ hàng trăm năm trước.
  1. Shình thành và phát triển Phật giáo Khất sĩ ở Thừa Thiên - Huế

Với ba lần hành đạo ra miền Trung 1957, 1958 và 1961, Giáo đoàn Du tăng Khất sĩ do Trưởng lão Giác Tánh dẫn đầu đã ra đến miền Trung và đặt nền móng đầu tiên cho sự có mặt của Hệ phái Khất sĩ ở Huế. Các đoàn hành đạo ra Huế lần lượt được tiếp nhận và ở lại Hội Quảng Tri đường Huỳnh Thúc Kháng vào năm 1957 và 1958, sau đó ở chùa Phổ Quang và chùa Từ Đàm (1961). Để rồi từ đây hình thành được Tịnh xá Ngọc Hương và Tịnh xá Ngọc Kinh, hòa nhập và phát triển trong dòng chảy của Phật giáo đất cố đô.
    1. Lịch sử hình thành và phát triển của Tịnh xá Ngọc Hương

Ban đầu, Giáo đoàn II do Trưởng lão Giác Tánh và Đức Thầy Giác Tịnh đã xin đất làm tịnh xá ở trên cồn Tàng Thơ trong kinh thành. Nhưng trước đó, cồn Tàng Thơ vốn là mảnh đất có vị thế đẹp nên Khuôn hội Vĩnh Nhơn và tổ chức Thiên Chúa giáo xin làm chùa và xây nhà thờ nhưng chưa được chấp thuận. Đến khi các Sư hội đủ nhân duyên, bằng phẩm hạnh, công đức tu hành cùng với sự ủng hộ của quý Trưởng lão, Hòa thượng ở Huế cùng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, nên đã xin được đất và xây dựng tịnh xá bằng gỗ ở đây với tên gọi là Ngọc Hương2.

2. Theo lời kcủa Hòa thượng Giác Cm – trụ trì Tịnh xá Ngọc Hương, cn Tàng Thơ (hTàng Thơ) nơi Tịnh xá Ngọc Hương tọa lạc là mnh đt rt đẹp, nên Pht giáo và Công giáo đều xin đt để xây dựng cơ stôn giáo của mình. Nhưng bên Tỉnh hi Pht giáo xin trước nên đã được chính quyền đương thời chp nhn. Khi có đt này, các khuôn hi Pht giáo xin làm, nhưng các Hòa thượng bên Tỉnh hi nói: Bên H phái Kht sĩ chưa có chùa thì mình giành làm chi? Để cho Kht sĩ họ làm chanên mới nhường cho Kht sĩ xây tịnh xá.
 


Tịnh xá Ngọc Hương ở phường Thuận Lộc, thành phHuế vốn tọa lạc trên cồn Tàng Thơ, trong hthống của hTịnh Tâm thuộc Thành nội. Tịnh xá được thành lập m 1962 do Trưởng lão Giác Tánh và Đức Thầy Giác Tịnh kiến tạo. Buổi đầu, tịnh xá được xây dựng đơn sơ với vật liệu nhnhư gỗ, tranh, , đến m 1964 thì hoàn thành. Ngôi tịnh xá hình t giác, giản dnhưng trang nghiêm đã chính thức a nhập o c sinh hoạt Phật sxHuế. Hình thức thtự ở tịnh xá là chthtượng Phật Thích-ca ở chính giữa ngôi nhà t giác, phía sau lưng tượng Bổn sư thdi ảnh của Tsư Minh Đăng Quang.

Theo luật biến hoại vô thường của thời gian, ngôi tịnh xá đã hai lần được trùng tu o m 1970 và 2000. o m 1970, khi tịnh xá bằng gsau gần mười m đã xuống cấp n được quý tiến hành trùng tu lại bằng h thống cột bê tông,i tôn. c công trình phnhư nhà Cửu Huyền, nhà Tăng cũng được y dựng lại và đến m 1972 mới hoàn thành. Đặc biệt trong lần đại trùng tu m 2000, công trình đã được y dựng theo dạng kiên cbằng các loại vật liệu có đsức chống đỡ với thời tiết khắc nghiệt ở miền Trung. Ngoài c hạng mục chính, tịnh xá n y dựng một thư viện nhhình t giác n tay trái (ngoài vào), phía sau tịnh xá nhà Cửu Huyền Thất Tổ, hai n tịnh xá là Tăng xá và c am cốc tịnh tu của chư Tăng. Tất cđều được btrí i a trên một ốc đảo hương sen ngào ngạt, phhợp với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp của đất Thần Kinh nổi tiếng.

Cũng như hầu hết c công trình khác đều được y dựng theo kiểu kiến trúc truyền thống của Phật giáo Khất , nhưng Tịnh xá Ngọc Hương có t đặc biệt riêng là toàn btọa lạc trên khu đất hình chữ nhật bốn phía bao bọc bởi hsen quanh năm, đua hương khoe sắc. Tịnh xá được nối với đường Lê n u bằng chiếc cầu g(vsau y dựng cầu bê tông m 2000) i n 60m. Cảnh trí đây luôn thoáng mát. Đến đây, chúng ta có ththưởng thức cảnh sen ntrên hvà nhìn ngắm y trôi lung linh đáy nước, âu cũng là thú vui cao khiết.
 


Kế thế các đời trụ trì gồm có: Giác Tánh, Giác Tịnh, Giác Đoan, Giác Ninh, Giác Năng, Giác Đảnh. Đến nay, Thượng tọa đương nhiệm trụ trì Giác Cẩm cùng với chư Tăng trú xứ đang nỗ lực trau dồi giới đức, huân tu phạm hạnh, đưa các hoạt động Phật sự của tịnh xá hòa nhập vào dòng chảy luôn sinh động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại cố đô3.





Hồ nước                                                                        Hồ nước
Cầu

 
 




Tăng đường





Chánh đin


Thất



Thư viện

Đường Đinh Tiên Hoàng
 

 
 

Nhà trù


Cửu Huyền

Thất
 


Hồ nước



đồ 1: Hệ thng cu trúc và xây dng Tnh xá Ngọc Hương

 
    1. Lịch sử hình thành và phát triển của Tịnh xá Ngọc Kinh

Tịnh xá Ngọc Kinh tọa lạc tại số 10 kiệt 378 (số cũ 176/8) đường Đinh Tiên Hoàng, phường Thuận Lộc, Thành phố Huế. Với vị trí nằm giữa lòng cố đô Huế, bờ Bắc sông Hương, theo cửa Ngăn đi vào khoảng 2km. Tịnh xá nằm trong nội thành nhưng rất thanh tịnh, diện tích khoảng 800m2 đủ để xây dựng ngôi Tam Bảo thật khang trang, uy nghi thanh thoát.
 


Cố Đệ nhất Ni trưởng Huỳnh Liên dẫn đoàn Ni chúng du phương hành đạo khắp Nam - Trung đến kinh đô Huế. Với tâm nguyện có đạo tràng Hệ phái cho bá tánh tới lui chiêm bái, chư Ni có nơi lưu trú hành đạo, tại đây Ni trưởng đứng ra đảm trách xây dựng ngôi tịnh xá. Được sự phát tâm ủng hộ đắc lực của hai vị nữ cư sĩ Công Tằng Tôn Nữ Xuân Tứ, pháp danh Nguyên Chí và cô Tâm Ngọc (nay là Tỳ-kheo-ni Chí Liên và Tâm Liên) đã cúng dường cho Ni trưởng Huỳnh Liên xây dựng tịnh xá.

Năm 1961, Tịnh xá Ngọc Kinh kiến tạo ngôi chánh điện hình bát giác với vật liệu xây dựng bằng gỗ thô sơ gồm chánh điện với tháp Đức Bổn sư, phía sau thờ Tổ sư Minh Đăng Quang, hai bên là nhà dài, phía bên trái là tịnh thất bằng gỗ để Ni trưởng nghỉ ngơi. Đến năm 1963, tịnh xá tổ chức lễ khánh thành trọng thể, Ni trưởng đứng ra hướng dẫn đại chúng cung nghinh tượng Bổn sư từ chùa Từ Đàm về tôn trí tại tịnh xá.

Vạn vật theo thời gian thành - trụ - hoại - không, ngôi tịnh xá cũng không ngoại lệ. Sau mấy mươi năm tồn tại, đến năm 1996 tịnh xá bị xuống cấp trầm trọng, Sư trụ trì Giao Liên kính thỉnh Ni sư Phan Liên trụ trì Tịnh xá Ngọc Thành ở Buôn Ma Thuột, đứng ra đại trùng tu tịnh xá.

Bên cạnh đó, do nhu cầu sinh hoạt, tu tập của Ni chúng và thiện nam tín nữ, Ni sư nâng cấp tịnh xá thành hai tầng. Tầng trên ở giữa là chánh điện, bên trong chánh điện tôn trí tượng Bổn sư, sau Đức Bổn sư thờ Tổ sư Minh Đăng Quang và nhị vị Ni trưởng (Huỳnh Liên và Bạch Liên). Phía trước chánh điện có ba bức họa, giữa là Phật thành đạo dưới cội Bồ-đề, bên phải là Thái tử vượt thành xuất gia, bên trái là Đức Phật cùng chư đệ tử đi khất thực hóa duyên. Trước mặt chánh điện có tượng Quan Âm lộ thiên và bên phải ngoài chánh điện là phương trượng, bên trái thờ Cửu Huyền. Tầng dưới phía trước là phòng khách, sau là Tăng đường, hai nhà dài vẫn như cũ, chỉ lợp ngói lại. Việc trùng tu hoàn mãn và đã tổ chức lễ Khánh thành vào ngày 19 tháng 2 năm 1998.

Tịnh xá Ngọc Kinh tồn tại đến ngày nay đã trên 40 năm, là thắng
 


duyên của các bậc tiền bối và đã trải qua 9 đời trụ trì: Ni sư Phát Liên, Minh Liên, Thời Liên, Lập Liên, Uẩn Liên, Tứ Liên, Trân Liên, hiện nay là Ni sư Giao Liên cùng với Ni chúng đệ tử tu học4.

Tịnh xá Ngọc Kinh là tịnh xá Ni duy nhất ở kinh đô Huế, là nơi tu tập của chư Ni Khất sĩ tại trú xứ, đồng thời thuận tiện cho quý Ni trẻ ở các miền đến tu học tại trường Đại học Phật giáo và Trung cấp Phật học tại Huế, là nơi chiêm bái của Phật tử khắp nơi, cũng là chỗ dừng chân của các đoàn hành hương tham quan cố đô Huế - nơi được mệnh danh là “cái nôi của Phật giáo”. Tịnh xá là điểm sáng của Ni giới Phật giáo Khất sĩ trong lòng Phật giáo cố đô Huế.


Đưng kiệt 378
 
Tam quan


Cây cổ th
 

Giếng nưc
 



N dân







Tăng








Chánh đin







Tăng




N dân

Đường Đinh Tiên Hoàng
 






ng



đồ 2: Hệ thng cu trúc và xây dng Tnh xá Ngọc Kinh

 
    1. Vai trò, vị trí của Phật giáo Khất sĩ trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Huế

Nếu như trên một bình diện rộng, Hphái Khất sĩ là một
 


thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam với rất nhiều đóng p cho Giáo hội, cho Đạo Phật Việt Nam ngày càng xương minh, nhưng đối với Phật giáo Huế thì những sbiểu hiện trong vai trò, vtrí của Hphái vẫn chưa rõ ràng và n nhiều hạn chế.

Phật giáo Khất sĩ ở Huế có hai tịnh xá giống như ở Quảng Trị hay miền Bắc. Thừa Thiên - Huế chlà những phần ngọn của Hệ phái khi phát triển ra miền Trung. TBắc đèo Hải n ra đến miền Bắc thì sphát triển của Hphái không n rầm rvà hình thành một tiếng i chung cùng với Giáo hội Phật giáo ở đó, mà ngược lại Hphái hầu như không tham gia (nếu không muốn i là không ) o trong tchức Giáo hội Phật giáo Huế. c vsư tr trì, các tịnh xá đều nằm trong hthống quản lý chung của Giáo hội Phật giáo Huế. Phật giáo Khất sĩ không có tiếng i lớn trong chính hệ thống Giáo hội ở Huế, bởi vì sphát triển rất nhỏ, Tăng chúng ít i lại luân phiên đến đi theo quy định của Giáo đoàn, cba tháng hoặc u tháng thay đổi trú xmột lần n không ththam gia Phật scùng Giáo hội được, mặc dsđóng p tịnh tài, tịnh vật của Hphái luôn đầy đủ. c Tăng Ni của Hphái ở Huế đều tham gia c khóa học ở Trường Trung cấp Phật học o Quốc và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.

Như thế, chúng ta có thể thấy được vai trò cũng như vị trí của Hệ phái biểu hiện trong Phật giáo Huế là không có, bởi sự đơn điệu ít phát triển của Hệ phái ở Bắc, miền Trung trở ra và ngày nay đang được khắc phục dần.
    1. Phật giáo Khất sĩ trong mối quan hvới n đPhật tử Huế

Phật giáo tồn tại được là nho giới luật trang nghiêm với sự hiện diện đầy đbốn chúng: hai xuất gia và hai cư sĩ tại gia. Nằm trong quy luật đó, Phật giáo Huế đã tồn tại phát triển nho sự ủng hmạnh mcủa hai chúng tại gia tkhi du nhập và cho đến ngày nay. Sgắn liền gốc răn u trong quan hmật thiết giữa chùa với bổn đạo cư , hai chúng luôn luôn được phát triển rất
 


mạnh. Người n coi Phật giáo là nguồn sống m linh n Phật tử ở Huế vừa là n đvừa là những người ủng hđạo pháp nhiệt thành, không vlợi.

Khi du nhập đến Huế (những năm 1960), Hệ phái đã hòa nhập trong lòng Phật giáo Huế cũng như trong lòng người dân Phật tử ở Huế. Mối quan hệ trên tinh thần người Phật tử được thể hiện rất mật thiết trong việc ngoại hộ cúng dường cho chư Tăng hành đạo. Và họ không phân biệt tông phái, hay bất cứ một điều gì cản trở họ đến với tịnh xá, đến với các vị sư khất thực mỗi sáng trên đường trang nghiêm và thanh thoát.

Ban đầu, khi mới du nhập đến Huế thì slượng Phật tkhông nhiều, sau 1975 đến nay thì ngày càng ít dần, âu cũng có thdo mặt y hay mặt khác bởi những đặc trưng riêng của Phật giáo Khất sĩ và đặc trưng của Phật giáo Huế, n Phật giáo Khất sĩ chỉ trong lòng Phật tkhi hchính là người con Phật và hđến bằng tấm lòng tnguyện mang niềm tin m linh u sắc. Mối quan hệ ở đây là mối quan hđa chiều giữa n đvới chư Tăng Khất sĩ trong hành đạo và tu đạo. Mặt khác, n đPhật tHuế chưa hiểu rõ và tường tận phương pháp tu hành, n chỉ, mục đích của Phật giáo Khất sĩ n c tịnh xá ở đây không được phát triển mạnh như ở c chùa. Nhưng, hlà người kỉnh Phật trọng Tăng, càng vsau y càng gắn bó cùng tịnh , giúp c vphát triển vchiều u lẫn chiều rộng trong việc phát triển Phật giáo Khất sĩ ở đây.

Tuy nhiên khi nhìn lại vấn đđó, chúng ta thấy được sphát triển với những biểu hiện của Phật giáo Khất sĩ ở Huế không mạnh và mang tính đơn lẻ, rời rạc. Tịnh xá ở đây lài ngh chân của c vkhi đi du hành, học đạo, hành đạo. n nữa ở Huế, Phật giáo Đại thừa xuyên suốt trong quá trình tồn tại của Phật giáo Huế, thhiện rõ trong những vấn đcơ bản như tư tưởng giải thoát, quan niệm vthế giới, vnhân sinh, con đường giác ngộ, vphương cách sinh hoạt, nghi lễ, hành đạo cũng như về thcúng nghi lễ. Đồng thời, sdung hợp trong Phật giáo Huế
 


là Thiền tông và Tịnh đtông hình thành n i gọi là “Phật tại tâm”, lấy tinh thần cứu khcứu nạn chúng sanh n rất gần gũi, ăn u trong mỗi con người gắn liền với chùa chiền hay tịnh . Tđó i cuốn một lượng Tăng Ni, n đtheo rất đông, ảnh hưởng khá u đậm với c biểu hiện trên mọi mặt trong cuộc sống người n Huế. Cho n khi Hphái Khất sĩ du nhập đến Huế, a nhập trong Phật giáo Huế với tư cách là một thành viên nhưng s phát triển đến nay vẫnn hạn chế, d đã p phần làm Phật giáo Huế thêm nhiều u sắc, đa dạng trong đời sống tâm linh của n đPhật tử.
  1. Thay lời kết

n giáo luôn gắn liền với con người trong đời sống cũng như tinh thần, n đhiểu vmột n giáo cần có snghiên cứu nhiều chiều, nhiều hướng khác nhau trên mọi khía cạnh đm nổi bật những giá trchơn lý và cũng m thấy những hạn chế, thiếu sót nhằm thúc đẩy con người đến với chơn lý n giáo, niềm tin tôn giáo của họ. Đồng thời cũng khai mcon đường vươn đến giá trị trường tồn chân - thiện - mỹ, m cho đời sống con người càng đạt đến một giá trthiết thực cao hơn. n nữa, niềm tin của con người vmột n giáo o đó đều tùy thuộc o nhận thức của hvn giáo đó trước những nhu cầu và sđáp ứng n ngưỡng trong bối cảnh hiện tại. Do vậy, không vì lý do y hay lý do khác đm giảm t đi niềm tin, ưu điểm hay nhạo báng, chê trách hay dở, mà ở đây chúng i muốn lột tđược tính năng ưu việt của Phật giáo Khất sĩ mang tư tưởng giáo lý trung dung Bắc tông và Nam tông mới được hình thành, lại đang trên đà phát triển mạnh, khẳng định mình n cạnh hai Hphái Bắc - Nam tông vốn đã có cách đây hàng ngàn năm. Chính stinh túy, đặc sắc của Phật giáo Khất sĩ Việt Nam khi ra đời đã phát triển mạnh ở miền Nam, nhưng những lý do khách quan cùng chquan n ở miền Bắc (tBắc đèo Hải n trra) sphát triển, ảnh hưởng của Hphái không lớn. Và, đó cũng là vấn đcần được quan m lớn nhất khi nhìn nhận sự phát triển của Phật giáo Khất sĩ trong bối cảnh hiện nay cũng như
 


cho sphát triển trong tương lai.

Nhìn nhận shình thành và phát triển Phật giáo Khất sĩ ở Huế trên mặt tổng quan là một snlực của chính c vsư trên bước đường hoằng hóa, xiển dương mối đạo mới trong suốt 60 m qua với những thành tựu hiện tại. Tuy nhiên, sphát triển của Phật giáo Khất sĩ trên đất cđô Huế, đặc biệt là đối với c hoạt động Phật sự, n đồ, lnghi hay a nhập một cách u rộng trong quần chúng người n Huế cần được u m với c phương pháp riêng đp phần đưa giáo pháp Khất sĩ đến mọi người, giúp hhiểu n những gì Khất sĩ đã, đang m trong i đặc trưng riêng có của Phật giáo Huế.


 

***


TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
    1. Thích Giác Trí (2001), Sự hình thành và phát triển ca Hệ phái Khất , Luận n Tốt nghiệp cnhân Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phH Chí Minh, Khoá IV (1997
- 2001).
    1. T sư Minh Đăng Quang (2004), Chơn l, (Tập I, II, III), Hà Ni, Nxb. Tôn giáo.
 
    1. Hphái Kht sĩ (2004), Ánh Minh Quang, Nxb. Tổng hợp TP. HCM.
 
    1. Thích Giác Toàn (chủ biên), 2004, 64 Tịnh xá của Hệ phái Khất sĩ, Nxb. Tổng hợp TP. HCM.
 
    1. Lê Thọ Quốc (2005), Hệ phái Khất sĩ Việt Nam và sự hiện diện của Hệ phái trong Phật giáo Huế, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Sử học, Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Huế.
 
    1. Lê Thọ Quốc (2006), “Một số vấn đề về Hệ phái Khất sĩ Việt Nam”, trong Thông tin Khoa học, Phân viện Nghiên cứu Văn hóa



Thông tin tại Huế, số tháng 3/2006, tr. 87-97.
    1. Lê Thọ Quốc (2012), Phật giáo Khất sĩ trong mối quan hệ với Phật giáo Đại thừa – Tiểu thừa và những đóng góp cho sự phát triển du lịch văn hóa tâm linh Phật giáo ở Đông Nam Bộ” trong Hội thảo Khoa học Khoa học xã hội và phát triển bền vững Đông Nam Bộ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ & Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai, ngày 12-13 tháng 07 năm 2012.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây