56. VÀI SUY NGHĨ VỀ HỆ PHÁI KHẤT SĨ

Chủ nhật - 09/09/2018 12:26
VÀI SUY NGHĨ VỀ HỆ PHÁI KHẤT SĨ
NT. Cảnh Liên Chứng minh Phân ban Ni giới tỉnh Gia Lai Giáo phẩm Ni giới Hệ phái Khất sĩ
Đạo Pht Kht Sĩ là mt truyền thng Pht giáo mi, ra đời vào cui thế kXX ti miền Nam Việt Nam. Truyền thng này đề cao tôn chỉ “Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, vừa vực dy tinh thn tu hc đúng Chánh pháp cho người hc Pht, vừa xoa du lòng dân bt an trong thời điểm xã hi nhiễu nhương lúc by giờ.

Tôn kính con đường cPht ba đời đã khai lưu, ngưỡng phục tâm nguyện tiếp ni pháp hc và pháp hành của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, nơi đây chúng con xin được chia sẻ vài suy tư của tự thân khi được đi trên con đường Chánh đạo thiêng liêng này.
  1. nghĩa về sự ra đời của Đạo Pht Kht Sĩ

Đạo Pht Kht Sĩ chính thức khai mi đạo ti chùa Linh Bửu (Mỹ Tho) năm 1944 bởi Đức Tổ sư Minh Đăng Quang. Sau 10 năm tu tp và hong pháp, vào ngày 01 tháng 02 năm Giáp Ngọ (1954), Ngài vng bóng. Chỉ trong thời gian không lâu y, H phái hiện diện hu hết ở các tỉnh miền Nam, đi chúng Tăng Ni tu hc hòa hợp dưới sự hướng dn của Đức Tổ sư khong 100 v, đng thi, Ngài chứng minh thành lp trên 20 tịnh xá.

Trong tiến trình phát triển ca lịch sử tư tưởng nhân loi, sự ra đời mt hệ tư tưởng mi, hay hình thành nên mt tôn giáo mới chc chn không thể nào tránh khi sc đng ca các điều kiện
 


xã hội. Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam cũng không nm ngoài quy lut trên. Điều kiện kinh tế, cnh tr, hoàn cnh đa lý, văn hóa, đời sng tinh thn, đặc biệt là vn đtôn giáo đu thế kỷ XX là mt trong ñng nguyên nhân cnh dn đến sự ra đời ca Đạo Pht Kht . Scó mt ca Đạo Pht Kht Sĩ và các tôn giáo khác ti Việt Nam trong giai đon này nhm đáp ứng nhu cu tinh thn ca người dân lúc by giờ. Người dân Việt Nam sng trong cnh nửa chế độ thực dân, nửa phong kiến thi nát, nên hết sức bt mãn vi thực ti. Vì vy, đạo Cao Đài, Pht giáo Hòa Ho và Hphái Kht sĩ cùng các tôn giáo xut hiện trước đó đã p phn làm gim ni đau tinh thn cho con người đương thi. Ngay khi vừa thành lp, Hphái đã mau chóng hòa nhp, thm sâu, gieo ht Pht pháp trong lòng nhân dân miền Nam nước Việt. Không ñng p thêm ngun năng lượng cho Đạo pháp, mà đặc biệt trong giai đon chn hưng Pht giáo nước nhà, Hphái Kht sĩ đã giúp con người thi by gi giữ vững tinh thn giữa lúc xã hi lon lạc.

Điểm ni bt là Đạo Pht Kht Sĩ kết hợp những điểm đặc thù, tinh túy của Pht giáo Đi thừa và Nguyên thy mà hình thành, nên có thể ví Đạo Pht Kht Sĩ như chiếc cu ni giữa hai truyền thng Pht giáo lớn hiện có mt ti Việt Nam lúc by giờ. Mặc dù ra đời mun màng nhưng y theo đường li của Pht Tăng xưa, trung thành với hoài bão cPht, li xut hiện ti bn xứ, phhợp với phong tục tp quán, tư duy, nguyện vọng của người Việt, khiến Pht tử dễ dàng lãnh hi áo nghĩa của đạo Pht.
  1. VbChơn lý của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang

Trong 10 năm tu tp và hành đạo, tư tưởng cũng như những lời ging của Đức Tổ sư hiến tng cho thế nhân đương thời và hu lai được kết tp lưu li trong bChơn lNgài đã hoàn thiện bsách quý báu này vào ngày 12-10-1953. Ngày nay, mt shc giả, nhà nghiên cứu nhn thy nơi đây hi tụ những bài pháp hàm tàng toàn diện về cả ba lĩnh vực Kinh - Lut - Lun của đạo Pht cũng như các giá trị đạo đức, giáo dục thiết thực cho mi người trong xã hi nên đã cung kính gọi là bKinh Chơn lý”.
 


BChơn lbao gồm 69 quyển, trong đó có 9 quyển dy v giới bn, lut nghi, pháp hành cho hàng Tăng Ni Kht sĩ. 60 quyển còn li bàn vngun gc vũ tr, mi tương quan tiến hóa của thế giới tự nhiên và con người trong ánh sáng Pht pháp như Võ trquan, Ngũ un, Lc căn, Thp nhnhân duyên…; bàn vphương pháp hành trì của hàng xut gia như Bát chánh đo, Chánh đng chánh gc, Nhp đnh, Thn mt, Gc ng, Chư Pht, Pháp Chánh gc, Số tức quan, Sám hi…; bàn về các tôn giáo khác và tư tưởng Đi thừa như Tam go, Tông go, Đi thừa go, Đo Pht, Pháp Tng, Vô Lượng Cam L, Quan Thế Âm, Đi Thái Thức, Đa Tng, Pháp Hoa, Chơn n; bàn về đạo lý sng trong đời như Công lvõ trụ, Khuyến tu, Đi tu, Tu và nghiệp…; bàn vphương thức xây dựng đời sng hnh phúc an lạc như Trường đo lý, Đời đo đức, Xứ thiên đường

Như thế, bChơn lý tóm thâu khá đy đnhững lời dy nn tng cĐPhtnhững  minh triếtrong  cusống,  những nguyên lý tồn ti ca thế giới tnhiên trong đó có con người. BChơn lgiúp những ai có duyên đc đưc stích lũy một nguồn kiến thc Pht pháp chun mực, có cnh kiến. Hphái Kht sĩ ra đời với cnguyện trvpháp hành uyên nguyên của mt đạo Pht thời kỳ đu, y bát chân truyền, chủ trương vô sở hữu, đời sng du hành đó đây, vừa tự tu tự độ vừa hong hóa giáo pháp, nêu cao phương châm “cái sống là phi sống chung, cái biết là phi hc chung, cái linh là phi tu chung” (Chơn lHòa bình”). Hphái Kht sĩ đã góp phn nhn mnh hơn về tm quan trọng của pháp hành y như lời Đức Thế Tôn dy thuở ban đu. Trú dạ lục thi, cTăng Ni sng trong thời khắc biểu của cõi Niết-bàn tịch tĩnh: 5 – 6 giờ: thiền định, 8 – 9 giờ: kht thực, 11 – 12 giờ: thọ thực, 15 – 16 giờ: thuyết pháp,
18 – 19 giờ: hành thiền định, 24 – 01 giờ: thiền định.

Pháp ngữ mà Đức Tsư nói hu hết được chọn lựa tlời ca Đức Pht đã tuyên thuyết hoc trích ttrong kinh điển truyền thừa tbao lâu nay. Để người hc Pht có thhiu rõ, đúng đn lời Pht dy, các pháp ñ đu đưc diễn dịch sang tiếng Việt, đồng thi có chú gii thêm. Đơn cnhư trong Kinh Pp Cú, k183,
 


Đức Thế Tôn dy:

Sabbapāpassa akaraṅaṁ kusalassa upasampadā Sacittapariyodapanaṁ etaṁ buddhāna sāsana.
Nghĩa là: Không làm mi điều ác, / Thành tựu các hnh lành,
/ Tâm ý giữ trong sch, / Chính lời cPht dy” (HT. Thích Minh Châu dịch).

Trong Lut nghi Kht sĩ, ngay câu đu tiên của phn Pht nn, Tổ sư viết: “Đừng làm vic quy o hết, hãy làm vic phi luôn luôn, làm cho trong sch các sở ý ca mình, ba cái lđtóm rút đạo lý ca cPht”.

Trong kinh Tứ thp nhchương, chương 25 Dục hỏa thiêu thân” (tức Lửa dục đt người), nguyên văn như sau: Pht ngôn: Ái dc chi nhân, du nchp cự, nghch phong nhi hành, tt hữu thiêu thchi hon. Câu trên có nghĩa là: “Đức Pht dy: Người ham mê ái dc ví nkcm đuc đi ngược gió, tt sẽ mc phi nn cháy tay”.

Trong Lut nghi Kht sĩ, phn Diệt lòng ham mun, câu th6, Đc Tsư viết: “Người ở trong vòng ham mun giống nkđiên cm đuc đi ngược gió, nếu không quăng đuc phi cháy tay, sự vụng về ca hđã thy rõ ng, bởi vy khi người còn tam chướng là tham, sân, si và chưa thy được đo, thì in nkđiên cm đuc đi ngược gió, mà không buông đđến phi cháy tay”.

Trong bChơn lý, nn ngữ Đức Tổ sư sử dng để diễn đt ý pháp rt chân cht, mc mạc nên người có duyên đc là hiểu ngay. Lời pháp cao sâu song li được diễn đt bình dị mà vn không làm gim giá trị uyên áo của giáo pháp, đó là biện tài thiện thuyết của Đức Tổ sư vy.
  1. Tứ Y pháp - Pháp hành của Hphái Kht sĩ

Mãi cho đến ngày nay, hình nh nhà sư kht thực vn làm người con Pht dâng niềm xúc đng ngỡ như đang được sng trong thời Đức Pht còn ti thế. Trong hoàn cnh xã hi hiện ti, mt số thành phn xu lợi dng lòng tôn kính tín tâm của Pht tử, đã giả làm nhà
 


sư đi kht thực thọ nhn vt phm cúng dường. Vì để tránh tình trạng lợi dng làm hoen ố hình nh và ý nghĩa kht thực cao thượng từ bao đời nay, cTăng Ni tm không thường xuyên hành pháp kht thực nữa mà chỉ hành trì trong những ngày cúng hi, trong dp lễ hoặc trong các khóa tu. Trong những dp lễ đặc biệt, chương trình đi kht thực hóa duyên luôn được chú trọng. Đoàn cTăng Ni ôm bát, bước đi trang nghiêm thanh tịnh ngang qua những con đường phố th, nhà cửa xe cộ nhn nhp, dường như khi có sự xut hiện những bước chân bình an này làm cho không gian vốn huyên náo thường ngày trnên lng du thiêng liêng.

Qutht, đây là mt bài pháp không lời, sng đng vô cùng. Dngười không phi Pht tử nng khi bt gp hình nh này cũng sinh tâm cung kính và quý mến trước strang nghiêm cao cca giáo pháp và đức hnh từ hòa, dung dị ca hàng xut gia theo đạo Pht. Bi hnh kht thực là hnh ca chư Pht ba đời nên có công năng và sức mnh kngbàn. Chư Pht tử mc thị cnh này còn c đng bi phn, niềm tin kính đi vi Tam Bo kn định hơn. Ấn tượng này u li trong tâm mi Pht tử rt lâu khiến sinh hlạc và tăng thêm lòng tinh tn dõng mãnh thực tp theo giáo pháp ca Đức Pht.

Đi vi chư Tăng Ni Kht sĩ, pháp kht thực là mt pháp hành cần yếu và thiêng liêng để hỗ trcho ltrình giải thoát ca hàng xut gia. Mi bước chân đi kết ni vi mi đng thái ca thân trong cnh niệm, kiến lp mt sức định tĩnh rõ rt trong tâm mi hành giđang ôm bát kht thực. Ý niệm trên xin giáo pháp, dưới xin vt thực nuôi thân qua ngày(Chơn lKht sĩ) làm cho các bt thiện tâm như ngã mạn, phóng dt, tht niệm, v.vrơi rng dần dn, tâm hành gitrở nên trong sáng, thanh tnh. Đức Tsư giảng rộng: Giáo lăn xin là schan hòa cho nhau, tức là công lý võ tr, là pháp bảo hay chơn lý, triết lý nhim mu. Từ hng bậc xin bng thân, xin bng trí, xin bng tâm, chỉ có Kht sĩ là kẻ xin bng tâm, cái xin cao thượng trong sch hơn hết, tngười hảo tâm cho, chớ không điều ép buc. Kht sĩ đi xin để răn lòng tội li. Đi xin để đn nghip cũ,
 


đng sm nghngơi, mau hết vn lời. Đi xin để nhn nhường bố thí của ci li cho chúng sanh. Đi xin để làm gương nhơn quả tội lỗi cho chúng sanh ngừa tránh. Đi xin để đừng phm tội lỗi mới…(Chơn lKht sĩ”).

Hnh kht thực là pháp hành đu tiên trong Tứ Y pháp, đó là:
    1. Người tu xut gia chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hi, thuyết pháp được ăn ti chùa.
 
    1. Người tu xut gia phi lượm những vi bmà đâu li thành áo, nhưng có ai cúng vi, đồ cũ thì được nhn.
 
    1. Người tu xut gia phi nghỉ dưới ci cây, nhưng có ai cúng lều, am nhbng lá, mt cửa thì được ở.
 
    1. Người tu xut gia chỉ dng phân uế của bò mà làm thuc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuc, du, đường thì được dng.

Đức Tổ sư khng định: Tứ y pháp là chánh pháp ca cPht mười phương ba đời, là go lý Y bát kht sĩ vy!... Pháp hành Tứ y pháp chơn tu trung đo. Tứ y pháp là chánh sự quí báu hơn hết, đến chơn nđng, và đúng chơn lhơn hết” (Chơn lChánh pháp”).

Hành trì Tứ Y pháp là đi con đường trung dung không phm vào 4 pháp thái quá, đó là – 1. Nhịn đói không ăn, 2. Lõa thkhông mặc qun áo, 3. Phơi nng dm mưa giữa khong trống và 4. Đau không ung thuc, liều mng; và cũng không rơi vào bn pháp bt cp, đó là : 1. Ăn nhiều bữa, nhiều món, chp vị ngon, 2. Mặc áo qun, cng diện đủ thứ, 3. Ở nhà ni, lu đài, xe cộ sang trọng, 4. Không đau mà trữ sn thuc bổ dưỡng luôn luôn (Chơn lChánh pháp”).
  1. Pháp phục

Khi mới ra đời, Hphái đã gây không ít ngạc nhiên, hiếu kcho người dân Nam B. Người dân làng Phú Mỹ rt ngạc nhiên khi thy mi sáng, nhiều nhà Sư đu trn chân không, qun y bá np đi vào làng kht thực. Người đến xem, có kphỉ báng chế nho, có người cm mến cúng dường. Hình nh đoàn Du tăng Kht sĩ không chỉ gây sự bt ngờ đi với ni làng qPhú Mỹ nhbé, mà người dân đt
 


Sài thành cũng hết sức lạ lm, n xao bàn tán trước dung nghi đức hnh của nhà Sư y vá, gin d, từ hòa.

CTăng Ni Kht sĩ tuân giữ ba y, mt bình bát. Trong Luật Kht sĩ quy định y thượng của người Kht sĩ phi bng vi cũ hoặc vi vn chp vá li. Không được may vi vn đbông đmàu rằn rực sc sỡ, phi may bng vi trắng, vi vàng, hoặc những thứ lợt màu, đcthể sau khi may ri, nhum cho tiệp màu vàng sm, cm dùng vi chbng tơ la hàng nnhiễu, len, tcm tự… đvt ca sanh mng, cm dùng màu đen trắng xanh tím đvàng,… màu tươi tt. Vic mặc, trong Tứ Y pháp, pháp thứ 2 cũng có quy định: “Người tu xut gia phi lượm những vi bmà đâu li thành áo, nng cai cúng vi, đồ cũ thì được nhn”.

Hnh dng bát đt, đp y phn tảo này đưc Đc Tsư phân ch rt chân tình, rõ ràng, hp lý: a kia cnhân mặc vỏ lá cây, mnh manh lá miếng, chng ctay ống áo qun may vá, dưới cái chăn, trên tm choàng, khi đi đâu thì phthêm mt tm choàng lớn qun từ trên ti dưới, đêm đến ly đó làm mền, nên được thong thrnh rang, không điu phin phức, không cct gidư để dành cho cp trm. Khi rách mt mi sm thêm cái khác, bỏ ra cái , lúc o cũng mặc mt bộ trong nh, không làm tôi tcho áo qun dư dả. Mun đi đâu, ở đâu, lúco, vào lúco cũng được, không điu chi nán li. Cũng như rcdính lin vi c, như lông da thú dính sát với thịt xương, cho nên lúc o cũng rnh trí thanh nhàn, thung dung, khoái lc. Thân như vỏ trái cn mui đen xu, mà tâm trí bên trong cứng chắc li ngon thơm. Trnhmi sanh, mcha lót cho miếng tã, khăn choàng vi đy, cũng là bộ tam y như người xưa. Ông gkhi sp chết bnh đau cũng chmặc chăn, vi choàng và mn đp, tam y ntrnh. Đến chết tm rửa, liệm, đem theo cũng tam y đó vy. Người Kht sĩ mặc tam y để dứt trtham vọng, ngăn ngừa kác, đon dit phin o trong tâm trong sch, nên gi là y thanh tnh. Cũng gi là y gii thoát, áo rnh rang, hay là y trnh, áo ông già, y cnhân, áo người trí, y của kchơn như v.v... ” (Chơn lY bát chơn truyn”).

Choàng tm y vá víu đch, dng chiếc bát đen xu đđi kht
 


thực, đngqua ngày, mt cuộc sng đơn gin, thanh thn, không bn lòng tt xu, không ngi ni dòm ngó trm cp. Ni xut gia biết đ, biết rõ mi thđu phdu tm bnên sng mt cuộc đời thanh bn mà an lc, bi “mun nhp đnh lúc nào cũng được, mun chết lúc nào cũng an, học gm điu chi không xáo rn, bng mt hết cũng không nhìn” (Chơn lY bát chơn truyn”). Và Đức Tsư dy giáo lý Y bát chơn truyn có ý nghĩa: Y là Pháp, Bát là Đo, tức là đo pháp đường chơn truyền dy, có y bát mới cchơn n” (Chơn lY bát chơn truyn”).
  1. Kiến trúc tịnh

Kiến trúc đặc thcủa Hphái đó là chánh điện bát giác. Mô hình ni chánh điện này khiến chúng ta liên tưởng đến hình nh ni nhà tn, nơi Tăng chúng nhóm hp để nghe Đức Pht thuyết ging giáo pháp hoặc Tăng đoàn hp Yết-ma thường được khắc họa trong Kinh tng.1 Mô hình tn này còn được ví như bu vũ trbao dung, hay như bu đạo đức dung chứa muôn loài vn vt, như lòng từ bi vô tn của Đng Cha Lành.

Đức Tsư hưng dn cTăng Ni Hphái xây dng ni chánh đin theo mô hình tám cnh để mi người khc sâu diệu nghĩa Bát chánh đo, đó là con đưng chân chánh tám ngành đưa người từ sông mê vbến giác. Phn trên chánh đin có hình tứ gc tưng tng cho Tứ diu đế, đó là bn chân lý chc tht muôn đi. Trên đỉnh chóp chánh đin là hoa sen biểu tng hoa giác ngthun khiết thanh tịnh nở giữa cõi đi phin não, hoặc ngọn đèn chơn lý soi ánh sáng cho trn thế. Bên trong chánh đin có bn trlớn chng đỡ cho toàn bcu trúc chánh đin, biểu tng cho Bn chúng. Bệ để tôn trí tôn tưng Đc Bn Sư có ba bậc tưng tng cho tam vô lu hc. Qutht, chỉ mt mô hình kiến trúc chánh đin đã khc ha vô vàn đo lý nn tng vi diu ca đo Pht. Bát chánh đo, Tứ diu đế là giáo lý đc thca đo Pht. Duy nht con đưng thực sự này mi đưa người thc tp vượt thoát khổ đau, chng đc Niết-bàn. Tchúng gồm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc (cn sự nam) và Ưu-bà-
    1. Kinh Sa-môn quả, số 2, Trường BKinh.
 


di (cn sự nữ) chính là rưng ct bảo trì cho Tăng đoàn tn ti, làm cho ngọn đèn go pháp ca Đc Thế Tôn sáng mãi. Chỉ cn mt trong bn chúng không làm tròn phn sca mình skhiến cho Tăng đoàn không bn vững. Đức Tsư qutht rt thu đáo, chỉnh chu khi phát tho mô hình kiến trúc tnh xá cho Hphái mt cách đặc thnvy.

Mi khi ở trong không gian ni chánh điện và nht niệm về ý nghĩa của nó, chắc chn chúng ta sẽ cm nhn được mch pháp đang lưu chuyển nơi châu thân, sẽ cm thy niềm tin vào Tam Bảo là tuyệt đi, sẽ tự nguyện với lòng tinh tn không mi mệt và t hn trong tâm chúng ta đều dâng lên niềm an lạc khôn nguôi trong giáo pháp.
  1. Kinh tng của Hphái

Mt sphn trong kinh tng Kht sĩ ging với kinh tng Bắc tông như Nghi thức Sám hi, Nghi thức Cu an, Nghi thức Cu siêu, tuy nhiên, các bài kinh tng đều được dịch sang tiếng Việt thun túy và phổ theo thể văn vn, hay thể thơ lục bát, song tht lục bát, thơ năm chữ. Kinh PhMôn, Kinh Di Đà hay các bài kinh và sám ngn như Kinh Bát-nhã, Tán thán Pht, Sám Mười phương, Mười nguyện, Phúng kinh, Nguyện tiêu, Nguyện sanh, Hi hướng, Tự quy y đều được dịch từ kinh điển Bắc tông sang tiếng Việt và diễn thơ. Chủ trương Việt hóa của Đức Tổ sư rt phhợp với văn hóa người Việt, cũng như phhợp với trình độ dân trí qun chúng lúc by giờ ti miền Nam và còn phhợp với chủ trương Việt hóa kinh văn của Giáo hi Pht giáo Việt Nam.

Điều này cũng dễ hiểu vì còn gì dễ cho bng người Việt nói tiếng mViệt Nam. Hơn thế nữa, người chân qmc mạc, cht phác làm sao có thể hiểu ngay lời Pht dy trong âm Hán, hay Pali, Sanskrit. Ông bà mình đã tạo ra tiếng Việt để dễ dàng chuyển ti tư tưởng, ý tưởng cho người Việt, và Đức Tổ sư đã áp dng ngay điều y trong vic chuyển ti lời Đức Pht dy cũng như soi dn người Việt hiểu được đạo Pht mt cách đúng đn nht.

Nhiều người sau khi quy y Tam Bảo đã tht tình tâm sự : Ln đu
 


tiên về viếng cnh tịnh xá, thy cnh thanh tịnh, u tịch, li kiến trúc gin d, thp thoáng bóng áo vàng của cTăng, lòng con cm thy hết sức bình yên, gn gũi và khởi lên niềm cung kính vô vàn. Khi vừa nghe lời kinh trong bài Dâng hương, con đã hiểu ngay ý kinh và có cái cm giác sâu lng, trân quý, chí thành, tha thiết làm sao.

Khói hương xông thu my tng xanh, Rt ráo tâm con bn nguyện lành,
Trên khói hương này xin Pht ngự, Chứng minh đệ tử tấc lòng thành”.
Cũng thế, nếu gii thích Pht là aicho mt người mới hc Pht hiểu được, chúng ta chỉ tng 4 câu đu trong bài Xưng tng Pht Bo, mi người đều có thể dễ dàng lĩnh hi ngay:

Pht là đng ti cao gc ng, Lp đo tng tế đchúng sanh. Lut nghiêm giới cm ban hành,
Làm người dn lchnh no tu…”.

Tht không còn gì đy đủ dễ hiểu bng. Chúng ta có thgii thích rt dài về định nghĩa Pht” nhưng với người mới bước chân đến chùa, thut ngữ, văn chương, triết lý đôi khi càng khiến cho đu óc hrối bời hơn. Nói tht gn, tht rõ li kết hợp diễn vn tiết tu thơ khiến lời kinh dễ đc, dễ thuc, dễ thm vào lòng người đc, người nghe.
  1. Sự hi nhp và đóng góp của Hphái trong lòng Giáo hi Pht giáo Việt Nam

Vic công nhn pháp nhân, pháp lý trước sự hiện diện của mt dòng truyền thừa mới là điều kiện, cơ hi và là thách thức của Hphái trong quá trình hi nhp, sánh bước cng hai tông phái chính là Nam tông và Bắc tông. Chỉ mới 70 năm Hphái có mt, khong thời gian q ngn ngủi so với sự ra đời của Pht giáo Nguyên Thy
 


thế giới hơn 2500 và hơn 2000 năm đi với Pht giáo Đi thừa. Từ năm 1981 trở đi, Hphái trở thành mt trong chín tchức thành viên chính thức của Giáo hi Pht giáo Việt Nam, đã có thêm cơ hi được chia schung tay đóng góp công sức cho Giáo hi, đt nước và dân tc.

Nhiều Tăng Ni của Hphái tham gia vào hàng Giáo phm của Giáo hi Pht giáo Việt Nam cũng như tham gia làm công tác Giáo hi ti các tỉnh thành, qun huyện trên cả nước. Ngun kinh sách của Hphái làm phong phú thêm hệ thng Pháp bảo của Pht go. Hphái Kht sĩ còn có nhiều đóng góp đáng kể trong các hot đng từ thiện xã hi, cứu trợ đng bào bị thiên tai, nghèo đói, bệnh tt, xây dựng nhà tình nghĩa...
  1. Thay lời kết

Với tinh thn hi nhp và sáng tạo, Pht giáo khi du nhp vào bn địa đã được qun chúng hoan hỷ đón nhn, dung hoà và hình thành mt đạo Pht theo bn sắc Việt. Vn sn có cm tình quý kính đi với đạo Pht nên khi Đạo Pht Kht Sĩ ra đời với tư cách là mt dòng truyền thừa Pht giáo mới được phát sinh ti Việt Nam, do người Việt Nam sáng lp, người dân Việt Nam nht là người dân vùng Nam B, chiếc nôi của Hphái Kht sĩ, đã nhanh chóng tiếp nhn và phát huy.

Ngang qua quá trình hành đạo trong giai đon Đức Tổ sư Minh Đăng Quang trực tiếp dn đoàn du Tăng hong hoá, khong 7 năm (1947 – 1954), những thành tựu của H phái đã thể hiện qrõ. Cho đến ngày nay, 70 năm đã ti qua, Hphái Kht sĩ đã hiện diện khp ba miền tquc và ở mt vài nước trên thế giới. Hiện nay, trong nước, số lượng cTăng Ni Kht sĩ có hơn 3.200 vị và số tịnh xá, tịnh tht thuc Hphái hơn 500 ni. CTăng Ni tr, có đạo hnh được khuyến kch tham hc ti các trường Trung cp Pht hc, Đi hc Pht giáo trong nước và quc tế. Với thành quả khiêm tn này cũng cho thy con đường Ni truyền Thích-ca Chánh phápmà Đức Tổ sư khai vẹt tht sự rt đúng đn và phhợp với tâm nguyện người Việt Nam.



Năm tháng vô thường, cuc sng xã hi, con người thay đi theo chiều tiến hóa của quy lun vn hữu, cho du gp khó khăn thử thách, Hphái Kht sĩ với ý chí và lòng tinh tn sẽ vn luôn kiên định tiến về con đường phía trước, sẽ vn bảo trì giới bn và ngun đạo lý nhiệm mu mà cPht đã khai sáng, Đức Tổ sư đã tiếp ni để ánh đạo vàng rực sáng mãi. Người con Hphái Kht sĩ smãi tinh cn tu tp và góp sức cho ni nhà Pht giáo Việt Nam, làm tn sứ mệnh phng sự đạo pháp, dân tc và chúng sinh.

Hunh y bát đt thong dong, Tứ y pháp bảo, mt lòng cn tu. Niết-bàn bao dm xuân thu,
Viên thành qugiới hnh nhu giúp đời.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây