78. ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM Ở LÀO (TRƯỜNG HỢP TỊNH XÁ NGỌC TÂM)

Chủ nhật - 09/09/2018 18:52
ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM Ở LÀO (TRƯỜNG HỢP TỊNH XÁ NGỌC TÂM)
NCS. Nguyễn Văn Thoàn
Nghiên cứu sinh Khoa Văn hóa học Trường Đại học KHXH&NV TP.Hồ Chí Minh
Lào là quốc gia có chung đường biên giới tự nhiên phía Tây dài nhất với Việt Nam, là người bạn, người anh em thân thiết của dân tộc và nhà nước Việt Nam. Từ xa xưa, qua những ngả đường biên giới dọc theo dãy Trường Sơn, hai dân tộc Việt Nam – Lào đã đi lại trao đổi kinh tế khi hòa bình, hậu phương vững chắc cho nhau mỗi khi có ngoại bang xâm lược. Theo dòng chảy thăng trầm của lịch sử, cư dân Việt Nam dần dần hình thành nên cộng đồng ở Lào. Đây là cộng đồng ngoại kiều đông nhất và có lịch sử hình thành sớm nhất ở Lào cho đến nay.

Theo bước chân lưu dân Việt, văn hóa Phật giáo Việt Nam cũng dần dần có mặt trên đất nước Triệu Voi. Qua thời gian, vai trò tâm linh của Phật giáo Việt Nam trong đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân Việt ngày càng được khẳng định ở xứ sở này. Nhận thấy rằng, từ trước đến nay có nhiều học giả, các nhà khoa học Việt Nam cũng như Lào đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về đời sống văn hóa, chính trị, kinh tế và xã hội cũng như vai trò quan trọng của người Việt Nam ở Lào, tuy nhiên cho đến nay chưa thấy học giả nào nghiên cứu về văn hóa Phật giáo Việt Nam ở Lào, và vai trò của nó trong đời sống của cộng đồng người Việt Nam ở Lào, đặc biệt là Hệ phái Phật giáo Khất sĩ. Thiết nghĩ sẽ là thiếu sót khi
 


nói về bức tranh văn hóa của cộng đồng người Việt Nam ở Lào nói chung và văn hóa Phật giáo Việt Nam ở Lào nói riêng mà không đề cập đến văn hóa của Phật giáo Khất sĩ Việt Nam ở đây. Đó là lý do để người viết xin có đóng góp nhỏ, góp thêm nét vẽ để hoàn thiện hơn bức tranh đa dạng về văn hóa Phật giáo Việt Nam ở Lào.
  1. Những vấn đề chung

Thuận theo sự phát triển tự nhiên, sau khi Đức Phật nhập Niết- bàn không lâu, nội bộ Tăng đoàn đạo Phật đã nảy sinh hai dòng tư tưởng, và lớn dần trở thành hai bộ phái lớn đó là: Thưng tọa bộ và Đại chúng bộ. Với tâm nguyện để cho đạo Phật được phổ khắp năm châu và trường tồn trên thế gian, chư vị Thánh Tăng thời bấy giờ đã phát đại nguyện mang Phật pháp vượt biên giới Ấn, truyền bá đến các dân tộc ở khắp các nước trên thế giới. Từ Ấn Độ đi lên phía Bắc rồi đến các nước như Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, đại diện là bộ phái Đại chúng bộ mà hiện nay chúng ta thường gọi là Phật giáo Bắc truyền, Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Phát triển hay Phật giáo Mahayana. Còn từ Ấn Độ đi xuống phía Nam rồi đến các nước như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, đại diện là phái Thượng tọa bộ mà hiện nay chúng ta thường gọi là Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam tông, Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Theravada.

Đến những m thập niên 40 của thế kXX, ở miền Nam Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu m linh cho quần chúng nhân n Nam Bthời bấy giờ, Tsư Minh Đăng Quang đã khế lý khế cơ trên cơ sở giáo lý và đời sống hành trì của hai Hphái Bắc tông và Nam tông mà sáng lập n Hphái mới gọi là Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam. Xuyên qua kinh điển của Đức Phật và luận giải của chư Tổ, Tsư Minh Đăng Quang đã nhận thấy rằng có rất nhiều phương tiện đđưa chúng sanh đến con đường giải thoát hoàn toàn, điều y rất thuận tiện và đáp ứng tốt cho n duyên của mỗi chúng sanh, ai cũng có thđến với đạo Phật. Tuy nhiên, đtránh quan niệm nông cạn, sai lầm, sphân chia Nam tông – Bắc tông, Tiểu thừa – Đại thừa trong đạo Phật y ra sự u thuẫn chia rnội bộ, và không thấy được chân tướng của sphát
 


triển tnhiên của vạn pháp trong thế gian, bkhuyết cho nhau, nên Tsư đã khế lý khế cơ trong việc hoằng dương Chánh pháp, mang đến cho mọi người giáo pháp tbi, bình đẳng của đạo Phật. Tsư đã tuyên thuyết Chơn lm n chcho Hphái, chcó con đường Trung đạo đưa đến Chánh đẳng Chánh giác, không có Đi thừa và càng không có Tiểu thừa trong đạo Phật. Vì thế, sra đời của Đạo Phật Khất sĩ sthành công lớn trong skết hợp nhuần nhuyễn tư tưởng của hai truyền thống: Phật giáo Nam tông và Bắc tông ở Việt Nam, cũng như skhế hợp xuất sắc giáo lý thâm diệu của nhà Phật với m thức trình đhọc vấn của người n Nam Bbấy giờ1.

Thời gian Đức Phật còn tại thế, những nơi Ngài và Tăng đoàn lưu trú, hành trì tu tập dài lâu thì được gọi là Vihara, được dịch sang tiếng Hoa và tiếng Việt là tinh xá hay tịnh xá. Về sau, khi đạo Phật được truyền bá đến các nước, ở đó mỗi dân tc có ngôn ngữ riêng của mình để gọi nơi thờ cúng Đức Phật và trú xứ của chư Tăng, chung quy đều dịch ra tiếng Việt là chùa. Cho nên, đối với người Việt Nam chúng ta thường gọi cơ sở Phật giáo là chùa để phân biệt với cơ sở Thiên Chúa giáo là nhà thờ, hay cơ sở Cao Đài giáo là thánh thất mà dần dần lãng quên thuật ngữ tịnh xá. Đến thập niên 40 của thế kỷ XX, Đạo Phật Khất Sĩ ra đời ở miền Nam Việt Nam, Tổ sư Minh Đăng Quang đã đặt tên cho cơ sở Hệ phái Khất sĩ là tịnh xá, như là sự quay về nguồn cội trong thuật ngữ gọi nơi Đức Phật và Tăng đoàn trú ở. Cho đến nay, từ tịnh xá đã trở nên phổ biến trong đời sống xã hội của quần chúng nhân dân Việt Nam, cơ sở của Phật giáo Bắc tông hay Nam tông gọi là chùa, còn cơ sở Phật giáo Khất sĩ gọi là tịnh xá, đó là sự dành riêng đầy tình cảm của người dân Nam Bộ với tông phái mới này, là đạo chơn truyền Chánh pháp của Như Lai.


Lào là quốc gia Đông Nam Á lục địa, nằm sâu trong bán đảo Đông Dương, nhân dân có truyền thống tín ngưỡng Phật giáo lâu đời. Khi còn là bản làng riêng lẻ, nhân dân các bộ tộc Lào đã thành kính đón nhận Đức Phật. Đến giữa thế kỷ XIV, vị vua Phật tử, anh minh và tài ba là Phạ Ngừm đã thống nhất giang sơn về một mối,
    1. Chơn lý, Thành hi Pht giáo Thành phHCMinh, 1993.
 


dựng nên vương quốc Lan Xang đầu tiên cho dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao thịnh suy của vương quyền, từ khi quốc gia dân tộc ra đời cho đến nay, Phật giáo Thevarada vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc Lào. Mọi người dân Lào tín ngưỡng Phật giáo Theravada như đạo của dân tộc mình, như sữa hòa với nước. Triết lý đạo đức của Đức Phật đã đi vào từng hơi thở, nhịp đập con tim của mỗi người dân Lào. Vì thế, sẽ không quá lời nếu cho rằng văn hóa Phật giáo Theravada là văn hóa Lào, gắn kết keo sơn mà nếu ai chưa có hiểu biết đầy đủ về lịch sử và văn hóa Lào thì khó bóc tách được đâu là phong tục tập quán được hình thành trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội của nhân dân các bộ tộc Lào và đâu là những tục lệ được tạo lập do những qui định của Phật giáo được du nhập2.

Trong xã hội Lào xưa cũng như nay, người ta rất coi trọng đức tin tâm linh. Chính Phật giáo làm cho nhu cầu tâm linh của họ có định hướng hơn, thánh thiện hơn. Đồng thời Phật giáo đã đem lại cho họ một nếp sống hài hòa, làm đức tin tâm linh của họ thêm phong phú, và chính đức tin này làm cho con người họ trở nên thánh thiện hơn, tử tế hơn. Cho nên, theo quan niệm của người Lào, muốn trở thành người tử tế, chín chắn thì phải vào chùa tu. Vào tu ở chùa không cần để thành chánh quả mà điểm quan trọng là được giáo huấn bởi những lời dạy của Đức Phật, được rèn luyện về nhân cách để trở thành con người tử tế. So với nhiều nước theo Phật giáo ở Đông Nam Á, Phật giáo Lào nhẹ nhàng hơn, ngôi chùa Lào cũng đơn giản hơn. Người Lào không quá câu nệ vào giáo lý nhà Phật, họ không phải bỏ nhiều công sức, tiền của để tạo nên những biểu tượng chùa chiền, tháp miếu nguy nga, mà họ tin và theo đạo Phật một cách bình dị, đơn giản. Nhà vua không bao giờ nhân cách hóa mình thành Vua thần hay Phật vương như các vua của Campuchia.


Người Lào là dân tộc vốn có truyền thống hiền hòa, yêu chuộng hòa bình, mong muốn có cuộc sống bình yên và đặc biệt hiếu khách.
    1. Nguyễn Văn Thoàn, 2005: Văn hóa Pht giáo trong đời sng cư dân Lào. Lun văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học. Trường Đi học Khoa học Xã hi và Nhân văn Thành phH CMinh, tr. 151.
 


Chính bởi bản chất đó, nên Phật giáo đã dễ dàng cảm hóa người Lào bằng triết lý từ bi bác ái. Người Lào tin theo và kính trọng Phật giáo, vì họ thấy ở Phật giáo có tính chất tiến bộ hơn so với các tôn giáo khác, và cũng không cảm thấy có khó khăn gì trong việc tiếp nhận Đức Phật và giáo lý của Ngài. Ngược lại, Phật giáo củng cố và phát triển thêm những quan niệm đạo đức phôi thai của người Lào. Và như thế, đạo Phật đã trở thành một tôn giáo của đại đa số nhân dân Lào, tạo nên một phong cách sống: thuần phác và tốt bụng, người bạn chung thủy, hiếu khách và yêu chuộng hòa bình, không kỳ thị tôn giáo, chấp nhận tất cả các tôn giáo truyền bá vào đất nước mình3.

Vì thế, trong ngôi nhà to lớn của Phật giáo Theravada o một không gian nhcho shoằng dương của Phật giáo Bắc tông Việt Nam. Cho dsinh sống ở đâu, hoàn cảnh nào, người n Việt cũng có nhu cầu gửi gắm đức tin m linh của mình vào c vthần linh bản địa và những n giáo truyền thống của mình. Đại đa scư n Việt Nam m ăn sinh sống ở o là n đPhật giáo hoặc có cảm tình với Phật giáo. Trước khi có ngôi chùa Việt Nam ở Lào, hđi lPhật sinh hoạt m linh ở chùa o với sư Tăng Lào. Mặc dcũng là đạo Phật, chùa cũng thĐức Phật Thích-ca Mâu-ni, nhưng u trong tâm khảm của mỗi người n Việt ở o dường như n xa lvới đạo Phật của người Lào, không thỏa lòng khát ngưỡng m linh với hình tượng Đức Phật. Hluôn hoài niệm vngôi chùa thân quen, n hiện sau những đại thcủa làng quê. Với những thôi thúc ước vọng m linh theo truyền thống n hóa, n tộc, o những m khi mà o còn trong khói lửa chiến tranh, bà con Việt Nam ở Viêng-chăn đã cng nhau y dựng n những ngôi chùa Việt (Bắc tông) trong không khí thắm đượmn ngưỡng Phật giáo Nam tông Lào4.


Hiện ở thủ đô Viêng-chăn có hai ngôi chùa Phật giáo Bắc tông của Việt Nam. Một là chùa Phật Tích tọa lạc ở đường Noongbone, gần chợ Sáng ở trung tâm thành phố do chư Tăng trụ trì. Vào thập
    1. Lương Ninh (chbiên), 1996, Đt nước Lào: Lch sử và Văn ha, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 74.
    2. Nguyễn Lệ Thi, 2007, Chùa của người Việt ở Lào, Tp cNghiên cứu Đông Nam Á số 2/2007, tr. 57.
 


niên 60 của thế kỷ XX, nơi khu đất nghĩa trang của người nước ngoài trước kia, chủ yếu là người Việt, Sư bà Thích Diệu Thiện kiến tạo nên am tranh nhỏ để tu tập với tên là Phật Tích Linh Ứng Tự, đây được xem là ngôi chùa Việt có niên đại muộn nhất ở Lào. Trải qua hơn bốn thập niên trùng tu tôn tạo, đến nay ngôi già-lam này hết sức khang trang, mang đậm nét đặc trưng văn hóa Chùa Tháp của Phật giáo Bắc tông Việt Nam. Hai là chùa Bàng Long tọa lạc ở đường Sihom do chư Ni trụ trì. Trong giai đoạn đầu, ngôi chùa này cũng chỉ là am nhỏ do Hòa thượng Thích Nhật Liên khai kiến với mong ước là nơi hun đúc văn hóa con Lạc cháu Hồng. Trải qua nhiều thập kỷ, ngôi tòng lâm này đã có những nét biến đổi đáng kể, đặc biệt từ sau 1975, từ cấu trúc đơn giản với vật liệu thô sơ đến kiến trúc trang nghiêm, mang đậm văn hóa dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng có sự giao lưu với văn hóa bản địa. Đúng với ý nguyện của các bậc tiền hiền khai sơn, từ khi ra đời cho đến ngày nay, hai ngôi già-lam này là nơi sinh hoạt đời sống tâm linh của người dân Việt ở Lào. Mỗi khi có dịp được đến viếng chùa lễ Phật, trong tâm của họ luôn cảm thấy như được trở về nguồn cội văn hóa của cha ông.

Một trong những nét tạo nên sự đa dạng văn hóa của ngôi nhà Khất sĩ Phật giáo Việt Nam đó là sự dung hợp giữa truyền thống Phật giáo Bắc tông và Nam tông. Tuy ra đời vào thập niên 40 của thế kỷ XX ở miền Nam Việt Nam, thời gian tồn tại chưa lâu, nhưng với những gì tinh túy nhất của đạo Phật mà Hệ phái này đã vận dụng được cho đến nay nó cũng đã phần nào khẳng định được giá trị mình trong lòng dân tộc Việt Nam, đồng hành cùng dân tộc Việt Nam. Điều này có thể chứng minh với sự hiện hữu của Tịnh xá Ngọc Tâm trong lòng cộng đồng người Việt Nam ở thủ đô Viêng-chăn (Lào).

Tịnh xá Ngọcm hiện tọa lạc tại bản Chằn-xá-vang, huyện Sỉ- khốt-tạ-bong, thđô Viêng-chăn (Lào). o m 2000, chính phủ o có dán y dựng trung m vui chơi giải trí cho nhân n thành phố ở khu chKhuadin, n cạnh bến xe buýt trung m hiện nay, n đã chuyển bà con ở đây đến i định cư mới ở bản Chằn-xá- vang, cách trung m khoảng 12 km vhướng Bắc. Ttrước những
 


m của thập niên 90, khu ch Khuadin vốn lài cư n Việt buôn bán sinh sống, vì thế trên 80% của khu định cư mới ở bản Chằn-xá- vang là người Việt Nam. Nhận thấy điều kiện chuyển cư như vậy nên nhiều bà con Phật tngười Việt đã nảy sinh ý muốn thành lập một ngôi già-lam mới của người Việt đđáp ứng nhu cầu m linh cho bà con ở khu định cư mới này. Tđó, Phật tngười Việt mà đại diện là Phật tBảo Ngọc (Mạnh thường quân lớn nhất) đến chùa Phật Tích cũng ở Viêng-chăn đthưa Đại đức Thích Minh Quang và thỉnh Thượng tọa Minh Thiền ở Úc vo đcng nhau kiến lập một ngôi tịnh xá cho bà con người Việt. Sau gần 4 m tm 2000 đến đầu năm 2004, thtục hành chánh đã hoàn tất và bắt đầu san lấp mặt bằng, và y btường bao quanh. Khu đất y một phần nằm trên dốc đồi nhỏ, một phần là hlớn do trước đây lấy đất y lấp i khác, chon thật slà vạn skhởi đầu nan. Trong ban y dựng, Phật tử Bảo Ngọc, đại diện cho bà con Phật tngười Việt Nam ở o chịu trách nhiệm vi chính, Đại đức Thích Minh Quang đại diện Phật giáo Bắc tông Việt Nam ở o chịu trách nhiệm ngoại giao và thtục hành chánh với c cơ quan chính quyền Lào, n Thượng tọa Minh Thiền đại diện Phật giáo Khất sĩ Việt Nam tư vấn kiến trúc. Đến nay đã trải qua gần 10 m chung sức chung lòng của cộng đồng người Việt Nam ở Viêng-chăn, nhưng do i chính hạn hẹp, đặc biệt bà con Phật tử ở khu định cư mới y là cư n nghèo n đến nay ngôi tịnh xá y mới chhoàn thành được ngôi nhà Tăng mà hiện đang tạm dng m Phật điện, đài Quán Thế Âm Bồ-tát và phần nền của ngôi chính điện.

Hiện nay, vị trụ trì phụ trách tất cả mọi việc, đối nội và đối ngoại của Tịnh xá Ngọc Tâm là Đại đức Giác Thiện. Đại đức là Việt kiều, xuất gia và thọ giới với Thượng tọa Minh Thiền. Năm 2010, Đại đức được Giáo hội Liên minh Phật giáo Lào bổ nhiệm trụ trì Tịnh xá Ngọc Tâm. Đây là điều hết sức vinh dự và vui mừng cho Phật giáo Việt Nam ở Lào nói chung và Phật giáo Khất sĩ Việt Nam ở Lào nói riêng được lãnh đạo Phật giáo bạn quan tâm giúp đỡ từ khi còn là khu đất hoang cho đến ngày đặt đá khởi công xây dựng và sau đó là công bố quyết định bổ nhiệm trụ trì.
 
 
  1. Đặc điểm Phật giáo Khất sĩ Việt Nam ở Lào
 
    1. Bài trí tượng thờ

Do nhiều nhân duyên khách quan mà Tịnh xá Ngọc Tâm chưa thể hoàn tất xong hạn mục chính của quần thể kiến trúc, đó là ngôi Phật điện. Do đó, để trình bày những khuôn mẫu bài trí tượng thờ của Hệ phái mà tịnh xá kế thừa là điều chưa rõ ràng lắm. Tuy vậy, trong không gian thờ tạm, nói là tạm nhưng cũng rất rộng rãi và trang nghiêm, qua nhiều năm cho chúng ta thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa Phật giáo Khất sĩ Việt Nam với sự giao lưu với văn hóa bản địa Phật giáo Nam tông Lào. Cách bài trí duy nhất tôn tượng Pht Thích-ca Mâu-ni ở chính giữa điện thờ mà không có sự hiện diện của các tôn tượng Phật A-di-đà, Phật Di-lặc hay chư vị Bồ-tát đặc trưng của Phật giáo Bắc tông, điều này khẳng định rằng chư Tăng của tịnh xá đã nhất quán nguyên tắc về truyền thống thờ phượng của Phật giáo Khất sĩ trong không gian điện thờ chính của mình.

Nhằm đáp ứng nhu cầu đức tin cầu an cho lưu dân Việt nơi đất khách quê người, sự hiện diện tôn tượng Bồ-tát Quán Thế Âm là vô cùng quan trọng. Với người Việt Nam, truyền thống tín ngưỡng thờ tự Bồ-tát Quán Thế Âm diễn ra khá phổ biến, và hình ảnh của Ngài đã ăn sâu trong tiềm thức của mọi người. Trong mỗi chúng ta, ai ai cũng đều thấy quá thân quen với tên gọi Bồ-tát Quán Thế Âm. Đây là điểm nhấn trong truyền thống tín ngưỡng thờ phượng mà Phật giáo Khất sĩ đã tiếp nhận từ Phật giáo Bắc tông và cũng đã được Tịnh xá Ngọc Tâm kế thừa. Trong tịnh xá, hình tượng Bồ-tát Quán Thế Âm có thể được tôn trí trên bàn thờ chính điện hoặc ở những nơi trang nghiêm khác, đặc biệt là ở sân trước tôn tượng Quán Thế Âm lộ thiên. Năm 2010, với sự chứng minh tham dự của toàn thể chư Tăng Ni Phật giáo Bắc tông Việt Nam, Phật giáo Lào và đông đảo bà con người Việt Nam ở Lào, Tịnh xá Ngọc Tâm thành kính thiết lễ tôn trí tượng Bồ-tát Quán Thế Âm lộ thiên, tượng cao gần 6 mét, bằng đá trắng Non nước, được cung thỉnh từ Đà Nẵng.

Quay lại điện thchính, ngoài hình tượng truyền thống Đc Phật Thích-ca Mâu-ni theo phong cách của Việt Nam ngự ở giữa, phía trước
 


trên n thtam cấp, n ngự ở hai cấp phía sau là hai tượng cũng Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhưng theo phong cách truyền thống tượng Phật chính ở chùa Lào. Qua cách i trí này, gợi cho chúng ta dấu ấn của phong cách n trí theo kiểu Tam Tôn, Tam Thánh hay Tam Thế của điện thchính trong ngôi chùa của Phật giáo Bắc tông Việt Nam5. Ở chánh điện chùa o chthduy nhất hình tượng Đc Phật Thích- ca Mâu-ni nhưng với nhiều tư thế khác nhau, đặc biệt tượng chính ở giữa luôn trong phong cách truyền thống là tư thế tọa thiền với xúc địa ấn, n khi nhìn o điện thkhông hcó cảm giác đơn điệu và tẻ nhạt. Gần đây, có ldo nhu cầu m linh của Phật thiến cúng, nên chư Tăng tịnh xá đã tùy duyên n trí hình tượng Bồ-tát Quán Thế Âm hai n trên cấp thnhất của điện thờ, tuy vậy tịnh xá vẫn thhiện rõ phong cách thtcủa Hphái Khất . Cách thty cho thấy Phật giáo Khất sĩ Việt Nam ở Lào, mà đại diện là Tịnh xá Ngọc Tâm, đã tiếp nhận nhanh chóng điểm tương đồng trong cách thphượng, dung hợp khéo o n a bản địa o không gian thtcủa mình, đsong hành cng n a bản địa, mang lại lợi lạc cho quần sanh. Có thi đây là điểm nổi bật của Tịnh xá Ngọc m ở Lào.

Ngoài tượng Phật và Bồ-tát, hình ảnh không thể thiếu được trong bất kỳ tịnh xá nào cho dù ở Đông hay Tây đó là Tổ sư Minh Đăng Quang. Sự hiện hữu hình tượng Ngài trong tịnh xá như là sự minh chứng người khai sáng tông phái, hơn nữa, đó cũng là tinh thần nhân văn của văn hóa dân tộc Việt Nam với tâm tri ân và báo ân của tất cả môn đồ đối với Ngài. Cũng với ý nghĩa thiêng liêng đó nhưng không giống như các tịnh xá ở Việt Nam, Tịnh xá Ngọc Tâm tôn trí hình tượng Ngài ngay ở phía sau tượng Đức Phật Thích-ca Mâu-ni của bàn thờ tam cấp. Có lẽ do điều kiện cơ sở còn đang xây dựng chưa thể tôn trí hình tượng Ngài như ở Việt Nam, nhưng với cách tôn trí như vậy cũng hết sức là tôn kính và đầy sáng tạo.
    1. Giáo lý, y và bình bát

Giáo lý căn bản là nền tảng để một tôn giáo hay hệ phái có thể
  1.  
  1. Trn Hng Liên, Đo Pht trong cng đng người Vit ở Nam Bộ - Vit Nam từ thế kXVII đến 1975, Nxb. Khoa học Xã hội, 2000.
 


tồn tại và có sức sống mãnh liệt trong cộng đồng dân cư. Cuộc đời tầm đạo của Tổ sư, không chỉ là một con người bình thường đi tìm cho mình lý tưởng sống, mà là một vị Bồ-tát hiện thân nối tiếp con đường Chánh pháp của Như Lai. Tuy khó vẹn toàn sứ mệnh thiêng liêng trong bối cảnh xã hội Việt Nam bấy giờ nhưng những triết lý mà Ngài đã tuyên thuyết để lại cho hậu thế, cho Hệ phái có thể phát triển và đứng vững trong lòng dân tộc Việt Nam, trở thành văn hóa Việt Nam là vô cùng quan trọng.

Kế thừa hạnh nguyện tự độ độ tha của Tổ sư, ngoài tam tạng giáo điển thiêng liêng của Đức Phật, Tịnh xá Ngọc Tâm luôn gìn giữ và hành trì theo các giáo điển của Hệ phái mà tiêu biểu là bộ Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang. Bộ Chơn lý là tiếng vang ngân dài về tư tưởng căn bản của Phật giáo Khất sĩ, là toàn bộ trí tuệ, tâm huyết của Tổ sư đã để lại cho đời. Đặc biệt, ngoài giới luật của Đức Phật đã chế, Tổ sư đã lập thêm 114 điều luật hầu làm thành trì để giới luật của Đức Phật cửu trụ Ta-bà và cho Tăng Ni Khất sĩ xuất gia được an trú, thanh tịnh trong cuộc sống ngũ trược. Với tinh thần khế lý khế cơ trong sự nghiệp hoằng truyền để ngọn đèn chơn lý của Đạo Phật Khất Sĩ vào đời sống của người dân Việt Nam thuận duyên hơn, chư Tăng Tịnh xá Ngọc Tâm cũng đã kết hợp với giáo lý của Phật giáo Lào một cách hết sức nhuần nhuyễn. Sự dung hợp hai tư tưởng như là sự bổ khuyết trong hoằng pháp. Nếu như Kinh tạng của Phật giáo Lào với tiếng Pali thâm diệu làm cho tín đồ khó liễu ngộ thì ở giáo điển của Phật giáo Khất sĩ từng câu, từng chữ rõ ràng đã làm cho họ thấm nhuần nhanh hơn, hành trì tu tập dễ dàng hơn.

Thời Đc Phật n tại thế, i sản lớn nhất của một thầy Tỳ-kheo là 3 y và 1 bình bát. Phật giáo Khất sĩ được xem là chân truyền của Đức Phật n tinh thần đó cũng được chư Tăng của Hphái tuân hành nghiêm ngặt. Đnuôi sống bản thân, Tăng sĩ hàng ngày phải mang bình t khất thực, xin vật phẩm cúng dường tn thí. Đó là hình ảnh n quý của những con người đang thực hành hạnh vô ngã, hạnh nhẫn nhục cho bản thân và tinh thần bthí đến mọi người. Hiện tại, ở Việt Nam do hoàn cảnh xã hội khách quan n Tăng sĩ không thđi
 


khất thực, n ở Campuchia, Thái Lan, Lào, tu sĩ Phật giáo hàng ngày o buổi sáng đều mang bình t khất thực. Vì thế, đó là thuận duyên lớn cho chư Tăng của Tịnh xá Ngọc m hành trì phương pháp này trong đời sống tu tập hàng ngày của mình. Cũng ththực một ngày một bữa ng trưa, chiều không ăn và vật dng là bình t nhưng chư Tăng Khất sĩ Tịnh xá Ngọc m ăn chay theo n ch của T, còn Tăng sĩ Phật giáo o được dng ngũ tịnh nhục. Đối với y, chư Tăng cũng có 3 y giống với tu sĩ o nhưng vẫn cho thấy bản sắc riêng của Hphái như vu sắc, kiểu y trung và y thượng. Đối với Phật giáo Khất , bình t không chlà đđđựng thức ăn mỗi khi khất thực thtrai mà n là vật mang theo n mình khi có Phật sđi ra ngoài, còn tu sĩ o chmang bình t khi đi khất thực. n cạnh đó, chất liệu của bình t cũng được qui định knhư phải được m bằng đất nung đvuốt tròn đốt đen có n p n ngoài đkhông n giá trị sang trọng, có i nắp đậy bằng nhôm trắng nhẹ, và tất nhiên là được đựng trong mộti vải theo phong cách của H phái Khất sĩ.

Nghi thức tụng niệm


Tụng kinh niệm Phật là để ôn lại những điều Đức Phật đã dạy, lấy đó làm phương châm cho đời sống hàng ngày và gieo trồng hạt giống giải thoát vào tâm thức. Đồng thời, tụng kinh nhằm để ngăn trừ tội lỗi, dứt trừ nghiệp chướng lâu đời hầu tránh khỏi tai họa trong cuộc sống do nghiệp chướng gây nên. Ngoài ra, tụng niệm là để sám hối tội mình trước ngôi Tam Bảo, nơi thuần tịnh không cấu nhiễm; và để chuyển hóa tâm người quá vãng, khiến họ xa lìa nghiệp xấu, rời cảnh giới sa đọa tối tăm, được siêu sanh về Cực lạc6. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, Phật giáo Khất sĩ chủ trương tất cả kinh tụng đều bằng tiếng Việt nhằm truyền tải những tinh hoa về lời dạy của Phật, để mọi người có thể dễ học dễ hiểu. Tổ sư thấy rằng hàng Phật tử cách thời Đức Phật quá xa và hạn chế hiểu biết về ngôn ngữ, lẽ dĩ nhiên việc đọc tụng, học hiểu lời Phật dạy là rất khó, vì thế Tổ sư đã sử dụng một cách thiết thực hơn là đọc tụng, thuyết giảng bằng tiếng Việt. Từng lời kinh mang một tinh thần dân tộc, phần nhiều là viết
  1. Hphái Kht sĩ, 2012, Nghi thức Tụng niệm, Nxb. Tôn go, tr. 1-2.
 


theo thể văn vần như quyển Nghi thức Tụng niệm, Kinh Tam Bảo… Mặt khác, Hệ phái Khất sĩ cũng có cách đọc tụng với giọng điệu riêng phù hợp với lời kinh đã được Việt hóa để dễ đi vào lòng người hơn.

Nghi thức thtrì thường ngày của c tchức Phật giáo Khất có nhiều nghi thức khác nhau, nhưng chyếu đều là nghi thức riêng của Hphái. Tiếp nối tinh hoa của Phật giáo Khất sĩ Việt Nam, Tịnh xá Ngọc m y co những quyển kinh tụng niệm hàng ngày của tông n m thời khóa hành trì cho mình. Mặt khác, nghi thức tụng niệm truyền thống của Hphái Khất sĩ Việt Nam không sdụng mõ, chcng nhau a âm, giọng ngang, đều hơi, không n giọng, xuống giọng trầm bổng nhiều như cách tụng niệm của Phật giáo Bắc tông. Nghi thức y gần với nghi thức của Phật giáo Nam tông, điều này hay nhưng rất khó, vì âm tiết của tiếng Pali dđọc theo lối y so với âm tiết của tiếng Việt. Nghi thức y hiện nay vẫn n được nhiều tịnh xá như Tịnh xá Trung m (quận Bình Thạnh – TP. HCM) nhiều ngôi tịnh xá khác duy trì, nhưng cũng có một stịnh xá đã đánh mất bản sắc tụng đọc của truyền thống hay của mình. Cũng giống như nhiều tịnh xá hiện nay ở Việt Nam, đdn trong tụng niệm, nhất là mỗi khi hết nhịp, chuyển phần và đPhật ta giọng, cng tụng với chư Tăng Ni n Tịnh xá Ngọc m đã sdụng chuông, mõ, khánh tụng niệm giống như nghi thức Bắc tông. Ngoài những nghi thức n bản của Hphái, đđáp ứng nhu cầu n ngưỡng của cư dân bản địa và một sn đViệt kiều không thông thạo tiếng Việt, Tịnh xá Ngọc m cũng đã tùy duyên sdụng một snghi thức tụng niệm của Phật giáo o o trong một skhóa lcủa mình.
    1. Cơ sở

Một nguyên tắc hết sức thống nhất trong tổ chức của Phật giáo Khất sĩ đó là tất cả cơ sở phải gọi là tịnh xá và đều lấy chữ Ngọc đứng đầu, trừ một số ngoại lệ, như Tịnh xá Ngọc Phương, Tịnh xá Ngọc Dương… Chữ Ngọc ở đây mang ý nghĩa là quý báu, là để chỉ các đạo tràng của Hệ phái, nơi hoằng hóa đạo đức, lợi lạc quần sanh, nó có giá trị như những viên ngọc quý trong thế gian.

Kiến trúc là một trong những nét văn hóa đặc trưng của các cơ
 


sở tôn giáo. Phật giáo Khất sĩ là một Hệ phái của Phật giáo Việt Nam ra đời ở Nam Bộ, vì thế tổ chức này cũng có những kiến trúc đặc thù của mình. Ngôi nhà quan trọng nhất trong quần thể kiến trúc của một tịnh xá là ngôi chánh điện. Về cơ bản, nó cũng có mái cong, đầu đao, nhưng không phải là 2 mái hay 4 mái như các ngôi chùa của Phật giáo Bắc tông hay Phật giáo Nam tông mà là 8 mái hay thường gọi là bát giác. Trên đỉnh nóc cũng không phải là biểu tượng bánh xe pháp luân hay lưỡng long tranh châu quen thuộc mà là biểu tượng hoa sen hay ngọn đèn chơn lý phía dưới là một hoa sen. Với ý nghĩa hoa sen mọc trong bùn, sống trong bùn nhưng vượt lên khỏi nó để hướng đến mặt trời mà không bị bùn làm ô nhiễm. Hình ảnh đó ví cho cuộc đời của những thầy Tỳ-kheo Khất sĩ sống đời sống phạm hạnh, thanh khiết vươn lên từ xã hội ngũ trược và sau đó đem đời sống đạo đức chan hòa cuộc sống, xây dựng cuộc sống thêm thăng hoa. Đây là một trong những đặc trưng kiến trúc tiêu biểu nhất của Phật giáo Khất sĩ Việt Nam.

Hiện nay, Tịnh xá Ngọc Tâm mới chỉ hoàn thành xong phần nền móng của ngôi chánh điện. Tuy nhiên, qua bản vẽ chúng ta cũng có thể thấy được tính kế thừa trong kiến trúc của một cơ sở tôn giáo, đó là ngôi chánh điện hình bát giác với 8 bộ cửa quay ra 8 hướng. Theo khuôn mẫu ngôi chánh điện của các tịnh xá ở Việt Nam có 8 mái cong đưa ra 8 hướng và nếu mái chồng mái thì mái trên nhỏ hơn mái dưới nhưng cũng có 8 mái đưa ra 8 hướng, các đầu mái là các đầu đao theo văn hóa mỹ thuật Việt Nam như hình rồng, hạc hay hoa được cách điệu. Ngôi chánh điện của Tịnh xá Ngọc Tâm được thiết kế với 2 tầng mái. Tầng một vẫn tuân thủ 8 mái, nhưng ở tầng mái trên thứ 2 thì được thiết kế còn lại 4 mái giống như tầng mái tháp của Phật giáo Bắc tông. Ở trên 8 mái của tầng mái thứ nhất còn được thiết kế thêm 4 hồi xen kẽ trên 4 mái xoay về 4 hướng, hình mui thuyền giống như chùa Lào, xa trông như một tầng mái ở giữa. Qua bộ mái chánh điện của ngôi Tịnh xá Ngọc Tâm, chúng ta thấy sự kết hợp của cả 3 phong cách kiến trúc của 3 cơ sở tông phái Phật giáo. Có thể nói rằng đây quả là sự sáng tạo tuyệt vời, vừa kế thừa giá trị truyền thống trong kiến trúc của Hệ phái vừa tiếp thu với văn hóa bản địa.
 


Phía sau ngôi chánh điện, cách khoảng 30 mét, là ngôi Tăng xá mà hiện nay sử dụng làm điện thờ tạm. Ngôi nhà này được xây dựng như ngôi nhà của người Lào. Bước vào cửa chính là điện thờ Phật, hai bên là Tăng phòng. Theo dự tính của chư Tăng, sau khi ngôi chánh điện hoàn thành thì nơi này làm điện thờ Tổ sư và trai đường. Bên phải của Tăng xá là ngôi nhà thờ linh cốt của người mất. Hình đồ của Tịnh xá Ngọc Tâm là hình chữ nhật, nhìn theo chiều dọc, trước tiên là ngôi chánh điện, thứ đến là tôn tượng Quán Thế Âm, sau cùng là Tăng xá và nhà linh cốt. Sự phối cảnh như vậy quả thật không hài hòa cho lắm. Thực tế, do trục đường chính chạy dọc bên hông lại không có đường phía trước mặt nên cổng tam quan cũng được bố trí ở cạnh dọc của khu đất. Vì thế khi qua cổng tam quan, hình tượng đầu tiên mà chúng ta thấy đó là tôn tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, nhìn bên phải là ngôi chánh điện, sang bên trái là Tăng xá và nhà linh cốt. Với cách bố trí các công trình kiến trúc như vậy trong quần thể kiến trúc của Tịnh xá Ngọc Tâm là theo chiều ngang, nhưng mặt vẫn hướng theo chiều dọc, hy vọng trong tương lai sẽ khắc phục được sự hạn chế nhất định về địa hình này để có thể có được một ngôi tịnh xá trang nghiêm, tráng lệ trong không gian kiến trúc của bản làng Lào và đúng với khuôn mẫu kiến trúc tịnh xá của Hệ phái.
    1. Tổ chức

Tuy chưa được xếp vào một giáo đoàn nào của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam nhưng Tịnh xá Ngọc Tâm luôn tâm niệm mình là một thành viên, tinh tấn tu tập và sinh hoạt theo tôn chỉ của Tổ sư đã dạy. Như đã trình bày ở trên, sự ra đời của tịnh xá là cơ duyên đặc biệt với tinh thần hoằng truyền Chánh pháp, báo ân Đức Phật của hai tu sĩ Phật giáo Khất sĩ và Phật giáo Bắc tông, đặc biệt cả hai đều là Việt kiều. Vì thế, sự liên hệ sinh hoạt tu tập và Phật sự của tịnh xá với Hệ phái Khất sĩ Việt Nam còn nhiều hạn chế. Lẽ dĩ nhiên sẽ có những thiếu sót trong tiếp nối tôn chỉ, những khuôn mẫu truyền thống của Hệ phái là điều không thể tránh khỏi. Ban đầu khi mới thành lập, vị Sư ở Úc thường xuyên đi lại để tư vấn xây dựng và hướng dẫn nam nữ Phật tử tu tập, đến khi mọi việc đã đi vào ổn định và nhất là đã
 


có người kế nghiệp thì hàng năm Sư chỉ về đây hành trì vào mùa An cư theo lịch của Lào. Hiện tại Tịnh xá Ngọc Tâm có một vị Tăng trụ trì và một số nam nữ Phật tử vào công quả, tu gieo duyên trong thời gian ngắn.

Thật hết sức thuận duyên, người Lào không những không ngăn cản mà còn nhiệt tình đón nhận các tôn giáo bên ngoài du nhập vào. Phật giáo Khất sĩ Việt Nam ở Lào là một minh chứng sống động nhất cho tinh thần nhân văn đó của cư dân Lào. Khi còn là mảnh đất hoang, trước sự cầu thỉnh của cộng đồng người Việt Nam ở Viêng- chăn, lãnh đạo Phật giáo Lào từ trung ương đến địa phương luôn ủng hộ tinh thần và giúp đỡ thủ tục hành chánh để sớm có nơi sinh hoạt tâm linh cho bà con Phật tử người Việt. Đến nay, Tịnh xá Ngọc Tâm cũng là thành viên tích cực của Liên minh Phật giáo Lào và Mặt trận xây dựng đất nước Lào, đồng thời cũng luôn kề vai sát cánh cùng với chư Tăng Ni Phật tử của Phật giáo Bắc tông Việt Nam ở Viêng-chăn trong mọi công tác Phật sự trên tinh thần tốt đạo – đẹp đời.
  1. Vai trò của Phật giáo Khất sĩ trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt Nam ở thủ đô Viêng-chăn

Mặc dù cơ sở vật chất còn hạn chế nhưng Tịnh xá Ngọc Tâm luôn cố gắng phát huy vai trò tích cực của mình trong đời sống của cộng đồng người Việt Nam ở Lào nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở thủ đô Viêng-chăn nói riêng, đặc biệt là tại bản Chằn- sá-vang. Trong xã hội đời thường, ai ai cũng có ước mong được an lành trong cuộc sống, với những người con đất Việt xa quê hương, nhu cầu đó càng quan trọng hơn. Mỗi khi trong bản làng, không chỉ riêng gia đình người Việt mà cả người Lào có lễ tục như động thổ xây dựng, khai trương cửa hàng, lên nhà mới hay cầu an để tống ách trừ tai đều có thể lên tịnh xá hoặc thỉnh chư Tăng về nhà tụng kinh trì chú cho gia đình. Hay khi có người mất, chư Tăng cũng đến phúng viếng và tụng kinh cầu nguyện. Hầu hết bà con người Việt ở Viêng- chăn sau khi mất, dù là chôn hay thiêu đều có tâm nguyện đưa ảnh và tro cốt lên chùa gửi để linh hồn được nương nhờ cửa Phật mau siêu
 


thoát7. Để đáp ứng duy nguyện đó, dù khuôn viên nhỏ hẹp nhưng tịnh xá cũng dành một phần để xây dựng khu nhà để lưu linh cốt của bà con người Việt quá cố.

Song song sử dụng phổ biến lịch của Lào trong sinh hoạt hàng ngày, Tịnh xá Ngọc Tâm dùng lịch âm để định ngày sinh hoạt lễ hội trong chu kỳ một năm giống như Phật giáo ở Việt Nam. Một tháng của lịch Lào có 30 ngày, tháng thiếu thì 29 ngày, nhưng cách tính khác với âm lịch của ta. Họ không tính từ ngày mùng 1 đến ngày 30 mà tính từ 1 đến 15 của tuần trăng sáng rồi quay lại từ 1 đến 15 của tuần trăng tối. Như vậy, một tháng của lịch Lào có hai tuần trăng và trong mỗi tuần có 2 ngày Phật, đó là ngày mùng 8 và ngày 15, nhưng quan trọng nhất là ngày 15 của mỗi tuần trăng, giống như ngày rằm và 30 của lịch âm. Thường thì lịch Lào và lịch của ta chỉ chênh nhau 1 hoặc 2 ngày do ở mỗi lịch có tháng thiếu hoặc tháng đủ. Hàng tháng vào ngày rằm và ngày cuối tháng là ngày Tăng Ni sám hối và Bố-tát để được thanh tịnh. Tăng chúng tụng đọc và ôn lại những giới điều đã thọ và đề khởi ý chí nghiêm trì giới luật. Vào những ngày này, trong làng, người dân Lào tạm dừng tất cả công việc đồng áng hay xây dựng để lên chùa nghe pháp và tu tập. Dù vất vả tìm kế mưu sinh nơi đất khách nhưng với niềm tin Tam Bảo trong tâm mình, tín đồ Phật giáo Việt Nam ở Lào vẫn về chùa ăn chay, niệm Phật và sám hối.


Ngoài ngày trọng đại Tưởng niệm ngày Tổ sư vắng bóng, trong một năm, Tịnh xá Ngọc Tâm vẫn gìn giữ các ngày lễ hội truyền thống của Phật giáo Việt Nam như ngày Rằm tháng Giêng tổ chức đàn lễ cúng cầu an đầu năm cho thập phương bá tánh, nguyện cầu trong suốt năm mới mọi người được an lành và no cơm ấm áo. Đến Rằm tháng Tư, (trước kia là mùng 8 tháng Tư) tổ chức Đại lễ Khánh đản Đức Phật Thích-ca Mâu-ni để tưởng nhớ và báo ân Ngài đã khai sáng con đường giải thoát cho tất cả chúng sanh. Đây là lễ hội quan trọng nhất của Phật giáo không riêng gì Hệ phái Khất sĩ. Vào ngày lễ, tịnh

7. Lê Thị Hng Diệp, Đời sng văn hóa ca người Vit đnh cư ở thành phVientiane (Lào), Lun văn Thạc sỹ Văn hóa hc, Trường Đi học Khoa học Xã hi và Nhân văn TP. HCMinh, 2007.
 


xá thành kính tổ chức lễ tắm Phật với nước thơm để tưởng nhớ đến sự kiện chư thiên tắm thái tử khi Ngài vừa mới chào đời. Rằm tháng 7, tịnh xá tổ chức đàn lễ cầu siêu cho tất cả chư hương linh quá vãng, ngày xá tội vong nhân nơi địa ngục và cũng là ngày để mỗi người Phật tử hoài vọng, báo hiếu song thân, thành tâm cầu nguyện cho cha mẹ đã quá vãng được siêu sanh, cha mẹ hiện tiền được tăng long phước thọ. Rằm tháng 10 là đàn lễ cầu an và cầu siêu cuối năm cho tất cả tín chủ mười phương. Tết Nguyên Ðán là một lễ hội truyền thống quan trọng nhất của dân tộc Việt Nam. Hòa quyện với không khí nô nức của ngày Tết, tịnh xá cũng sơn sửa, trang trí để đêm 30 sau khi dâng lễ cúng tổ tiên xong và những ngày đầu xuân bà con người Việt đến lễ Phật cầu phúc lộc đầu năm.

Trong mỗi ngày lễ đều có đông đảo bà con người Việt Nam ở Viêng-chăn về tịnh xá tham dự, tụng kinh, cầu nguyện và làm các công đức như bố thí, cúng dường chư Tăng và phần không thể thiếu đó là dùng bữa trưa cơm chay với tịnh xá trong tinh thần đoàn kết cộng đồng. Ngoài ra, Tịnh xá Ngọc Tâm còn tổ chức nghi thức thọ trì Bát Quan Trai cho Phật tử tu tập và gieo trồng hạt giống xuất gia trong tương lai.

Từ thời Đức Phật còn tại thế, mỗi năm chư Tăng Ni đều cấm túc an cư ba tháng trong mùa mưa. Vào mùa này, muông thú và côn trùng sinh sản rất nhiều, để cho chúng không bị vô tình dẫm đạp, Đức Phật đã huấn thị Tăng Ni ở cố định một nơi trong suốt thời gian ba tháng, không nên di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác. Vì thế, hàng năm theo lịch Lào, Tăng chúng Tịnh xá Ngọc Tâm không bao giờ quên truyền thống nhân văn đó của đạo Phật. Hơn thế, sống trong không khí tín ngưỡng Phật giáo mạnh mẽ của người dân Lào, ngày lễ hội vào Hạ - An cư đã trở thành ngày lễ quan trọng của tịnh xá. Trước ngày lễ, tịnh xá gửi thông báo đến toàn thể Phật giáo đồ và bà con người Việt Nam ở Viêng-chăn, để họ biết và thu xếp thời gian đến dự lễ. Đặc biệt, trong thông báo còn có chi tiết quan trọng đó là khuyến khích mọi người vì lợi lạc nội tâm mà phát nguyện tham gia khóa tu gieo duyên trong ba tháng An cư của
 


tịnh xá. Trong thời gian này, Thượng tọa khai sơn từ bên Úc về và chư Tăng Ni là những pháp lữ của Thượng tọa từ một số nước như Malaysia, Thái Lan… cũng về tham dự hành trì và hướng dẫn cư sĩ nam nữ tu tập đạo giải thoát. Trong ngày lễ nhập Hạ, có nghi thức thuyết pháp và đặc biệt là nghi thức trì bình khất thực của chư hành giả an cư xung quanh khuôn viên tịnh xá nhằm khơi dậy hình ảnh sống động của Tăng đoàn thời Đức Thế Tôn. Sau đó, ngày ngày bà con trong làng và cộng đồng người Việt Nam ở Viêng-chăn đến tịnh xá cúng dường thực phẩm cho chư Tăng Ni. Trong suốt ba tháng an cư, vào những ngày rằm và 30, tịnh xá đều tổ chức khóa tu Bát Quan Trai giới trọn một ngày đêm cho những Phật tử còn thiếu duyên lành do gia duyên còn ràng buộc không thể phát nguyện tu suốt ba tháng.

Cuối thời gian an cư, tịnh xá tổ chức lễ mãn hạ cho chư hành giả. Do điều kiện chư Tăng Ni ở xa câu hội về, nên nhân lễ này tịnh xá tổ chức cho Phật tử cúng dường y áo và vật dụng cho chư hành giả an cư. Trong lễ này đều có thỉnh chư Tăng Ni của Phật giáo Lào và Phật giáo Bắc tông Việt Nam đến tham dự. Hai nghi thức quan trọng không thể thiếu được trong bất kỳ lễ hội nào của người dân Lào đó là cúng dường vật phẩm cho chư Tăng buổi sáng và nhiễu Phật, nhiễu tháp vào chập tối. Cả hai nghi thức này đều được tịnh xá tiếp nhận nhưng có phần uyển chuyển như nghi thức buổi sáng theo lẽ thường chư Tăng đặt bình bát thành hàng dài trên chiếc bàn được bố trí trước sân, rồi sau khóa lễ tụng kinh của chư Tăng, tất cả người tham dự mang vật phẩm cúng dường thứ tự đặt vào từng bình bát. Trong lúc đó, một vị Tăng đại diện thuyết một bài pháp ngắn, thường là sư Lào. Sau đó, chư Tăng thọ thực và ra về, mọi người lại cùng nhau dùng cơm chay với tịnh xá trong tình cảm cộng đồng. Nghi thức thứ hai, do trong điều kiện đang xây dựng nên phần nghi lễ buổi tối được tịnh xá chuyển thành khóa lễ niệm Phật và tọa thiền.
  1. Kết luận

Tuy có điểm tương đồng về tín ngưỡng là đạo Phật, nhưng Hệ phái Bắc tông đã đi sâu vào trong đời sống, trở thành cách cảm cách nghĩ của mỗi người dân Việt, trở thành đạo Phật của người Việt. Vì
 


thế đạo Phật của người Lào có phần xa lạ với lưu dân Việt. Trước những thôi thúc được gửi gắm niềm tin vào Đức Phật, vào các vị Bồ- tát và thần linh của mình, qua năm tháng bà con người Việt Nam ở Viêng-chăn đã cùng nhau xây chùa thỉnh Phật về để phụng thờ. Từ đó, ngôi chùa của Phật giáo Bắc tông Việt Nam đã có mặt trên đất Lào và để đáp ứng đầy đủ nguyện vọng về tâm linh cho cộng đồng người Việt Nam ở Lào nói chung và ở Viêng-chăn nói riêng, họ cũng đã lập nên tịnh xá của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam ở đây.

Non một thập niên ktngày đặt viên gạch đầu tiên y dựng cho đến nay, ngần y thời gian qulà quá ngắn đmột tông phái thtạo dựng niềm tin trong cộng đồng, nhưng với Phật giáo Khất Việt Nam ở o mà đại diện là Tịnh xá Ngọc m có thm được. Đây là tịnh xá duy nhất của Hphái Khất sĩ có mặt ở Lào. Qua những bước đi ban đầu của mình giữa hai nền n a lớn là Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông ở Lào, Phật giáo Khất sĩ đã dần a chung nhịp đập trái tim của cộng đồng người Việt Nam ở Viêng-chăn. Để làm được điều đó, Tịnh xá Ngọc m tkhi hình thành cho đến nay đều nhất quán theo giáo lý và n chcủa Phật giáo Khất sĩ như từ danh hiệu tịnh , thphượng, nghi thức tụng niệm, pháp phục, khất thực, ăn chay, mô hình kiến trúcMặt khác, đtăng thêm sức sống, Tịnh xá Ngọc m đã vận dụng linh hoạt những tinh hoa n a của Phật giáo Nam tông o và Phật giáo Bắc tông Việt Nam o trong từng kiến trúc, nghi lvà sinh hoạt thường nhật đvới người Phật tPhật giáo Bắc tông khi đến tịnh xá vẫn cảm thấy gần i với văn hóa truyền thống của mình và với người n o cũng thấy có nét tương đồng, có thcng nhau sinh hoạt, cng nhau tu tập. Đồng thời, chư Tăng Ni tịnh xá luôn cgắng trong m niệm liên hvới chư vị Trưởng lão, chư Tăng Ni của Hphái ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài đđược chư vchứng minh chdạy trong ltrình tu tập m cầu giải thoát và phụng schúng sanh, khẳng định giá trchơn lý của tông môn trong lòng n tộc và cộng đồng người Việt Nam ở Viêng-chăn.

Bên cạnh những thuận duyên đó, trong tương lai lâu dài trước sự giao lưu văn hóa thiếu cân bằng trên nhiều phương diện, một là



văn hóa Phật giáo Nam tông Lào như là người khổng lồ, một là văn hóa Phật giáo Bắc tông Việt Nam như là huyết thanh trong mọi cơ thể sống của người dân Việt. Đứng trước bối cảnh như vậy, Hệ phái Khất sĩ Việt Nam (Tịnh xá Ngọc Tâm) liệu có bị co cụm lại rồi ra đi, hay trở thành tượng đài vững chắc trong đời sống văn hóa của cư dân Lào và cộng đồng người Việt Nam ở Lào nói chung cũng như ở Viêng-chăn nói riêng. Đó chắc chắn là thách thức lớn mà chư Tăng Ni của tịnh xá hằng suy tư và đó cũng là định hướng cho người viết tiếp tục nghiên cứu trong tương lai sắp tới.


 

***


TÀI LIỆU THAM KHO
 
    1. Hphái Kht sĩ, 1993, Chơn lý, Thành hi Pht giáo Thành phHCMinh.
 
    1. Nguyễn Văn Thoàn, 2005, Văn hóa Pht go trong đời sống cư dân Lào, Lun văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa hc. Trường Đi hc Khoa hc Xã hi và Nhân văn Thành phHC Minh, tr. 151.
 
    1. Lương Ninh (chbiên), 1996, Đt nước Lào: Lch sử và Văn hóa, Nxb. Chính trị Quc gia, tr. 74.
 
    1. Nguyễn Lệ Thi, 2007, Chùa ca người Vit ở Lào, Tp c Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007, tr. 57.
 
    1. Trn Hng Liên, Đo Pht trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ - Việt Nam từ thế kXVII đến 1975, Nxb. Khoa hc Xã hi, 2000.
 
    1. Hệ phái Kht sĩ, 2012, Nghi thức Tụng niệm, Nxb. Tôn giáo, tr. 1-2.
 
    1. Lê Thị Hng Diệp, Đời sống văn hóa ca người Việt đnh cư ở thành phVientiane (Lào), Lun văn Thạc sĩ Văn hóa hc, Trường Đi hc Khoa hc Xã hi và Nhân văn TP. HCMinh, 2007.
    1.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây