71. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ PHÁI KHẤT SĨ VIỆT NAM

Chủ nhật - 09/09/2018 13:30
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ PHÁI KHẤT SĨ VIỆT NAM
TT. Giác Tây
Giáo phẩm Hệ phái Khất sĩ Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương đặc trách Khất sĩ
 

I . BỐI CẢNH RA ĐỜI CA HỆ PHÁI KHẤT S


Pht giáo du nhp o Việt Nam đã hơn 2.000 năm. Tđó đến nay tri qua bao sthăng trm của lịch sử, có những lúc Pht giáo Việt Nam ở o thời kvàng son như thời Lý - Trn, nng cũng có lúc cm lng trong xã hi như thời Nguyễn, thời Pháp thuc. Trong tình trạng trì trệ, mt sinh lực đphát triển, Pht giáo cn được chn ng, to ngun lực mới. Trong sdn nén đó các hphái Pht giáo ni sinh ở miền Nam Việt Nam ra đời.

Ti miền Nam lúc by giờ, các giáo phái được thành lpo cui thế kXIX đã và đang phát triển mnh, như đạo Bửu Sơn KHương do ông Đoàn Minh Huyên (1807 - 1856), pháp danh Minh Huyên, người làng Tòng Sơn, Cái Tàu Thượng – Sa Đéc, sáng lp 1849. TÂn Hiếu Nghĩa do ông Ngô Li (1830 – 1890) sáng lp năm 1869, phát triển ở vng Tht Sơn – An Giang. Pht giáo Hòa Ho do đức Hunh Phú S(1919 - 1947) ở làng Hòa Ho, huyn Tân Châu, tnh Châu Đc (cũ) sáng lp năm 1939.

Vào năm 1940, Hòa thượng HTông đã xây dựng chùa Bửu Quang (Tam Bình) ThĐức – Sài Gòn. Đây là ni chùa Nam tông đu tiên được xây dựng ở miền Nam, nng mãi đến ngày 18/12/1957 Go hi
 


Tăng-già Nguyên thy Việt Nam mới cnh thức thành lp.

Việt Nam trước năm 1945 bthực dân Pháp cai tr. Nam Klà vng Pháp đã đt chế đcai trsm nht. Năm 1862, triều Nguyn ct ba tnh miền Đông Nam Kcho Pháp, đến năm 1867 tiếp tc ct thêm ba tnh miền Tây. Đến năm 1884, triều Nguyn tht th, phi ký Hòa ước Patenôtres và hoàn toàn mt hn tính cht đc lp dân tc.1

Do biến đng của lịch sử, Pht giáo miền Nam tách ri vi miền Bắc, miền Trung nên đã xut hiện nhiều giáo phái, tông phái mới: có hơn 14 tông phái kc nhau, hu hết ra đời trong khong nửa cui thế kXIX đến đu thế kXX (1849 – 1957), to nên bn sc văn hóa đa dng cho vng Nam B. Đo Pht Kht Sĩ là mt trong sy, do Tsư Minh Đăng Quang khai sáng, dựa trên tinh thn chn ng Pht giáo bng con đường Ni truyền Thích-ca Cnh pp phđnhân sinh và nâng cao nhn thức giáo lý Pht-đà đtrình đtu tp của Tăng Ni xut gia được nâng n tm cao mới. Snh thành ca Đo Pht Kht sĩ có 2 nguyên nhân chyếu.
  1. Ngun nhân bên ngoài: Việt Nam trước Cách mng tháng Tám năm 1945 là nước thun nông vi nn nông nghiệp lc hu, chu sđô hcủa thực dân Pháp hơn 80 năm, đời sng của người dân hết sức cơ cực khiến hmun hướng vđời sng tâm linh đtìm ngun an lc i ni tâm. Đây là điều kiện thun lợi cho sxut hiện những giáo phái mới nhm đáp ng nhu cu của qun chúng. Đng thời, vng đt Nam Bmới được khai phá o thời Nguyn (thế kXVII) nên còn hoang vu rm rp, nhiều thú dữ, thiên tai lt ligây nhiều khó khăn cho người dân, nng đt đai i đây rt màu mỡ nhhai con sông Tiền và sông Hậu bi đp phsa, mt vng ít bđi núi cn tr, li nhiều sông ni kênh rạch nên thun lợi cho vic giao thông đường bvà đường thy. Bi thế, tkhong thế kXVII trđi có nhiều thành phn cư dân tcác i kc đến sinh sng, và hđã mang theo các phong tục, tp quán, tín nỡng, tôn giáo đp phn cho snh thành và xut hiện nhiều tông giáo mới.
 
  1. Ngun nhân bên trong: Từ khi Pháp đem quân xâm lăng
 
  1.  
  1. Nguyễn Khắc Thun, Đi cương lch sử văn hoá Vit Nam, tr. 148.
 


áp đt sự cai trị lên vùng đt Nam K, cũng là lúc người Việt Nam chu ni đau mt nước. “Pht go thời by giờ cùng chung số phn y, đã bmt chquyền dân tộc, go quyền đo Pht bchà đp trắng trợn hơn bao gihết (c Sư phi np thuế thân, phi đi nh cho thực dân Pháp, chng được tự do truyền đo nbên Thiên Chúa, v.v…). Tình trạng khn đn ca Pht go bui này chng khác nào đng cửa đchchết vì chng còn hthống (đoàn thể) tchức ntrước kia, nguyên do thực dân Pháp ctình ct đứt sự thợp ca Pht go bui này, chúng sợ dân ta trá nh là Pht go đri chống đi chúng nên mi nh thức ca Pht go bchúng làm tê liệt cả. Trong Tăng giới thời này chng biết làm gì hơn trước sự dòm ngó theo dõi ca thực dân nên sự sống hết sức là rời rc, vô tchức2.

Thi gian này bên Trung Quc, o cui đời nhà Thanh (1616
  • 1911), tình nh Pht go ở Trung Hoa cũng đang trong giai đon suy đi trm trọng, mt phn do người xut gia và tín đồ ti gia ít hiểu go lý cao siêu ca đạo Pht, mt phn vì mê tín dđoan đã thâm nhp mt cách trm trọng o chn thiền môn. Mt số học giTrung Hoa nhn thy snh hưởng ca văn minh Tây Âu bt đu phát triển trong nước, cn mt phong to bài trmê tín dđoan, mt cuộc thanh lc trong nn văn minh Trung Hoa, nhm giữ li những cái hay và bđi những cái dở. Sau khi tìm xét, hđng tán dương giá trị chân cnh cao siêu ca Pht giáo và đxướng phong to Chn ng Phật giáo. Người có công và nh hưởng lớn nht ca phong to này là Đi sư Thái , Ngài là mt bc cao Tăng thạc đức, học rộng hiểu nhiều và rt hăng hái vi việc hong dương Chánh pháp.

Phong trào Chn hưng Phật giáo Trung Hoacũng như ti mt số nước khác trên thế giới trong những năm đu thế kXX đã tác đng đến Pht giáo Việt Nam. Vào khong năm 1920, ti nước ta, mt phong trào chn hưng Pht giáo đã được khởi xướng bng những cố gng đơn lẻ của mt số vị cao Tăng thạc đức trong nước như Sư cVĩnh Nghiêm (Thanh Hnh), Tế Các (Phan Trung Thứ), Bng Sở (Dương Văn Hiển) ở miền Bắc; miền Trung có các Ngài Tâm
  1. Vân Thanh, Lược kho Pht go sViệt Nam, ngày 27/6/1974, tr. 189 – 190.
 


Tịnh, Huệ Pháp, Phước Huệ; miền Nam có quý Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Qung, Khánh Anh, v.vVì hoàn cnh thúc gic trong xứ Nam Klc tnh còn li mt số Tăng-già tiền bi cthực hc thực tu tìm đmi phương châm đduy trì mi đo3.

Phong to Chn ng Phật giáo Đi thừao thp niên hai mươi, ba mươi của thế kXX do TKhánh Hòa và Thiền sư Thiện Chiếu lãnh đạo đã có sức nh hưởng lớn. Nhiều hi Pht giáo, tp chí đã ra đời như Hi Nghiên cứu Pht học và tTp chí TBi Âm ra đời ở min Nam vào tháng Giêng năm 1932. Ri sau đó, tháng 6 năm 1933 tNguyt san Viên Âm ra đời ở Huế làm cơ quan nghiên cứu ca Hi Pht học Trung K. Tháng 11 năm 1934 ti phiên Hi Pht học Bc Kđược thành lp do Tng đc Hoàng Trng Phu và Nguyn Năng Quc đứng đu, năm sau Đuc Tura đời làm cơ quan tuyên truyn cho Hi y4.

Nng tht tiếc thay, khi phong to chn ng Pht go Việt Nam đang n thì chiến tranh thế giới thII bng nvà sau đó là chiến tranh Việt – Pháp làm gián đon hot đng của các hi Pht hc trong cnước.

II. TIỂU SĐỨC TSƯ MINH ĐĂNG QUANG


Đức Tổ sư Minh Đăng Quang có thế danh là Nguyễn Thành Đt, tự Lý Huờn, ra đời lúc 10 giờ đêm, ngày Tân Tỵ 26 tháng 9 năm Quý Hợi (1923), ti làng Phú Hu, tng Bình Phú, qun Tam Bình, tỉnh Cửu Long (nay là p 6, xã Hu Lc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long). Ngài sinh trưởng trong mt gia đình thuc thành phn trung nông có nnếp Nho go. Thân phụ là cNguyễn Tn Hiếu (mt ngày 05/01 năm Mu Thân 1968, hưởng thọ 75 tui). Thân mu là bà Phm Thị T, tự Nhàn.

Tbao đời, gia đình song thân Ngài vốn có nnếp ăn ở theo đạo Thánh hiền, tu nhân tích đức được người đương thời khen ngi là gia đình hiền lương nhân nghĩa. Gia đình ông bà có tt cnăm người con, Ngài là út. Đi vi bn anh chtrước, thân mu đều ththai sinh nbình thường, rng Ngài bà mang thai đến 12 tháng mới khai hoa. Ngài sinh
  1. Sđd.
  2. Trn Văn Giàu, Nxb. TP.HCM, 1993, tr. 228.
 


được mười tháng (ngày 25 tháng 7 năm Giáp Tý - 1924) thì thân mu bbnh tim và qua đời (hưởng dương 32 tui). Tđó, Ngài được cô Út đem vnuôi 1 tháng, bác dâu thtám đưa vnuôi thêm 1 tun, ri Ngài được gi vquê ngoại. Bà ngoi nuôi đến 3 tuổi, năm y thân phcó kế mu là bà Hà ThSong và Ngài được kế mu tiếp tc nuôi ỡng. Năm n by, ngài được công cho n thxã Vĩnh Long hc cng các anh ở trường Tng Phước Hiệp (nay là trường u Văn Liệt). Ngài có trí thông minh kc hơn những trcng thời, phong cách đi, đứng, ăn, mặc, nói, làm… đều thhiện đức tính trang nghiêm điềm đm. Lúc y, tuy Ngài còn nhnng rt có lòng tbi, như khi tri nng thân phcho tiền đi xe ngựa kéo, nng Ngài không nỡ đi vì thương người t vt. Đến năm thi Tiểu hc, người anh thnăm thi rt nên mượn khai sinh của Ngài đi hc, còn Ngài mượn khai sinh của Lý Huờn (cha mcủa Lý Huờn là Lý Tắc và Trn ThHóa, tđây vsau Ngài có tên Lý Huờn). Tuy sinh trưởng ở mt làng quê nng Ngài có trí thông minh kc thường, ngoài gihc ở trường, vnhà chú ý xem coi lịch scác danh nhân cng những kinh sám, truyện, stích v.vXem đến đâu đều nhhết cng lun gii phê phán có phương pháp rõ rệt. Ngài có lòng thương người, tlúc nhđã ăn chay theo cha, niệm hương cúng Pht mi tối. Tuy ca trưởng thành nng lòng tbi thương người mến vt và lòng nh nỡng đạo Pht của Đức Tsư đã thhiện rõ.

Đến năm 1937 (Ngài được 14 tui), Ngài nghỉ hc và nhiều ln xin phép với thân phụ được xut gia đi tm cu chân lý. Thân phụ vì quá thương con nên nht định ngăn cn.

Năm sau (1938), Ngài tbiệt gia đình sang Campuchia đtìm hiểu Pht giáo. Ban đu Ngài gp mt vthy người Việt gc Khmer (thường gọi là thy Lc Tà Keo). Ngài thy li tu của vthy không đưa đến gii thoát nên Ngài không theo nữa mà tr vquê nhà o năm 1941.

vi thân phvài tháng, Ngài n Sài Gòn làm vic tlp nuôi thân. Cnh trong thời gian này Ngài lp gia đình, nng hơn mt năm sau thì người bn đời và đứa con thơ ln lượt thbnh rồi qua đời.

Với căn lành tích lũy nhiều đời tiền kiếp, Ngài cm nhn rõ sự vô thường của kiếp người giả tm. Ngài thường tới lui các nhà đạo đức
 


trưởng thượng đương thời để tham vn đạo lý, đng thời hng ngày ngài thường hay ra cái tht am nhsau nhà để tu tp tham thiền.

Năm 1943 (21 tui), Ngài quyết chí đi tu, và ln này Ngài dc chí dn thân o vng Tht Sơn – i có nhiều núi non huyn , hang đng thm sâu, có bc n tu ít người thy gp. Sau mt thời gian, mùa xuân năm 1944 (22 tui) Ngài xung núi, qua đt Hà Tn định ln sang Phú Quc rồi tiếp tc đến c nước hc đạo truyn giáo, nng vừa đến Mũi Nai (nay thuc xã MĐức, thxã Hà Tiên, tnh Kn Giang) ttrtàu. Ngài tìm đến những hòn đá caoi thanh vng ở bãi biển ngồi tham thiền nhp định by ngày đêm, thnghiệm chân lý ti hu.

Sau khi đắc đạo (1944), Ngài trvquê nhà với hình dáng người tu, khoác bộ đồ nâu sng. Sau khi chào cha và trú tm ở nhà vài hôm, Ngài lên đường truyền go. Mt hôm, có bậc hiền sĩ từng chu du khp nơi tìm thy hc đạo, thy Ngài đy đủ oai nghi đạo hnh liền thỉnh về trụ ti ni chùa Linh Bửu thuc làng Phú M, tỉnh Định Tường - Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang).

Ti chùa Linh Bửu, ngày Rm tháng 7 năm 1944, Ngài đi trước ni Tam Bảo phát nguyện thọ y bát giới Sa-di (10 giới) và nghiêm mt hành trì giới lut y bát kht thực. Sau đó 2 năm, cũng ti nơi này, Ngài phát đi nguyện thCtúc Tỳ-kheo 250 giới và hành Tứ y pháp Trung đạo, được Đức Pht A-di-đà ứng mng chứng minh thký cho Ngài pháp danh Minh Đăng Quang. Có y pháp đy đ, từ Linh Bửu tự, Ngài đã du hóa hành đạo thuyết pháp khp nơi với hình nh mt nhà sư không nhà cửa, không quyến thuc, không bạc tiền, mi sáng đu trn chân không, thân đp mnh y vàng, tay ôm bình bát đt kht thực hóa duyên với cnguyện Ni truyn Thích-ca Chánh pháp”, sng đời phm hnh gii thoát theo Pht Tăng xưa:

Mt bát cơm ngàn nhà, Thân chơi muôn dm xa, Mun thoát đường sinh tử, Xin ăn ngày tháng qua.
 


Thỉnh thong, Ngài ra thành th, đi viếng thăm các vĐi sư đương thời như HT. Thiên Thai ở Bà Rịa – Vũng Tàu, HT. HuNhựt phái Thiền đdung hp thêm kinh nghiệm tu tp và phhóa chúng sanh.

Năm 1947, Ngài độ được nhiều đệ tử xut gia, người đệ tử đu tiên là Đức Thy Từ Hu, và bt đu cho xây ct tịnh xá.

Năm 1948, giáo pháp Kht sĩ đến Sài Gòn, sau đó giáo hóa nhân sanh khp cả hai vùng Tây - Đông Nam B. Sut my năm hoằng pháp độ sanh, Ngài kêu gọi Tăng đồ tinh tn hành trì giới lut và nên tập sng chung tu hc, khuyến kch mi người cng chung xây dựng cõi đời an lạc đạo đức. Huỳnh Minh, tác giả của tác phm Vĩnh Long xưa và nay 5, tán thán hnh đức của Tổ sư như sau: Phật tử khp miền Nam nước Vit không ai mà không tán thán cái đức đ, cái giới hnh ca mt tu sĩ thanh xuân đứng trên thí trường chnh đn Tăng-già”.

Chiều ngày 30 tháng Gng năm Giáp Ng(1954), ti Tnh Ngc Quang (Sa Đéc), Ngài tp trung các đtli ân cn dy bo vstu hc và mmang mi đạo, và tgiã các đtđđi tu tnh ti núi Lửa. Các đtxin theo nng Ngài không cho. Sáng ngày mng 1 tháng 2 năm 1954, Ngài tSa-đéc vVĩnh Long đsang Cn Thơ. Theo Ngài chcó Sa-di Giác Pháp 14 tuổi, Sư cGiác Thy 80 tui và Sư Giác Nghĩa lái xe. Lúc đó có vài Pht ttrên Sài Gòn xung thăm Tvà cng đi thăm chư Tăng ở các tnh xá miền Tây như bà Kim Ngc, Tâm Ngc, Chơn Ngc, Thiên Ngc, v.v... Khi xe đi ti qun Cái Vn – Cn Thơ, ngang qua dinh Tng Tư lệnh của Tướng Trn Văn Soái (Năm Lửa) thì bbt. Bn ngày sau, vsư lái xe và các Pht tđược thra, còn TMinh Đăng Quang vng bóng đến ngày hôm nay.

Xét về đạo nghiệp, Tổ sư Minh Đăng Quang đã khai sáng ra Đạo Pht Kht sĩ ở Nam B, Giáo hi của Đạo Pht Kht Sĩ có cả Tăng Ni. Trong 10 năm hành đạo, Ngài đã trước tác bChơn lgồm 69 tiểu lun được coi là nòng ct của tư tưởng Kht sĩ, là kho tàng Pháp bảo vi diệu truyền li cho mi người.

 
  1. Huỳnh Minh, Vĩnh Long xưa và nay, Nxb. Cánh Bng, năm 1967, tr. 288.
 
 

III.SHNHTHNHVÀPHTTRIỂNCAHỆPHIKHẤTSĨVIỆTNAM


Theo bChơn lĐo Pht Kht Sĩtrong phn Ngun Kht sĩ Nam Việt” trang 879: Vào năm 1946, Tổ sư Minh Đăng Quang đã phát nguyện thgiới Tỳ-kheo ti chùa Linh Bửu, làng Phú M, tỉnh Mỹ Tho. Có thxem đây là đo tng hành đạo đu tiên của Ngài. Sang đến năm 1948, Tổ sư đã thâu nhn hơn 20 đệ tử Tăng Ni, ln đu tiên Ngài tchức lễ Tự Tứ ở chùa KViên (Sài Gòn), thành lp mt tiểu Giáo hi gồm 20 vị Tỳ-kheo (theo sự phân chia của Tổ sư thì mt tiểu Giáo hi có 20 Tỳ-kheo, mt trung Giáo hi có 100 Tỳ-kheo, mt đi Giáo hi có 500 Tỳ-kheo).

Tsư đã chia Go hi ra thành các đoàn: Mt đoàn là hành xứ Du tăng trực tiếp theo Thành đạo ti này đến i khác. Mt đoàn là trụ xứ ở những ni tnh, cơ scủa Go hi do T xây ct đtu và giáo hoá chúng sanh. Trong Lut Kht sĩ có quy định vphân Giáo đoàn: Người xut gia mi nhp đo phi theo Thy ở chung trong Giáo hi 2 năm, kế đi ch riêng mt mình 2 năm nữa. Trên 4 năm được thâu mt người tp sự, trên 6 năm mi được thâu nhn mt đtvà mt người tp sự. Được trên 12 năm ch ra đi lp đo riêng, dy sđông(Lut nghi Kht sĩ, trang 39 – 40, xut bn 1965). Và Cm không đng thiếu sót shành đo ca Tăng, mi chphi do Giáo hi chứng minh và c Giáo hi nhánh mi kỳ 3 tháng phi trình bày vTrung ương mt ln vstu học. (Lut nghi Kht sĩ, điều 83, trang 238). Tên gọi Giáo hi nhánh cnh là tên gọi Go đoàn sau này.

Tnăm 1948 đến năm 1953, Tsư dn đoàn Tăng Ni đi hành đạo truyn giáo nhiều i ở hai miền Đông – Tây Nam Bnhư Vĩnh Long, Cn Thơ, Long Xuyên, Bc Liêu, Sa Đéc, Châu Đc, Sóc Trăng, Sài Gòn, ChLớn, Tây Ninh, Bn Hòa, v.vNhư trong tđơn xin phép của Tsư Minh Đăng Quang (còn u ở shành đạo), có cnh quyền Vĩnh Long ký nhn ngày 08/09/1953 thì đoàn Du tăng ban đu là 21 vị:

Vĩnh Long, ngày 08/09/1953 Kính Ngài
Chúng tôi là Go hi Tăng-già Kht sĩ Đo Pht Thích-ca Tnh xá
 


Ngc Viên, ti xóm Bún, nba Cn Thơ (Vĩnh Long).

Trân trọng yêu cu Ngài chứng kiến cho Go hi Tăng-già chúng tôi khởi đi hành đạo ti các tnh kc trong xứ Nam Vit.

Ri tnh Vĩnh Long ngày 08/09/1953 cthy là 21 người đi bng xe hơi.

Nay nh, Go hi Tăng-già Kht sĩ Minh Đăng Quang (Đng du Tnh xá Ngc Viên và ktên)
Đi đến i nào Ngài cũng đều thuyết pháp mđạo, hong khai Chánh pháp Thích-ca, và được hàng ngàn tín đquy nỡng nh m. Nhiều người phát tâm xut gia tu hc. Tính đến năm 1953, Tsư thâu nhn được 49 đtnhư các Ngài: Giác Chánh, Giác Tánh, Giác Như, Giác Tnh, Giác An, Giác Lý, Giác Nhiên, Giác Thường, Giác Lương, Giác Nguyên, v.v... 6. ĐtNi được 53 vn: NT. Hunh Liên, NT. Bch Liên, NT. Thanh Liên, NT. Kim Liên, NT. Ngân Liên, NT. Chơn Liên, v.v...7.

Chtrong khong 10 năm hành đạo, Tsư đã xây dựng trên 20 ni tnh xá n: Tnh xá Mc Chơn (Mỹ Tho); Tnh xá Pháp Vân, Tnh Ngc Viên, Tnh xá Ngc Thun (Vĩnh Long); Tnh xá Ngc Trung, Tnh xá Ngc Minh (Cn Thơ); Tnh xá Ngc Quang (Đng Tháp); Tnh Ngc Thnh (Tây Ninh); Tnh xá Ngc Chánh (TP. HCM) v.v

Theo tâm nguyện của Đức Tổ sư: Go lKht sĩ phi là tiếng chuông cnh tnh, ngân nga vang di, gi thức qun sanh, kêu khuyên người trí, tiếp đkhiền. Do đó, mà cuộc du hành, sau khi gc ngộ sẽ lan ra c xứ. Ban đu đi quanh miền Nam nước Việt, kế đln ra miền Trung miền Bc, cùng khp cõi Đông Dương nếu con đường thun tiện, và Go hi sẽ đi với số đông, y nPht Tăng ngày xưa đi hành đo khp xứ ngoài nữa. Sau khi Ngài vng bóng, Nhị TGiác Chánh đã hướng dn đoàn Du tăng tiếp tục đi hành đạo. Cũng có mt số vị đi đệ tử khác của Tổ sư li tìm non núi n tu, mãi đến những năm 1957
  • 1958 mới ln lượt xung núi và thành lp các đoàn Du tăng để chia
 
  1. Hàn Ôn, Minh Đăng Quang pháp giáo.
  2. Thích Giác Trí, Sự nh thành và phát triển ca Hphái Kht sĩ.
 


nhau đi hành đạo khp 2 miền Nam, Trung nước Việt.

Theo shành đạo ra miền Trung hiện còn u giữ ti Tnh xá Ngc Vn (Vĩnh Long), dưới slãnh đạo của NhT, tnăm 1956 đến 1961, đoàn đã 4 ln du hóa đến các tnh miền duyên hi và cao nguyên miền Trung. Ln đu (1956) đoàn đến Phan Thiết, Phan Rí, Phan Rang, Nha Trang. Ln hai (1957) và ln ba (1958) đoàn đến Đà Lt, Khánh Hòa, Tuy Hòa, Quy Nhơn, Qung Ngãi, Đà Nng, Thừa Thiên – Huế. Ln cui (1961), đoàn đến Quy Nhơn, Thừa Thiên – Huế, Qung Tr.

Nhị TGiác Chánh sau khi ra miền Trung hành đạo năm 1956 thì dn đoàn Du Tăng trvề miền Nam. Giáo đoàn I này do Nhị Tổ và Trưởng lão Giác Như đng lãnh đạo. Mt số vị ở li miền Trung để hành đạo, tiếp tục thâu nhn đệ tử xut gia, thành lp được hai Giáo đoàn: Giáo đoàn thứ nht (Giáo đoàn II) do Trưởng lão Giác Tánh và Trưởng lão Giác Tịnh lãnh đạo. Giáo đoàn thứ hai (Giáo đoàn III) do Trưởng lão Giác An lãnh đạo.

Đến năm 1959, Giáo đoàn IV được thành lp do TT. Giác Nhiên lãnh đạo. Năm 1960, thêm Giáo đoàn V do Trưởng lão Giác Lý thành lp. Đến năm 1963, TT. Giác Huệ thành lp thêm Giáo đoàn VI.

Còn vphía tchức Ni, năm 1958 Ni trưởng Hunh Ln thành lp và lãnh đạo8 Ni giới Hphái Kht sĩ, sinh hot độc lp vi các Giáo đoàn Tăng. Đến năm 1961, nh thành thêm hai đoàn Ni: (1) Đoàn ca Ni trưởng Ngân Liên; (2) Đoàn ca Ni trưởng Trí Liên. Hai đoàn Ni này nay trực thuộc squn lý ca Go đoàn IV. Đến năm 1968, nh thành thêm mt đoàn Ni trực thuộc Tăng Go đoàn III9.

Những Giáo đoàn trên mặc dù đã phân ra để hành đạo và phát triển, nhưng hng năm đến ngày 15 tháng 7 vn tp trung li mt chỗ để làm lễ Tự tứ. Đến năm 1962, các Giáo đoàn về tự tứ ở Tịnh xá Ngc Thnh (Tây Ninh) thì bchính quyền Ngô Đình Diệm lúc by giờ kỳ th, đàn áp Pht giáo và buc phi gii tán; từ đó Giáo đoàn
  1. Tch tài liệu “Ni giới Hphái Kht sĩ Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Ni trưởng Huỳnh Liên”, do Ni trưởng Ngot Liên viết. Bn đánh máy vi tính tr. 4.
  2. Chuyến du hành miền Trung (lưu hành ni bộ).
 


nào làm lễ Tự tứ theo Giáo đoàn đó.

Tóm li, nếu ta tm dng danh từ Giáo đoàn” để chỉ mt đoàn thtu hc thì H phái Kht sĩ hiện nay có tt cả là 7 Giáo đoàn, gồm 6 Giáo đoàn Tăng và 1 Giáo đoàn Ni (thường được gọi là Ni giới Hphái Kht sĩ). Nếu chi tiết hóa, cNi thuc Giáo đoàn III và cNi thuc Giáo đoàn IV có hai nhánh (phân đoàn 1 và phân đoàn 2), tng cng thành 10 đoàn th, bao gồm nhánh chính và nhánh ph.

Ngày 07 tháng 11 năm 1981, Giáo hi Pht giáo Việt Nam được thành lp, Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam trở thành 1 trong 9 thành viên sáng lp Giáo hi, và danh xưng Hphái Kht sĩ” được gọi từ đó.
  1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CA HỆ  PHÁI  KHẤT S
 
    1. Hphái Kht sĩ dung hòa hai nn giáo lý Nam tông và Bắc tông

Tổ sư Minh Đăng Quang đã chn cách ăn mặc, dng y bát, đi kht thực và ngày ăn mt bữa ngọ trai theo giáo lý Nam truyền. Ăn chay, thâu nhn Ni giới, cho thgiới Tỳ-kheo 250 giới, Tỳ-kheo-ni 348 giới và giới Bồ-Tát như giáo lý Bắc truyền.

Ngài cũng đã chủ trương thực hành đời sng Du Tăng, không giữ tiền và sdng tng hp kinh điển ca c hai tông phái. Ví như Ngài đã ging vPht tánh, Chơn n, kinh Pháp Hoa, Pháp Tng, Đại Thái Thức v.v… ca Bc truyền. Và ging về Y bát chơn truyền, bàn vđạo quA-la-hán… thuộc Nam truyền. Vpháp môn tu tp, Ngài ly pháp môn chung nht ca hai tông phái là Giới – Định – Hu.
    1. Hphái Kht sĩ  thực hành Tứ y pháp Trung đạo
 
  • Nhà sư kht thực: Phi lượm những vi bmà đâu li thành áo, nhưng có ai cúng vi, đồ cũ thì được nhn.
 
  • Nhà sư kht thực: Chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hi, thuyết pháp, đc giới bn được ăn ti chùa.
 
  • Nhà sư kht thực: Phi nghỉ dưới gc cây, nhưng có ai cúng lều, am nhbng lá mt cửa thì được ở.
 
  • Nhà sư kht thực: Chỉ dng phân uế của bò mà làm thuc trong



khi đau, nhưng có ai cúng thuc, du đường thì được dng.

Bn pháp về sự ăn, mặc, ở, bệnh theo như Tăng đoàn thời Đức Pht, Hphái Kht sĩ đã thực hiện bng cách: Thành lp đoàn Du tăng Kht sĩ (Giáo hi Tăng-gKht sĩ Việt Nam) đi kht thực, hành đạo từ làng này đến làng khác với tinh thn lục hòa được Tổ sư Minh Đăng Quang đề cao: Nên tp sống chung tu hcKhông tự ly đtrừ tham, không tự làm đtnh áchoặc Uống hi xin nước, nm hi xin đt, ăn hi xin lá ti, ở hi xin cốc hang. Ăn quchừa ht, đừng bứng gc (không xin thái quá), không dùng đvt về sanh mng ca thú, người. Dứt tham ác thì sân si vọng động chng phát sanh”.
  1. PHẦN KT

70 năm ti qua, Hphái Kht sĩ đã khng định con đường hành trì mà Đức Tổ sư đã khai vẹt là chân xác, thiết thực, phhợp với tâm nguyện và đời sng của người Việt nói riêng, nhân loi nói chung. Kinh sách của Hphái Kht sĩ thun túy bng tiếng Việt để cho mi người đều có thể đc hiểu mt cách dễ dàng và có thể thu rõ những lời dy của Đức Pht. Các khóa tu Truyền thng Kht sĩ chung của 6 Giáo đoàn cũng như những khóa tu ở mi Giáo đoàn giúp cho các hành giả Kht sĩ kiên định trong giáo pháp, thực tp đúng giáo và luôn giữ mt năng lượng tinh tn sưởi m con đường tu hc tự thân.

70 năm ti qua, bước chân của những người con Kht sĩ tri dài tNam ra Bắc, tđng bng duyên hi đến miền đi núi cao nguyên. Hình nh từng đoàn chư Tăng, chư Ni khoác y vàng, ôm bát thanh tnh chánh niệm đi hóa duyên giữa phphường thành thhôm nay đã tạo bu không khí thiêng liêng bình an lan ta khp không không gian, người nn thy sinh tâm hoan hvô ngn như đang được sng li thời Đức Pht và Tăng đoàn thutrước. Du thời gian thm thoát ti đi cng bao thay đi của đời sng con người xã hội, Chánh pháp bn hoài của chư Pht - Đức Tsư tn nguyn ni truyền, hành trì vn luôn được chư Tăng Ni Hphái soi sáng, thực thi và gt hái những thành quđáng kể. Bên cnh vic tu hc tinh cn, chư Tăng Ni luôn làm tn smnh sgicủa Đức Như Laihướng dn mi người hc pháp hành pháp, mang lợi ích thiết thực và an lc đến khp nhân sinh.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây