61. TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VÀ CON ĐƯỜNG "NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP"

Chủ nhật - 09/09/2018 12:39
TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VÀ CON ĐƯỜNG "NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP"
TK. Giác Đoan Cử nhân Phật học Học viện PGVN tại TP.HCM Tịnh xá Ngọc Đà – Đà Lạt – Lâm Đồng

Vào giai đon 1930 - 1945, ở nước ta các cuc chn hưng Pht giáo đã được phát đng khp các miền trong cả nước, nhưng vn chưa có sự thng nht. Hu hết đều có khởi xướng vic đào tạo Tăng tài đủ khnăng để đem giáo pháp đến với mi người, nhm chn hưng li con đường gii thoát mà Đức Thế Tôn đã vạch ra. Mt sPht hc đường, thư viện được thành lp, nhiều tp chí được xut bn để khuyến kch mi người nghiên cứu, tìm li con đường chánh pháp. Chính vic qchú trọng vào con đường tri thức để thu hiểu giáo pháp cho nên vmt phm hnh trong đời sng vn chưa đủ khnăng đánh đng tâm thức nhân sinh1. Do đó, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã ly vic hành trì làm bước đu, ly đời sng phm hnh của mt vị Sa-môn chân chính để nhiếp hóa nhân sinh, đánh đng tâm thức của mi người, giúp người hữu duyên xut gia hay ti gia cng thnghiệm đời sng an lạc. Con đường hành trì y chính là con đườngNi truyền Thích-ca Chánh pháp. Vy Tổ sư đã thể hiện con

1. Trong tác phm Vit Nam Pht giáo sử lun tp 3, trang 44, tác giả Nguyễn Lang đã dn lời nhn xét của ký giả Đông Giao về những thành tựu của phong trào chn hưng Pht giáo đương thời được đăng trong tp c Pháp Âm số 7 rằng: “Cuc chn hưng Pht giáo không cnh hưởng, không ckết quả, bởi vì không thiết thực với xã hi nhân sinh, chnói suông trong báo chí sách vmà thôi chứ không cthực hành. Cho nên nhân sanh vn chưa quy hướng về nhiều.
 


đường này như thế nào, đây chính là điều người viết mun trình bày ở đây để tưởng nhớ đến ân đức của Ngài nhân dp hi thảo khoa hc tưởng niệm 60 năm Ngài vng bóng.
  1. Hin bày Pháp bảo qua thân hành

Để hiện thực hóa lý tưởng y, Đức Tổ sư đã hướng dn, định hướng cho hàng đệ tử con đường tu hc như Pht Tăng xưa với đời sng Du Tăng, thực hành hnh trì bình kht thực theo chủ trương Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam. Bởi lúc hiện tiền, Đức Thế Tôn luôn chỉ dy cho hàng Thánh chúng phương pháp tu hc với hnh trì bình kht thực, du phương giáo hóa để làm phương tiện tự thân tu tp đng thời tiếp cn hóa độ nhân sinh. Quả vy, đời sng Du Tăng cng vic kht thực là phương tiện diệu dng để cm hóa nhân sinh bng hình nh phm hnh của vị Sa-môn, đem đạo vào đời mt cách thiết thực, phục hưng giá trị cao đẹp vốn có của Pht go.

Nói như vy có người cho rằng, Đức Tổ sư chỉ giữ hình tướng Kht sĩ y bát như Pht Tăng xưa chứ đâu phi thừa tự giáo pháp? Và hơn thế, Chánh pháp của Ngài có bị đứt đon đâu mà ni li kia chứ? Vy thì ni ni cái gì và truyn là truyền cái gì?... Đây là điều chúng ta cn phi tìm hiểu để thy rõ dòng tư tưởng chủ đạo và giá trị của con đường Đức Tổ sư đã dựa vào lịch sử để vẽ li theo phong cách văn hóa Việt, và cũng để thy rõ hơn về tinh thn phng sự cho đạo pháp đương thời như thế nào.


Đtrlời cho những câu hi trên, trước tiên, chúng ta cn đc li mt đon vlời dy cho người ti gia của Đức Tsư trong quyn sĩ: Hãy cht chứa gia tài là Pháp bo, tạo tâm chơn làm ssng, giới hnh làm ch, tbi làm quyến thuc, mà cùng nhau dứt bschơi bời2. Hay như mt đon kc Ngài dy: Bước chân vào cõi đời gian nguy, người cư sĩ phi cn đem theo Gii Đnh Huệ. Vì không thnào với cái tham sân si mà được sng đời, nên công kết qucho được3.
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, tp I Cư sĩ, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2009, tr. 396.
  2. Sđd, tr. 404.
 


Đi vi hành trang của mt người cư sĩ ti gia mà Tsư còn nhn mnh rằng: phi trau di Pháp bo, giới hnh…, cùng Tam vô lu hc Giới Định Tuđđon trtham sân si, hung chi là mt người xut gia tác Như Lai sứ, hành Như Lai sựli chthừa tnh tướng chiếc y bá np cũ kcng cái bát đt gin dkia thôi hay sao? Như vy, giá trcủa vSgiNhư Laikhông bng đời sng của mt người cư sĩ còn thhưởng ngũ dc lc trn, có quá thp kém hay không? Cho nên, những ai nghi ng, cho rằng Đức Tsư ch giữ nh tướng chiếc hunh y thì đã vô cng sai lm và có thnói ca hđc qua lời dy của Tsư mà chdựa trên mt lời nói, mt đon văn tnào đó đphán đoán, đánh giá svic mà thôi. Đrõ hơn vcon đường thhiện Pháp bo qua thân hành của người Du Tăng Kht sĩ, chúng ta cn nên nghe li lời chỉ dy của Đức Tsư về Y bát trong Chơn lquyn Y bát chơn truyn”: Giáo lý y bát chơn truyn nghĩa rng: Y là Pháp, Bát là Đo4, và Ngài tiếp tc gii tch: Áo đây tức là Pháp bo, giáo lđđy che pháp thân là: Kinh lut lun, cũng là thân đo, thân ca Pht, tức là chơn thân, thân to lớn. Áo ca nhà sư cũng như giáp st nh mc nvào, đi xông pha khp cùng thế giới, đến đâu cũng được, tà ma ác thú thn quchng khá li gn, nhmc nmà nhbay trôi khp cùng thiên h, che cthân tâm, và đùm bọc cho biết bao nhiêu kkhác. Mi miếng vi , nhà xem như là mt điu lut, mt câu pháp, mt bài kinh5.

Và Đức Tổ sư li trình bày tiếp: Còn cái bát là thể ca Bát chánh đo, đo Bát chánh ví nbu đựng cơm, đo nbu võ trụ, tâm chúng sanh ncơm đăn chứa mang vào trong đ6.

Như vy Y và Bát cnh là phương tiện đdiễn bày giáo pháp kinh lut lun, hay nói cách khác, người Kht sĩ được chche, nuôi ỡng bng chén m Bát chánh đạo cng chiếc áo giáo pháp đche thân, cũng có nghĩa là khi chúng ta tiếp nhn Y bát thì đng vi vic có được phương tiện Giới Định Tuđbo vvà nuôi ỡng đời sng tâm linh. Cho nên, Kht sĩ phi hi đgiáo pháp Giới Định Tuệ: Nếu Kht sĩ không ctu vđnh hudu mà ctrì gii không đi nữa, cũng ca gi
  1.  
  1. Sđd, tp I, Y bát chơn truyn, tr. 300. 5. Sđd, tr. 300-01.
 


được trn là Kht sĩ, vì chsĩ đây là shọc đo lvới qulinh, bng pháp tu định huệ. Tu tức là học, hay học tức là tu, bởi ti hành mà dy sanh ra học. Tu học định hulà do giới y bát Kht sĩ. Như vy là trong tiếng Kht sĩ, đgm cgiới định huệ. Cgiới hnh mi được làm Kht sĩ, nên trước khi vào đo cũng phi học giới và tu tập cho thuc nhun7.

Lời dy này mt ln nữa khng định: Mun bước vào hàng Kht sĩ, thực hiện đời sng Du Tăng kht thực hóa duyên, trước tiên phi mt áo giới lut, trau di đời sng phm hnh, sau đó tu tp định tu, hoàn thiện Tam vô lu hc, gia tài mà người Kht sĩ không thể thiếu mt món nào trong chúng. Nếu khuyết đi chi phn nào thì vn chưa trọn vẹn được hai chữ Kht sĩ, bởi Kht sĩ phi hi đủ cả ba chi phn Giới Định Tuệ như lời vừa dy ở trên. Điều này được Đức Tổ sư minh họa bng mt ví dụ rt sng đng nhưng cực kỳ gn gũi và thiết thực với cuc sng: Giới Đnh Hulà chân, nh, đu ca mt thân nh cái sống, thiếu mt là chưa đủ, nên du ai cchp trước đon nào, chớ sau ri cũng nn ra cthnnhau8.

Qua đó, Ngài cũng khuyên nhắc chúng ta không nên bám níu vào mt yếu tnào đó và cho đó là toàn th, là chơn lý, mà phi thy rõ sự tht tht đy đủ để đon trừ chp trước, xả byếu tchp thmới xứng với hai chữ Kht sĩ. Chính vì thế, Ngài thường nhắc nhchúng đệ tử phi nghiêm trì giới lut để phát triển phm hnh Sa- môn. Chúng là nấc thang đu tiên nhưng vô cng quan trọng và có nh hưởng rt lớn đến vic phát triển định hu, nên Người đã nhn mnh:Điều qunhứt ca người Kht sĩ, là sự giữ gìn giới lut9, bởi giới lut là con đường thiết lp sự an vui, là cõi Cực lạc: Thế giới Cực lạc y là sự tt vui ca trong giới lut yên đnhchính Lut tng giới xut gia là cõi Tây phương Cực lạc10.

Tđây, chúng ta có ththy được cái nn của Đức Tsư vô cùng thiết thực và rt phhp vi lời dy Hin pháp lc trú11 của Đức Thế
  1.  
  1. Sđd, tr. 305.
  2. Sđd, tr. 308.
  3. Sđd, tr. 294.
  4. Sđd, tp III, Vô Lượng Cam L, tr. 122.
  5. Hiện pháp lc trú nghĩa là chánh niệm tỉnh giác để có sự an lạc ngay
 


Tôn. Dcho ngữ cnh thế giới Cực lc có thkhiến cho đc gi cng người nghe dhiểu lm, dn đến cái nn mê tín dđoan nng dưới cách diễn gii của Ngài, chúng đã trnên vô cng rõ ràng và thiết thực. Tây phương Cực lc đâu phi là mt thế giới nào kc ở xa xăm tn nơi nao, mà chúng ở ngay i cuc sng thường nht, miễn là chúng ta biết hành trì và sng vi giới lut, là ta đã có san vui và đang sng trong thế giới Cực lạc. Cho nên, khi sng vi giới là ta đang hoàn thiện phm cht phm hnh của người Tăng sĩ, mới xứng vi chtrương đp y, ôm bát làm Kht sĩ hóa duyên, dng Sa-môn hnh đđời, bng không chỉ là kht cái xin ăn thp hèn. Điều này được Tsư minh chứng qua đon Chơn l: Giá trca Kht sĩ với kht cái khác nhau rt xa, mt tri mt vực, kkht cái tàn tt mi đi xin, tham sân si ti ác chng tiêu trừ. Mà trái li Kht sĩ là kthông minh trí thức, hin lương mnh khỏe, mà li đi xin ăn nuôi sng, mi là schướng ngi xn mt kthế gian, là vic làm mà ít ai thu hiểu, bi quá cao thâm, vy nên Kht sĩ phi cnhững đức tính hơn người, thy chc kết quả, mi dám đứng ra tht hành, và còn làm cho thế gian kỉnh trng, chng dám khinh khi đo Pht12.

Chắc chn phi có đức tính hơn người rồi, bởi con đường Kht sĩ đâu phi ai cũng làm được. Đơn gin vic mun làm tp sự đp y ôm bát thôi cũng phi hành trì, giữ được mười giới13, nghĩa là mới chỉ tp xut gia làm Sa-di thì cũng đã phi giữ 10 giới, có đức hnh, tp làm quen với đời sng Sa-môn để khi bước vào con đường Kht sĩ mới có thể làm tn sứ mệnh của vị sứ giả Như Lai được. Đâu chỉ dừng li nơi 10 giới, mà còn phi biết tu thiền cho có n chứng thì mới được làm Tỳ-kheo Kht sĩ như trong Lut nghi Kht sĩ, Tổ sư đã dy: Những ai mun xut gia, trước phi hiểu thông lut đo, hc thuc lòng Tứ y pháp, mười giới và những bài kinh cúng nguyện, mới được cho vào tp sự, giữ hnh và tham thiền, sau hai năm được thuc giới bn, tinh tn không phm giới, tham thiền được n chứng và trn



trong pháp hiện ti (bây giờ và ở đây). Đây cũng chính là sợi chỉ xuyên sut trong những lời dy của Đức Thế Tôn, dhành giả hành trì con đường, phương pháp nào đi nữa cũng không thể thiếu yếu tnày.
  1. Sđd, tp I, Y bát chơn truyn, tr. 289.
 


lhu thy, mới được cho xut gia nhp đo14.

VDu tăng Kht sĩ có tu tp, có phm hnh như vy, làm sao người thế gian không kỉnh trọng? Thế nên, trong mt đon khác của quyển Y bát chơn truyn, Ngài khng định như thế nào là mt người Kht sĩ chân chính: Giá trị ca người Kht sĩ là mt tai mũi lưỡi ming thân ý, phi cho trn lành trong sch15 hay Người Kht sĩ phi ctht hc, phi đủ đức hnh, phi cchơn tu mới được gi đúng danh từ Kht sĩ16.

Chính những điểm này giúp cho tinh thn đp y ôm bát có giá tr, mới làm hiển bày được Pháp bảo Giới Định Huệ qua thân hành trong cuc sng, mới thy được giá trị của người Kht sĩ. Do vy, pháp hành kht thực hóa duyên được Đức Tổ sư đề cao, và là con đường thnghiệm Chánh pháp ngay trong cuc sng hiện ti.
  1. Khơi dy con đường Giác ngộ

Khi đề cp đến tư tưởng ni truyền, có nhiều người đã hiểu lm và cho rằng dòng mch Chánh pháp của Đức Thế Tôn từ ngày vn chuyển bánh xe pháp cho đến đương thời vn còn hiện hữu, vn còn người thực hành sao gọi là ni li, mà ít ai nghĩ đến ý nghĩa tiếp ni và truyền thừa.

Để hiểu vì sao ở đây là tiếp ni và truyền thừa, chúng ta cn lng nghe li lời khng định xác quyết của Đức Tổ sư trong quyển Chánh pháp”: Cái pháp tự nvn đâu có hưng hay mt, mà mt là chti nơi người làm mt đthôi. Cũng nđo đâu c bao gimt, mt là chti người bđo làm mt đthôi17. Chính vì Pháp vốn không có hưng hay mt, đạo chng có mt nên chúng vn còn hiện hữu, chỉ ti con người không chu sng với chúng nên con đường của bậc của Chánh Biến Tri đã bị gai gc, cỏ di che phủ làm lu mmà thôi. Cho nên, tiếp ni ở đây chính là kế thừa và làm cho sáng tỏ li con đường của bậc Chánh Biến Tri đã kiến lp mà Tăng đoàn thuở xưa đã th
    1.  
    1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Lut nghi Kht sĩ, 1965, tr. 48-49.
    2. Sđd, Y bát chơn truyn, tr. 296.
    3. Sđd, tr. 289.
    4. Sđd, tp II, “ Chánh pháp, tr. 6.
 


nghiệm vn hành.

Hình nh Đức Pht cng Tăng đoàn, cứ vào mi bui sáng đp y ôm bát vào các thôn m hóa duyên kht thực tạo duyên lành cho mi người phát khởi niềm kính tin Tam Bo, tp tu hnh bố thí và xả bỏ lòng tham được ghi li khp trong hệ thng kinh điển như Kinh Mt Hoàn, Kinh Potaliya… của Trung Bộ Kinh; hay duyên khởi hình thành câu Kinh Pháp Cú, số 80 cho đến hệ thng kinh điển Đi thừa như Kinh Kim Cang: Lúc by giđến giththực, Đức Thế Tôn đp y, ôm bát đi vào Xá-vthành, tun tự kht thực từng nhà và trvtrụ xứ ththực. Sau khi thtrai xong, xếp y rửa bát, trải tọa cụ mà ngi18. Tuy đó là những vic làm đơn gin nhưng quan trọng đến mức Thánh Tăng Tu-bồ-đề đã thưa: Như Lai khéo hniệm c vị Bồ- tát, khéo phchúc cho c vị Bồ-tát19 và được Đức Thế Tôn xác chứng cho lời thưa y. Như thế vic hành trì kht thực hóa duyên là mt vic làm vô cng quan trọng và cn thiết của người Kht sĩ. Hình nh đp y ôm bát kht thực đã được bậc Thiện Thệ cùng Tăng đoàn hành trì trong sut cuc đời hành đạo, mang ánh sáng đến cho chúng sanh. Hình nh cao đẹp về vị Kht sĩ ôm bát hóa duyêny đã phai mờ theo thời gian năm tháng và dn trnên khó gp trong thời cuc by giờ. Chính vì vy, Đức Tổ sư mới nêu cao chủ trương hành trì Tứ y pháp với hnh kht thực nhm khơi dy con đường cổ xưa đã brêu phong che ph, lp kín li đi.


Con đường y được Đức Tổ sư diễn bày qua hình nh đời sng Du Tăng, thường du hành, dcho có ở trụ xứ (sức khe không cho phép hành trì đời sng Tứ y pháp) cũng không được ở quá 3 tháng ti mt trụ xứ20, có khác chi với lời Đức Pht đã từng dy cho chư vị Kht sĩ trong Kinh Đi Bn thuc Trường Bộ Kinh: Này c Tỷ-kheo, hãy đi cùng khp, vì hnh phúc cho đi chúng, vì an lạc cho đi chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài người, loài Trời. Chcđi hai người cùng mt ch. Này c Tkheo,
    1. HT. Tuyên Hóa thuyết ging, Kinh Kim Cang, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2006, tr. 3.
    2. Sđd, tr. 4.
    3. Tổ sư Minh Đăng Quang, Lut nghi Kht sĩ, 1965, tr. 43.
 


hãy thuyết ging Chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hu thiện, nghĩa văn đy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phm hnh hoàn toàn thanh tnh21.

Vic du hành y cũng có thnói là đu mi cho con đường Du Tăng trong thời Pht ti tiền, và Đức Tsư đã tiếp ni con đường y bát đsanh, dcho bá tánh nhân sanh có cúng dường tviện đi nữa. Hình nh vKht sĩ trụ xvn ngày ngày đp y ôm bát thực hành hnh kht thực đsanh, chtrnhững ngày cúng hi hay có tín chphát tâm cung thỉnh đt bát ti tư gia22, còn li đều du hành vi đời sng Tứ y pháp. Và Tứ y pháp được Ngài hướng dn cho chúng Tăng như sau:

“1. Người tu xut gia: Chăn đồ xin mà thôi, nng ngày hi, thuyết pháp, đc giới bn, được ăn ti chùa.
  1. Người tu xut gia: Phi lượm những vi bmà đâu li thành áo, nng cai cúng vi, đồ cũ thì được nhn.
 
  1. Người tu xut gia: Phi nghỉ dưới ci cây, nng cai cúng lều am nh, bng lá, mt cửa thì được ở.
 
  1. Người tu xut gia: Chdùng phân uế ca bò mà làm thuc trong khi đau, nng cai cúng thuc, du, đường thì được dùng23.

Tinh thn này có khác gì với hnh Du Tăng thời Pht đâu? hay nói đúng hơn đây chính là li sng phm hnh của vị Kht sĩ hành trì hnh Đu-đà trong thời Pht24. Đng thi, ở đây Tổ sư còn thể hiện tinh thn tùy duyên tùy thời chứ không hbt buc nht định phi như thế nào và bám níu vào mt điều hc đã được đt ra để rồi dính mắc vào những quy ước y. Tinh thn này được biểu hiện qua sự khai
  1. HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Trường Bộ 1 Kinh Đi Bn, Viện NCPHVN n hành, 1991, tr. 498-99.
  2. Tổ sư Minh Đăng Quang, Lut nghi Kht sĩ, 1965, tr. 43-45.
  3. Sđd, tp II, Chánh pháp, tr. 7.
  4. Hnh Đu-đà của vị Kht sĩ thời Pht: 1. Hnh mặc y phn tảo; 2. Hnh chỉ mặc tam y; 3. Hnh sng bng kht thực; 4. Hnh kht thực theo thứ lớp; 5. Hnh nht tọa thực; 6. Hnh chỉ ăn mt bát; 7. Hnh không ăn đồ dư tàn; 8. Hnh ở rừng; 9. Hnh ở gốc cây; 10. Hnh ở giữa trời; 11. Hnh ở nghĩa địa; 12. Hnh nghỉ chnào cũng được; 13. Hnh ngồi không nm.
 


mở “nng cai cúng, miễn là sự cúng dường y vn giúp cho vị Kht sĩ giữ được sự gin dị thanh bn cng đường hướng tu tp của vị Sa-môn. Điều này rt phhợp với tinh thn Đức Pht đã giáo giới cho các vị Kht sĩ qua sự kiện Devadatta (Đề-bà-đt-đa) thỉnh Đức Pht áp đt 5 điều tinh tn25 mà trọn đời vị Kht sĩ phi sng như thế không được khác đi, dù đây là những phép thực hành tinh tn được Đức Thế Tôn khuyến kch Tăng đoàn hành trì, nhưng Ngài không háp đt hay bt buộc những vị Tỳ-kheo không đủ khnăng đều phi hành trì như vy. Tinh thn y chính là Trung đạo, con đường vượt qua những ranh giới cực đoan chỉ lo lợi dưỡng hưởng thsung túc hay khhnh ép xác như lời dy: Tứ y pháp là pháp gii thoát nuôi tâm tu hc, chkhông phi kh hnh hay dung dưỡng sung sướng26 hoặc Tứ y pháp là pháp Trung đo Chánh đng chánh gc, không thái quá bt cp, nhđmà cPht mới đc tâm chơn thành Phật27.

Đng thời, con đường Tứ y pháp giúp cho vKht sĩ có đthời gian đtu tp hoàn thiện Tam vô lu hc, làm gương lành cho nhân sanh vđời sng phm hnh, và gii thoát khi mi sphiền toái của tvt dng ăn mặc ở bnh, những vn đkhiến cho nhân sanh phi lao tâm, tranh đu đtrau di, trang bcho 4 món này. Cnh con đường y giúp cho người Kht sĩ vừa có thtu tp tâm vô tham, xbtham chp vk, tu tp Bát chánh đạo28, đđon trtham sân si, li vừa giúp cho mi người xblòng tham, phát tâm bthí, phát triển đức tính thương yêu tái. Hơn nữa, hnh kht thực của con đường Tứ y pháp
  1.  
  1. Năm điều mà Devadatta thỉnh Pht áp đt cho Tăng chúng: 1. Tỳ-kheo phi sng trọn đời trong rừng; 2. Tỳ-kheo phi sng đời du phương hành kht; 3. Tỳ-kheo phi đp y may bng những mnh vi lượm ở các đng rác, hoặc ở nghĩa địa; 4. Tỳ-kheo phi sng dưới gốc cây; 5. Tỳ-kheo phi trường chay.
  2. Sđd, tp II, Chánh pháp, tr. 14.
  3. Sđd, tr. 8.
  4. Trong quyển Chơn lKht sĩ, Tổ sư có đề cp: Kht sĩ là kẻ xin bng tâm, cái xin cao thượng trong sch hơn hết, tự người ho tâm cho chkhông điều ép buộc”. Cho nên vic kht thực với thân tướng trang nghiêm để tự người phát tâm dâng cúng tức là nuôi mng sng mt cách chân chánh, không bt buộc người phi cho, hay xin bng cách giành git ly ngang của h, thì Ngài nói như vy chng khác nào trộm cp (trong quyển Đạo Pht) nghĩa là ta đang hành trì Bát chánh đạo ngay trong đời sng kht thực hóa duyên.
 


thì ai mun ng chi ng được (miễn là thực phm chay và tuyt đi không nhn gì kc ngoài thực phm như tiền bạc chng hn), đng thời không có skhen chê ngon dít nhiều, ng như chng đng để dành nhm đon trtâm tham, kham nhn trước những lời thphi, chê bai tch móc của thế nhân đtrtâm sân, tinh tn hành trì29 để trtâm si và phát triển tugiác. Khi tham sân si được đon tn ng cnh là lúc hành gihoàn thiện đời sng phm hnh, mc đích của vic xut gia gii thoát. Điều này đã được Thánh Tăng Sāriputta trình bày, Đức Thế Tôn c chứng trong chương Tương Ưng Jambukhàdaka của Kinh Tương Ưng BIV: Đon tn tham, đon tn sân, đon tn si, đây gi là Niết-bàn, hay Đon tn tham, đon tn sân, đon tn si, đây gi là A-la-hán30. Vì thế, con đường Tứ y pháp có đkhnăng đon tn tham sân si nên ng cnh là Chánh pháp của chư Pht, là con đường mà Đức Tsư mun ki dy và làm sáng tđcho nhân sinh cng bước theo, cng quay vbến giác. Cnh vì vy, Ngài mới khng định con đường Tứ y pháp là đạo lmà chư Pht đã đi: Tứ y pháp là Chánh pháp ca chư Pht mười phương ba đời, là giáo lý y bát Kht sĩ vy31.
  1. Tinh thn giáo hóa

Tiếp ni lý tưởng của bậc Thiện Thệ, Đức Tổ sư đã tiếp tục hiện thực hóa tinh thn vì lợi ích nhân sanh, hình thành cht nhựa sng để cung cp ngun đạo lý nhm nuôi dưỡng cây giác ngộ và gn kết các cng đng riêng rẽ li với nhau, tạo nên mt tng thể cùng chứng nghiệm đời sng an lạc. Chính vì vy, Ngài mới dy cho hàng đệ tử về hình nh người Kht sĩ du Tăng: Kht sĩ cm hóa kác, dy dngười thiện, đ du hoa sen không ô nhiễm vào nơi trí óc tâm người, vch hàng chữ đo nơi cửa ngõ đường đi, khoe sự tt đp ca giới hnh,
 
    1.  
    1. Khi hành trì hnh kht thực, Tổ sư có dy thân tướng phi trang nghiêm, ngó ngay xung, chng đặng nhìn liếc hai bên, gìn giữ thân khu ý và tâm luôn niệm tưởng Đức Pht, nên vic tinh tn hành trì chính là thực hành Chánh niệm mt cách miên mt nhm phát triển tuệ giác, đon trừ vô minh.
    2. HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Tương Ưng B, tp 4 - Thiên Sáu xứ”; Chương 4, Tương Ưng Jambukhàdaka, Viện Nghiên cứu Pht học Việt Nam n hành, 1991, tr. 404-05.
    3. Sđd, tp II, Chánh pháp, tr. 7.
 


nhắc nhở sự yên úy đến cho người32.

Sau đó, Đức Tsư còn nhn mnh vcon đường của vSgiNLailà phi nhn ly tch nhiệm tế đchúng sanh làm nghnghiệp33, chkhông phi chbiết lo ly rng nh mà đánh mt tình thương đi vi nhân sinh. Vì thế, con đường Kht sĩ là đạo lđhành givừa hành trì vừa phi dìu dt, dy cho người thu hiểu llý chơn và thm nhun go pháp đPháp bo luôn hiện hữu i tâm trí cng thân hành, để cng nhau tiến hóa trên ltrình giác ng. Ở đây, Ngài đã minh ha bng nh nh hoa sen nương i bùn nhơ cu uế phát triển, đrồi dâng tng li bng sche chở, nhn ly nng a sương gió nhm bo vcho bùn nhơ dưới mt nước được yên bình; cũng như thế, nếp sng người xut gia nương i xã hi đhoàn thiện đời sng phm hnh Sa-môn và rồi đem sthanh lương thánh thiện của thân khu ý mà làm lợi ích cho đời như lời dy trong Chơn lquyn Trên mt nước: Những bậc tu xut gia, tuy không n dính dp với xã hi gia đình, nhân loi, nng cũng đem thân mng đền trcho đời bng gương nết hnh hin lương; và li ni, việc làm, ý niệm, đo l, đem giúp đcho xã hi, gia đình bình yên, trong sch sáng láng, n mới được đứng vững lâu dài, không ri lon34.

Để làm được điều y, người Kht sĩ phi biết đem pháp hc và pháp hành vào cuc sng nhm giúp cho thế nhân thy được con đường, phương pháp thực hiện nhm đt được sự an vui trong cuc sng; nghĩa là phi biết dy cho mi người có được sự hiểu biết đúng đn, tránh li sng mê tín dị đoan, thy được điều gì nên làm và điều gì không nên làm, để luôn có được thân hành cao đẹp trong cuc sng như hoa sen nương nơi cu uế bùn nhơ nhưng vn luôn dâng tng sự tinh khiết thanh cao cho đời. Cho nên, trong Chơn lquyển Cư sĩ, Tổ sư dy:


Mi người phi biết chữ, Mi người phi thuộc giới,
    1. Sđd, tp I, Kht sĩ, tr. 273.
    2. Trong Chơn lquyển Trên mt nước, Tổ có dy: Vì lòng từ bi, bt buộc người Kht sĩ nhn ly phn sự tế đchúng sanh làm nghnghip”.
    3. Sđd, tp I, Trên mt nước, tr. 473.



Mi người phi tránh ác, Mi người phi học đạo35.
Khi ai ai đều biết chữ, trình độ nhn thức của mi người sẽ được nâng cao và sẽ dễ dàng thy được giá trị của giới pháp mà tiếp nhn hành trì, nghĩa là ta đang cng cố và phát triển chi phn Chánh tri kiến của đạo lộ Bát chánh đạo. Đây là điều căn bn trên bước đường hoàn thiện đời sng cao thượng. Vì thế đời sng Du Tăng cũng là con đường để có thging thuyết khp các nơi, nhm khuyến kch dân chúng hc và thực hành theo 4 bước căn bn như vừa đề cp ở trên, để nâng cao phm cht đạo đức cho đời sng ti gia. Người cư sĩ biết hc giới, biết tránh ác và hc đạo chắc chn phm hnh thanh cao sẽ được hiển bày qua hành đng vic làm, lời nói và ý nghĩ; đng thời nếp sng y có thể cm hóa những người chung quanh, giúp cho xã hi đều được yên vui. Đây cũng chính là mục đích mà Đức Tổ sư cng chúng đệ tử hướng đến trên con đường mang ánh sáng trí tuệ đến với nhân sanh: Mc đích ca Kht sĩ là làm cho thế giới đều tu, yên vui thì xã hi mới được yên vui; xã hi yên vui là gia đình yên vui; gia đình yên vui thì nh mới được yên vui36.

Sự yên vui y chính là thành quả của vic cm hóa kẻ ác, dy dỗ người thiện, giúp cho mi người đều được soi chiếu bởi ánh sáng giáo pháp để cng bước ra khi cnh đêm trường tăm ti và có được kim chỉ nam cho đời sng an lạc hnh phúc.

Như vy chúng ta đã tìm hiểu và thy được phn nào về tinh thn “ni truyền” từ sự chứng nghiệm giáo pháp Tam vô lu hc Giới Định Tuệ qua phương pháp hành trì Tứ y pháp cho đến tinh thn độ sanh, giúp cho nhân sinh thy được con đường thng tiến đến sự giác nggii thoát. Đng thời chúng ta cũng thy được sự đóng góp của Đức Tổ sư trên con đường vượt qua những chướng ngi che ph, để khôi phục li nét đẹp vốn có của con đường cmà bậc Chánh Biến Tri đã dày công khám phá, khai mở và làm cho xán ln trở li.

 
    1.  
    1. Sđd, tp I, Cư sĩ, tr. 398.
    2. Sđd, tp I, Trên mt nước, tr. 481.
    1.  
    1.  
    1.  
    1.  
    1.  
    1.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây