52. ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ: SỰ TỔNG HOÀ CỦA HAI TRUYỀN THỐNG

Chủ nhật - 09/09/2018 12:15
ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ: SỰ TỔNG HOÀ CỦA HAI TRUYỀN THỐNG
ĐĐ.TS. Giác Hoàng
Phó Thư ký Hệ phái Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng HVPGVN tại TP. HCM
Đạo Pht Kht Sĩ (trước đây là Giáo hi Tăng-gKht sĩ Việt Nam, nay là Hphái Kht sĩ) do Đức Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lp từ năm 1944 đến ngày nay (2014) tn 70 năm, nhưng đã có những đóng góp nht định vào nền văn hóa Pht giáo Việt Nam. Nếu không bgiới hn bởi hoàn cnh đt nước chia đôi và không phi khắc phục hu quả sau chiến tranh, t hn số lượng tịnh xá ti Việt Nam ngày nay không chỉ nm ở con shơn 500 ni, Tăng Ni hơn 3.200 vị1.

Sự đóng góp của Pht giáo Kht sĩ xưa và nay trong Giáo hi, không những tạo nên mt hệ thng cơ sở tự viện tôn giáo tín ngưỡng tâm linh, mà còn dựng lp được mt hình thái Pht giáo đặc thù, dung hợp giữa hai truyền thng tâm linh lớn: Pht giáo Nam truyền (Pht giáo Thượng tọa b, còn được các sư Nam tông gọi là Pht giáo Nguyên thy) và Pht giáo Bắc truyền (Pht giáo Đi thừa). Sự xut hiện của Tổ sư Minh Đăng Quang đã tạo nên mt Pht giáo có sắc thái riêng biệt, được mt sTăng Ni, hc giả gọi làKht sĩ Pht

1. Ngày nay Pht giáo Kht sĩ hong truyền Pht pháp ở hi ngoại, có khong 30 ni tịnh xá ở các nước: M, Úc, Canada, Pháp... Số lượng tín đồ trong nước và ngoài nước khó xác định mt cách chính xác. Ước tính trong nước ti thiểu khong vài triệu tín đ.
 


Việt, vì vừa thể hiện được đường li của Pht Tăng xưa, vừa thể hiện được nền văn hóa bn địa Việt Nam, tạo nên mt bn sắc Pht giáo đặc thù, góp phn cho vườn hoa Pht giáo Việt Nam thêm hương sắc.

Do đó, trong phm vi bài viết này, người viết trình bày đôi nét về những điểm đc đáo của đường li giáo pháp của Pht giáo Kht sĩ, thể hiện đặc tính dung hòa những điểm tinh yếu của hai truyền thng Pht go.
  1. Chiếc y ca-sa

Y phục của người xut gia là biểu tướng của Pht go. Qua y phục, người ta có thể nhn diện được chiều sâu nền văn hóa, tâm linh của mt dân tc, của mt tôn go. Y phục Pht giáo có nét đặc thù riêng so với y phục của các truyền thng tôn giáo khác. Có hai truyền thng trong Pht giáo: (1) Đp y ging Pht còn ti thế như c Tăng theo truyền thng Nam tông ở n Đ, Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào và Campuchia; (2) Biến tu chiếc y Pht cổ điển, dựa trên y phục truyền thng của nền văn hóa, tạo nên mt chiếc y mới có đôi nét ging với chiếc y gc ở n Độ như mu y của Pht giáo Trung Quc, Triều Tiên, Nht Bn, Tây Tng, Mông C, Việt Nam...

Đức Tổ sư khi sáng lp “Đạo Pht Kht Sĩ Việt Namvới cnguyện Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, đã chn chiếc y ca-sa có nét đặc thù riêng, không hoàn toàn theo truyền thng Nam tông hay Bắc tông sn có, mà từ hai truyền thng này, Tổ sư đã tạo nên mt sắc thái đc đáo vừa phhợp với hình thức và tinh thn của Pht Tăng xưa, li cũng rt phhợp với thm mcủa người Việt và truyền thng Pht giáo Đi thừa. Sau đây là mt số đặc điểm:
    • Quy định vBa y: Y thượng bá np, y trung vi nguyên và y hạ vi nguyên.
 
    • Gam màu của 3 y: Màu vàng sm. Ba y phi cng màu, tuy nhiên, y trung và y hạ có thể lợt hơn màu vàng của thượng y (vì do bt màu).
 
    • Y của Ni lưu có nét đặc thù riêng. Y trung tức là áo dài Việt
 


Nam biến tu, may cổ và tay vuông vức, vừa phhợp với văn hóa Việt Nam và vừa tạo sự kín đáo cho Ni giới2.
    • Cách đp y của Tăng và Ni khác nhau. Tăng ti nhà đp y chừa cánh tay phi, khi ra đường phi đp y lum (y qun). CNi chỉ có mt kiểu đp y, luôn mặc áo dài tay (dù ra đường hay ở nhà) và không đp y lum. Y hạ: cTăng mặc xếp, Ni mặc rút dây.
 
    • Quy định vsố lượng: Y thượng chỉ có mt, mi năm có thể đi mt ln vào rm tháng by, hoặc giữ trọn đời. Y trung và y hạ được 2 bộ để thay đi nhau3.

Như vy, chúng ta thy rằng y thượng tức là Đi y (Sanghati) của Hphái Kht sĩ chỉ được mt cái, không phi 3 cái như mt sbphái quy định. Điều này, người viết cho rằng phhợp với li sng đơn gin thanh bn của người xut gia xưa và nay. Y thượng phi là y bá np, tức là Đi y được hình thành trên cơ sở các vi vụn, hoi sắc, được khâu, may, vá li như nhiều mnh rung trên mt cánh đng bao la mà khi xưa được Đức Pht khen tht đẹp thay, và bảo Tôn giả Ananda hãy hướng dn cTăng may y Sanghati ging như cánh đng lúa vy. Số lượng miếng vi được khâu li thành chiếc y không có quy định, tùy vào hoàn cnh thực tế của người lượm được vi. Hình thức y bá np này được các sư tu hnh đu-đà Nam truyền tuyệt đi tuân phục. Pht giáo Đi thừa ở các nước chỉ giữ được hình thức chung là thượng y như mnh rung, cách may ngay ngn cho đẹp hơn và quy định thành 5 điều, 7 điều và 25 điều tùy vào thời gian tu tp của người thCtúc giới.

Điều đáng lưu ý rằng: Pht giáo Đi thừa quy định Đi y của sa-di là không vá, Hphái Kht sĩ cũng vy, trong khi đó Pht giáo
  1.  
  1. Người viết không thy quy định về áo dài của Ni giới trong Lut nghi Kht sĩ, nhưng về áo dài của cư sĩ, Tổ có quy định trong Chơn lCư sĩ” (số 16) như sau: Bdài xương sng 1 mét, kích 0,7 mét, tay 0,85 mét,ng tay 0,2 mét; c, lai, bâu, đinh, nếu người nam thì 0,03 mét, nthì 0,02 mét. Có lẽ từ những quy định cho cư sĩ, áo dài của hàng xut gia được may theo.
  2. Các quy định này được ghi rõ trong phn Lut Kht sĩ” thuộc Lut nghi Kht sĩ, tr. 38-39.
 


Theravada li không, tt cả y đều ging nhau. Truyền thng của Thượng tọa bkhông cho người thgiới sa-di trở lên mặc áo qun (dù là lam hay nâu), Hphái Kht sĩ cũng vy, trong khi đó các nước Pht giáo Đi thừa hu như đều mặc qun, ngoi trừ Pht giáo Tây Tng và Mông C. Do đó, y phục của Hphái Kht sĩ có thể được khng định là kết hợp giữa hai truyền thng Pht giáo lớn.

Ngày nay, nhìn li quy định của Tổ sư về y phục, chúng ta mới thy sự sáng tạo đc lp của Ngài. Mt số trường phái Pht go, như Pht giáo Tây Tng chng hn, 3 y của cTăng có sự khác biệt với Pht giáo Bắc tông Trung Quc, Nht Bn,... nhưng 3 y đó giữa Tăng và Ni li ging nhau, tạo nên sự mt mỹ cm và trang nghiêm cho Ni lưu khi mặc. Mt scNi thuc Nam tông ở Việt Nam và Úc châu cũng bphn nh vn đề này. Lut tng có đề cp đến 5 y của Ni giới, nhưng không có quy định cụ thvề vic đp đi y, từ đó dn đến mt sTỳ-kheo-ni Nam truyền khi thọ Đi giới cũng được đp y qun (lum) ging như cTăng, hoặc đp y chừa cánh tay (mà không có áo dài tay) như Tăng giới, có những bt tiện nht định về thm mỹ y phục.

Nhân đây, người viết cũng xin phn ánh về tình trạng mt sTăng Ni Kht sĩ không hiểu được nguyên y của chiếc y mình mặc và không thy được giá trị đặc thcủa chiếc y do Tquy định, nên tự đi kiểu và không mặc chăn, mà thay vào đó mặc qun khi đp đi y... dn đến mt đi pháp tướng trang nghiêm của mt Sư cô Kht sĩ.
  1. Chiếc bình bát với pháp hành Kht thực

Truyền thng du phương, tùy duyên kht thực độ sanh đã có từ thời Đức Pht Thích-ca Mâu-ni. Nhiều kinh sách Pht giáo Nam truyền và Bắc truyền đều cho rằng, cPht qkhứ đều là Kht sĩ, đều là những vị hành trì hnh kht thực hóa duyên mi ngày, hoặc đến nhà thọ trai theo lời thỉnh cu của Pht tử, mà ngày nay chúng ta gọi là cúng dường Trai Tăng4. Như phn mở đu của kinh Kim

4. Sự phân biệt giữa “Trai Tăng” và “Trai phạn” được xuất hiện gần đây. “Trai Tăng” được chỉ cho bữa cúng dường với những phẩm thực, phẩm vật và hiện kim; còn “Trai phạn” là chỉ cho bữa cúng chỉ thuần phẩm thực. Quan niệm
 


Cang thể hiện điều này rt rõ nét: Nhĩ thời Thế Tôn thực thời, trước y trì bát nhp Xá-vđi thành kht thực. Ư k thành trung, thứ đ kht dĩ...(Mt thời Thế Tôn đến thời thọ thực, đp ý cm bát, vào thành Xá-vkht thực. Ở trong thành y, theo thứ lớp kht thực xong rồi...). Do đó, bình bát là dng c, là phương tiện duy nht để cTăng thọ thực hng ngày thời by giờ. Tri qua thời gian, đến thời Tổ sư Minh Đăng Quang, bình bát và pháp kht thực vn được các nước Pht giáo Nam truyền bảo tn và phát huy. Trong khi đó, Pht giáo Bắc truyền ở Trung Hoa và mt số nước khác vì thời duyên nên đường li kht thực hóa duyên này không được duy trì và thực hiện thường nht trong nếp sng thiền môn. Chỉ khi nào mở đàn giới, các vị thCtúc giới được thực hiện nghi thức CPht kht thực” vào ngày cui để xác định hnh kht thực là truyền thng của cPht để nuôi mng chân chánh. Ngày nay, mt sgiới đàn ti Việt Nam vn giữ truyền thng xưa nên cui khóa thường tchức kht thực hóa duyên. Hoặc ở mt số nước Đi thừa như Nht Bn, Hàn Quc, vic kht thực như là hnh bt buc trước khi thọ Đi giới, như là sự thử thách cn phi có để rèn luyện tính nhn ni, khiêm hcủa mt vị tm cu quả vị giác ng.

Tsư Minh Đăng Quang vi cnguyện Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, đã chn nếp sng kht thực hóa duyên theo truyền thng Nam truyền nlà con đường nuôi mng sng mt cách chân chánh nht, do đó, bình bát trthành mt phương tiện không thể thiếu trong đời sng thường nht. Tổ đã quy định vbình bát ca nsư Kht sĩ nsau: Bát phi bng đt, hông tròn sáu tc, ming rộng, đt đen, lăn sáp bên ngoài. Mt cái np đy bng nhôm trng nh. Li phi cmt cái túi vi tròn vừa vi bát, túi có np phủ, cquai mt tc bề ngang, còn bề dài khi mang choàng vào vai trái thì ming túi bát phi ngang dây ng chăn. Túi nhum mt màu vi y (màu vàng sm)5. Như vy, bình bát này không quá lớn như trường

này không đúng. Vào thời Phật không có “phân biệt đối xử” như vậy, và dĩ nhiên chư Tăng “không được rớ đến vàng, bạc, của quý, đồ trang sức” và tiền bạc không có chỗ dùng, thì làm sao có phân biệt giữa “Trai Tăng” và “Trai phạn”.
  1. Xem Lut Kht sĩ” trong Lut nghi Kht sĩ, tr. 38.
 


hợp ở mt số nước, và cht liệu không phi làm bng đng, hn hợp kim loi, gquý, v.v... làm mt đi vẻ đẹp trang nghiêm và sự đơn gin thanh bn đi với vt dng của mt nhà sư.

Dựa vào điều quy định của Tổ sư, mi người đều có thbiết đây là pháp kcủa các vị đang tu theo Pht giáo Kht sĩ. Ngày nay, mt sc Tăng Ni Kht sĩ không ý thức được nét đặc thnày, nên tự do mua bát của mt số nước, làm mt đi tính đng bộ và bn sắc riêng vốn là điều đáng quý của Hphái.

Theo cách nhìn ca Tsư Minh Đăng Quang, Bát” mà chúng ta đang dùng, không chỉ dừng li ở tính thực dng, là phương tiện để đựng chứa thực phm xin được từ đàn việt mi ngày, mà còn hàm tàng nghĩa lý là chứa đựng đạo Bát chánh. Do đó, vic nsư hành trì y bát qua vic kht thực hóa duyên, không chỉ nuôi thân mà còn trưởng dưỡng tâm linh. Tổ nói: Còn cái bát là thcủa bát chánh đo. Đo bát chánh ví như bu đựng cơm, đo như bu võ trụ, tâm chúng sanh như cơm đồ ăn chứa mang vào trong đó. Bu đo đức để rộng chứa qun sanh, hay là lòng từ bi của chư Pht hng ôm giữ. Khi a đức Pht Thích-ca ling bát xuống sông Ni-liên, bát ni trôi ngược mt khong xa, ri cm xuống đụng khua cùng bát chư Pht qkhứ, kêu nghe rn rng. Cnghĩa là Ngài thả đo Ngài xuống chn sông mê, ni lên trên cao ráo, trôi ngược trào lưu, qua trên bn chục năm đi dy đo, Ngài mi đứng li, và Ngài nng nghỉ vào Niết-bàn, hiệp cùng chư Pht qkhthì tiếng đo li vang di lan tràn, khp nơi túa rng6.


Dĩ nhiên, người chp vào văn tự skhông đng ý với cách lý gii của Tổ sư, cho rằng chữ Bát () là bình bát; theo cu trúc chữ Hán, nó được kết hợp bởi chữ kim () và chữ bn () còn “bát() trong Bát chánh đạo thuc số từ, nghĩa là số 8. Ở đây, chúng ta cũng nên lưu ý, Tổ sư mượn hình nh này để xiển dương Bát chánh đạo, là con đường đưa đến quả Pht giác chơn. Cách mượn sự để hiển lý là cách mà truyền thng Pht giáo Đi thừa nói chung và thiền hc Trung Hoa nói riêng thường dng để khai thị hc nhơn.
  1. Chơn lY bát chơn truyn” (số 12).
 


Do vy, để vic kht thực trở thành mt trong những pháp hành của người Kht sĩ, không chỉ kht thực để xin vt cht (vn vt) để nuôi thân”, mà còn rộng hơn là “xin tinh thn (c pháp) để nuôi trí”, để dứt bỏ cái ta đc ác khnão mà sng theo lẽ vô thường, tiến hóa. Đi xin đn lòng ti li. Đi xin đđền nghiệp cũ, đng sớm nghngơi, mau hết vn lời. Đi xin đnhịn nhường bthí ca ci li cho chúng sanh. Đi xin đlàm gương nhơn quti li cho chúng sanh ngừa tnh. Đi xin để đừng phm ti li mới. Đi xin đcthì giăn hc. Đi xin đgo hóa chúng sanh. Đi xin đkhông tự cao dt nát, danh lợi, sc tài. Đi xin đgii thoát phiền não, và đun đúc tâm hn, rèn luyện chí hướng, tp sửa bn năng. Có đi xin mới có từ bi hỷ xả, trí huthông minh, cõi lòng mát du, rộng mbao la, lng yên sch sẽ. Có đi xin ăn hc mới là thiện, kkhông đi xin tht hc là không thiện. Người đi xin ăn hc quhơn là kẻ ở hc mt ch, hc cngười nuôi, thiện hơn là người tự nói làm ác quy đăn hc...7

Mt đon khác trong Chơn lKht sĩ, Tổ sư thuyết minh vg trị và ý nghĩa của giáo lý đi xin: Go lý ca Kht sĩ là Trung đạo, Chánh đng Chánh gc Vô thượng, ct yếu đđem li chữ a cho muôn loi, xin cái cao ban o cái thp đto sự bng thng giữa cõi đời. Đi xin đkêu gi lòng từ bi hỷ xả, đức từ ái cho nhơn loài; xin cái tham lam, sân gin, si mê là đa ngc, ngạ quỉ, súc sanh để đưa người lên cõi người, Trời, Pht, Thánh; là dt cho người bước lên con đường bthí, nhn nhc, tinh tn, đạo mu. Không phi vì đói khát sợ chết mà xin, người đi xin vt cht là làm cớ sự đbthí tinh thn phước lc, nhắc nhđkhuyên người. Đi xin tức là bthí pháp vy. Mi ngày đi xin mt ln, lập mt công đức, dn đạo ban hành, u dt chúng sanh, đền ơn cPht, lưu truyền chánh pháp. Chính đạo Pht ba đời là đạo Kht sĩ cả, ngoài Kht sĩ ra là đạo Trời người, chkhông phi là đạo Pht.


Do đó, mt vị Kht sĩ phi hc thuc lòng, hoặc cít phi nm cho vững 26 nguyên tắc căn bn pháp hành kht thực8 để mi ln ôm
  1. Chơn lKht sĩ” (số 11).
  2. Lut nghi Kht sĩ, Về sự đi kht thực, tr. 57-59.
 


bát hóa duyên là thể hiện bài pháp vô nn sng đng được nhà sư y thể hiện qua các oai nghi được kiểm thúc và tỏa ra trong từng bước chân lng lẽ mà đi vào lòng người, là để du hoa sen không ô nhiễm vào nơi trí óc tâm người, vạch hàng chữ đạo nơi cửa ngõ đường đi, khoe sự tt đẹp của giới hnh, nhắc nhở sự uyên úy đến cho người9. Do đó, mt nhà sư đi kht thực ngoài đường không phi d, thân tâm phi trang nghiêm, xứng đáng là rung phước cho cư gia gieo ging thiện, trồng tỉa thiện căn phước đức để đơm hoa giác ng, kết trái Bồ-đ. Chính vì vy, điều 81 trong 114 điều lut do Tổ sư quy định: Cm cho mc dùng Y bát đi ra ngoài, đi kht thực nếu chưa hành đúng giới lut10.

Ngày nay, có nhiều vị Kht sĩ thích hành trì hnh kht thực chưa hành đúng giới lut, hoặc mt sngười giả tu, lợi dng hình thức kht thực mà làm điều xng by, xin tiền, lường gt bá tánh, làm hi đến tín tâm cư gia, tn thương Pht pháp vô cng. Mong rằng, cTôn đức Giáo phm Hphái quan tâm đến vn đề này, để các Tăng Ni được giáo dưỡng tt vphm hnh, mi ln đi kht thực là biểu hiện sự thanh cao của Tăng đoàn, gióng lên tiếng trống gii thoát, giương cao cờ xả ly và nêu cao gương lành hnh quý. Người viết cũng rt mong các cơ quan chức năng quan tâm, tích cực tạo điều kiện cho các vị chân tu thanh tịnh kht thực hóa duyên, làm gương hnh đạo đức cho đời; đng thời cũng nỗ lực làm gim thiểu thành phn kht cái, kẻ lợi dng hình thức tu sĩ, góp phn lành mnh hóa xã hi, làm trong sáng hình nh của nhà sư, hàng tiêu biểu về đạo đức thanh cao, hàng đáng tôn kính trong xã hi.
  1. Độ ngvà ăn chay

Pht giáo Nam tông chủ trương cTăng ăn mt ngày hai thời: Điểm tâm và độ ng, hoặc mt số vị tu hnh đu-đà trong các chùa và trường thiền như ở Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam chỉ dng mt bữa ngọ trưa. Pht giáo Bắc tông cũng vy. Đc tiểu sử các vị Đi sư, vị nào cũng tam thường bt túc, an bn thủ đạonên vic ăn ng,
    1.  
    1. Chơn lKht sĩ (số 11).
    2. Lut nghi Kht sĩ, tr. 279.
 


hoặc tm dng rau trái qua ngày là truyền thng xưa nay của liệt vị Tổ sư. Pht giáo Kht sĩ cũng không ngoi l. Tổ sư dy rằng nếu không bệnh hoặc làm vic nặng thì chỉ dng mt bữa ng. Do đó, trong bài Ăn chay” thuc Chơn lsố 13, Tổ sư đã dy người Kht sĩ phi là người ngày ăn mt bữa ng:Vy nên ăn để sống, chkhông phi sống đmà ăn, thì phi nên ăn mt bữa”, phi đi kht thực mà ăn, để khi bn bịu với thực phm thức ăn, để có thời gian tham thiền nhp định, trau tâm di trí.

Cũng nên lưu ý rằng, giới cm ăn phi thời trnên nghiêm ngt đi với Pht giáo Nam tông, nhưng được phép ăn tam tịnh nhục, nghĩa là người xut gia được phép ăn tht khi không thy con vt bgiết, không nghe tiếng kêu la của con vt bgiết và không nghi con vt đó bgiết vì mình. Trong khi đó, Pht giáo Bắc tông, giới cm ăn phi thời không phi là giới qnghiêm ngt như Pht giáo Nam tông, mặc dù trong Lut tng cũng không cho phép cTăng dng chiều, nhưng trừ khi bệnh thì được dng, phi xem bữa ăn đó như món thuc chữa lành bệnh mà thôi, và vic ăn chay trường như là mt điều bt buc để trưởng dưỡng từ bi tâm11. Kinh Lăng-già thuc trường phái Pht giáo Đi thừa triệt để kích bác và lên tiếng chỉ trích nng nề những ai xut gia mà còn ăn tht chúng sanh, dù hình thức nào12. Đng thi, từ khi vua Lương Võ Đế (464–549), mt quc vương Pht tử trong thời đi Nam-Bắc triều Trung Quc cổ súy vic ăn chay trường đi với tu sĩ, từ đó vic ăn chay trường ở Trung Quc mới thực sự trở thành lut thành văn cho tt cả tu sĩ Pht go. Qua đó cho thy rằng, Pht giáo đã truyền vào Trung Quc thời gian hơn 400 năm rồi, nhưng Pht giáo Trung Quc vn còn ăn mn. Pht giáo Mông Cổ và Tây Tng ngày nay ti n Độ và mt số nước như Bhutan, Banladesh, Nepal cũng vy. Hu hết các sư đều dng mn, chỉ trừ mt săn chay.


Tsư Minh Đăng Quang qu tht là mt vTsư đặc biệt, vừa
    1. Tuy nhiên, mt số vùng miền ở Việt Nam theo Pht giáo Đi thừa và mt số nước chunh hưởng Pht giáo Đi thừa vn dng tam tịnh nhục như cTăng Pht giáo  Nam truyền.
    2. Chương 8, tr. 440.
 


giữ được nh thức và tinh thần ca người a tại n Đ, vừa tiếp nhận điều hay ca Pht giáo Đại thừa Trung Quc. Do vy, Tbuc chư Tăng Ni, người xut gia Kht sĩ phải ăn chay trường. Giới thứ 9 trong 10 giới Sa-di ghi như sau: Cm ăn sái gitqngđến ngọ mai (ăn chay)”13. Trong 26 điều lut liên quan đến kht thực, có 2 điều liên quan đến thực phẩm chay-mn: Kng được nhn tiền, go; không được nhn đăn mn; khi người đem cúng, mình có thể hỏi xem chay hay mn, đlà gương dy thin cho người14, hoặc ở điều lut khác khẳng định tính dứt khoát phải ăn chay:Nếu biết cơm có nh lđăn mn, thì khi về phi cho người khác, chớ không được dùng. Bng khi túng ngt, phi gt rửa sch mi được dùng.15 Trong 69 tiểu lun, Ngài dành ra mt bài thuyết minh về giá trvà lợi ích ca vic ăn chay, cũng như phânch thế nào là ăn chay ngọ như đoạn sau: Vy nên Pht dy chư Tăng hin sĩ phi gigìn sáu căn trong sch, nơi đó phi gii thoát tránh xa điu phin não ca s ăn mặc ở bnh đđịnh tâm lo hc, rnh trí lo tu. Thế nên, đối với chư Kht sĩ là bậc đã gii thoát xut gia, đem mình bước ti cõi Pht, hng gigìn miếng ăn tchút, chng cho vì nó mà phi bn tâm ntrẻ nh, đng để thì giquán xét việc chúng sanh, tìm pháp lý mở mang trí hu, gii cứu cho người đời. Nên săn chay trong sch ca các Ngài là ngày ăn mt bữa ngọ trưa, có chi ăn ny, món ăn bng rau trái, ăn trộn lộn xộn chng phân mùi v, đi xin ăn để tránh sự nu nướng vng tâm. Đem pháp thí cho người, xin đổi li miếng ăn nuôi mng sng, tngười hảo tâm biết ơn mà dâng cho, chng hề đòi hỏi ép buc; sáng, chiều, đêm, khuya lòng không nhớ tưởng, chng dlo ct đdành. Vì vy, nên mi gọi là ăn chay, ăn trong sch, là miếng ăn ca người Kht sĩ”.16

Cũng trong bài Ăn chay” này, nhiều đon Tổ sư đã lên tiếng thể hiện quan điểm của Ngài về vic ăn chay. Sau đây là mt đon điển hình:Ckli ni: Pht Tri a kia còn ăn dùng tam tnh nhục,
    1. Lut nghi Kht sĩ, Bài học Sa-di, tr. 71.
    2. Lut nghi Kht sĩ, Lut Kht sĩ, tr. 59.
    3. Sđd, tr. 60.
    4. Chơn lĂn chay” (số 13).
 


huống hnh là chúng sanh, tha hăn chi đsống, món ăn nào blà cdùng. Than ôi! Chính vì câu nói đmà cõi đời ngày sau này mới trn rừng rậm, người ăn người, thú ăn thú, người ăn thú, thú ăn người, giết hi ln nhau, tàn ác bạo ngược. Rt nhiều đon trong bài Ăn chay” thhiện quan điểm ca Tsư rt sc bén và lý lun rt hng hn, người đc hoan hxem toàn văn sbiết rõ.
  1. Giới lut Kht sĩ – Sự cộng thông giữa lut Pht giáo Nam tông và Bắc tông

Giới lut là thmng ca Pht pháp. Giới lut còn là Pht pháp còn, giới lut mt thì Pht pháp mất. Đó là tuyên nn của Đức Pht vgiới lut. Điều này cho chúng ta thy tm quan trọng của giới lut như thế nào đi với vn mng của Pht pháp. Do vy, mt đoàn thể được mi người tôn trọng, mt Hphái được nhiều người sng bái và trường tn với thời gian, t hn phi có mt blut hoàn chỉnh hay tương đi hoàn chỉnh để mi người hành theo.

Thông thường, nhiều người khi nn o nh thức y bát nếp sng du phương kht thực ging vi truyn thng Pht giáo Nam truyền, liền cho rằng giới lut ca Pht giáo Kht sĩ chu ảnh hưởng hoặc ly toàn bộ hoặc chí ít sdng phần nào lut ca Pht giáo Nam truyền. Nng không, giới lut ca Pht giáo Kht lại chu ảnh hưởng rt lớn giới lut ca Pht giáo Bc truyn Việt Nam. Được biết o thi T, trước và sau khi lp đạo, Ngài thường đc sách ca hc giĐoàn Trung Còn, nPht hc uyên c và có ảnh hưởng lớn nht miền Nam thi by giờ. Do đó, Lut Tăng đồ nhà Pht chc hẳn Tđã nghiền ngẫm thu đáo, nhận thy lợi ích và tính thiết thực ca chúng, nên đã bn tp lại tnh lut ca Hệ phái Kht sĩ. Chúng ta cũng nên u ý rằng, bLut này thuc bộ phái Dharmaguptaka (Đàm-vô-đức) do Đại sư Đàm Đế dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hoa o năm 254 sau Dương lịch17. Mc dtheo phả hệ trong Dbộ tông luân lun18 bộ phái Dharmaguptaka
    1. Theo lời ghi chú trong Lut nghi Kht sĩ (tr. 203).
    2. Dị btông luân lun (số 2031) là tác phm do Tôn giả Vasumitra son thut, được ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ, là tác phm trình bày quá trình
 


là chi phái phát sinh sau Hóa đa b, mà Hóa đa bcó gc c từ Thượng ta b19, nên nếu nói mt cách nghiêm túc, bộ phái Đàm- vô-đức cũng không phải thuc Pht giáo Đại thừa. Tuy nhiên, ngày nay blut Tứ phần ca phái Đàm-vô-đức đang được Pht giáo Bc tông ở Trung Quc và Việt Nam sdng, nên có thể tạm xemthuc Pht giáo Đại thừa. Trên thực tế, Lut Tứ phần nói rng và 6 blut hiện có trong Đại tạng, không có blut nào thuc Đại thừa, mà đều là sản phẩm ca Pht giáo Theravada và 5 bộ phái khác. Do đó, lut ca Hệ phái Kht sĩ, chư vTỳ-kheo phải giữ 250 giới và Tỳ-kheo-ni phải giữ 348 giới ca bộ phái Đàm-vô-đức này. Sdĩ Tchn như vy, theo người viết có my lý do sau:
  • Blut Dharmaguptaka này đang phổ thông trong cng đng Tăng lữ Pht giáo Đi tha ti Việt Nam, có đoàn thTỳ-kheo-ni xut gia và được truyền thCtúc giới. Nếu chn Lut Nam tông, Ngài không thể thâu nhn và cho phép nữ giới thCtúc giới.
 
  • Blut này có mười giới được viết dưới dng phân tích, ging gii rt chi tiết với những hình nh rt sng đng, văn phong rt lưu loát, xúc đng lòng người. Đng thi, blut này có 24 thiên oai nghi do Lut sư Châu Hong (1535 – 1615) biên son khá chi tiết, được Tổ sư biên tp li theo nn ngữ tiếng Việt với văn phong của Ngài và tỉnh lược bớt những phn không quan trọng đi với nếp sng của mt tp sự, sa-di trong bi cnh thực tiễn ở Việt Nam, thành 19 thiên (bài hc).
 
  • Ngoài ra, các bài kchú nguyện Tỳ-ni nht dụng thiết yếu vốn được trích từ phm Tnh Hnhtrong Kinh Hoa Nghiêm, do Lut sư Đc Thể (1601 – 1679) bn tp20, giúp hành giphát khi chánh niệm và tâm từ bi rng lớn qua lời đương nguyện chúng sanh(cu

phát sinh các bphái và liệt kê quan điểm của các bphái ở n Độ mt cách đy đủ và đáng tin cy nht trong Đi chánh tng.
    1. Hóa địa bphát sinh từ Thuyết nht thiết hữu b, Thuyết nht thiết hữu bộ là chi nhánh của Thượng tọa b.
    2. Xem bài Ngun gốc của tác phm Bước tới thnh thơi. http://langmai. org/phat-duong/tung-gioi/gioi-luat-sadi/nguon-goc-va-noi-dung-sach-buoc- toi-thanh-thoi.
 


cho chúng sanh) đphát triển tâm Bồ-đ, đưa tâm trvvi thực ti mi khi nhìn thy mt svt, svic gì. Tuy vy, ở nơi đây chúng ta u ý, Tsư rt chú trng đến yếu tthiết thực hiện tica giáo pháp, nên lược gin tt cñng câu chú thut vốn nh hưởng nền văn hóa Ấn Đvà được đưa o sau này, và chỉ giữ li ni dung ca lời chú nguyện. Đon cui ca phn này có ghi: Đây là những câu nguyn kiu mu, chđúng tht, mi người phi tự đt ra câu chú nguyn cho thun hp theo duyên, mi vic. Cnhư thế mi km giữ tâm đo của Sa-di, và phát tâm Chánh đng Chánh giác, tht hành tinh tn được vy21. Vic này, Thiền sư Nht Hnh cũng đã làm rt thành công. Trong c phm Từng bước nhoa sen, Thiền sư đã vn dng nguyên tắc nTsư Minh Đăng Quang nói, đưa tt csinh hot trong đời sng thường nht nTưới cây trong chu, Cm ng nghe điện thoi, Rồ máy, v.v... vi ñng nguyên tắc ntrong Tỳ-ni nht dụng vi nn ngữ hiện đi và cht liệu thi ca, trthành ñng bài thực tp chánh niệm trong đời sng hng ngày. Trong Phép lạ của stnh thức cũng vy, Thiền sư Nht Hnh đã triển khai 31 bài thực tp khác đbổ sung cho cun Từng bước nhoa sen từ lúc vừa thức gic cho đến lúc nm trên giường chun bị đi o gic ng, tạo thành ñng khuôn mu cho hc nhơn Làng Mai thực tp.
  • Khi chn blut này, Tổ sư Minh Đăng Quang sử dng được Bồ-tát giới kinh, mt blut nhm đến vi tế ti khi tâm vừa phát khi, hơn là định ti trên giới tướng. Do đó, trong 9 quyển Lut của Kht sĩ, Tổ đã để dành mt quyển Bồ-tát giớison thut vgiới Bồ-tát dành cho người xut gia, trên căn bn giữ đúng như nguyên tác khong 95%. Mt số vị cho rằng vic biên tp li giới như thế là không nên, vì tinh thn tôn trọng nguyên tác. Nhưng ta thử đt vn đề: Bn văn Bồ-tát giới Pht giáo Tây Tng với Bồ-tát giới Trung Hoa (mà Pht giáo Đi thừa Việt Nam đang dng) có sự khác biệt chăng? Xin trả lời: Khác nhau rt nhiều. Giới Bồ-tát Đi thừa ti Việt Nam có giới Bồ-tát dành cho cư sĩ và tu sĩ. Giới Bồ-tát dành cho cư sĩ có
 
    1.  
    1. Lut nghi Kht sĩ, tr. 96.
 


6 giới trọng và 28 giới khinh. Giới cho hàng xut gia thì có 10 giới trọng và 48 giới khinh. Trong khi đó, giới Bồ-tát của Kim Cang thừa thì có 10 giới nguyện chính và 14 giới nguyện ph. Rng giới nguyện Bồ-đề tâm có 18 giới nguyện chính và 46 giới nguyện ph. Trong phm vi bài khảo cứu này, vic so sánh 2 bn văn Bồ-tát giới không phi là mục đích chính, nên chỉ giới thiệu mt cách sơ lược. Cũng xin nói thêm, Bồ-tát giới trong truyền thng Kht sĩ chỉ để đc tng, tự răn nhắc vào ngày 23 mi tháng, không bt buc và không có nghi qucho Tăng Ni phi thgiới Bồ-tát này khi thgiới tướng sa-di, Tỳ-kheo/ Tỳ-kheo-ni.
  • Trong phn giới lut ca Kht sĩ, Tsư li đt nng Tứ y pháp Trung đạo, tức là Bốn pháp nương tựaca Pht giáo Nam truyn và Tthánh chngtrong Hán tng Pht giáo Bc truyền. Theo điều 52 trong 114 điều lut do Tsư chế định, bsung cho giới bn, rằng: Cm cho thgii một Tp sự ca thuc Tứ y pháp, mười gii và bài kinh cúng dường22. Do đó, bt kmột vKht nào trước khi thgiới sa-di buc phi hc thuc lòng và khi truyền giới phi truyn Tứ y pháp Trung đạo. Trong Chơn lý Chánh pháp(s21), Tsư dành nhiều trang đca ngi và nhn mnh vtm quan trọng và shành trì Tứ y pháp Trung đạo, đã đt ra câu hi: “Cái gì là chánh pháp ca chư Pht? Và trlời: Tứ y pháp là chánh pháp ca chư Pht mười phương ba đời, là go lý Y bát kht sĩ vy!Và trong đon lý gii vgiá trvà tm quan trọng ca Tứ y pháp, Tnói: Tứ y pháp là pháp xut gia, gii thoát ra khỏi nhà ăn mc
 
    1.  
    1. Sđd, tr. 276. Ngày nay, mt vị Tp sự mun được thgiới sa-di phi học rt nhiều bài: Bài học Kht sĩ, Lut Kht sĩ, Bài học sa-di, Pháp học sa-di 1, Pháp học sa-di 2, Pháp học sa-di 3. Tt cả là 177 trang, cng với hai thời công phu trong Nghi thức Tụng niệm, các bài kpháp trong Lut nghi Kht sĩ và các bài ktng như Nhớ ơn Phật, Thuyền trí hucho đến 5 bài kệ trong nhóm văn uyển, sử Pht, sử Tổ và sử Hphái (mt cách tng quan) và Pht học Phổ thông (2 quyển đu theo yêu cu của GHPGVN khi thgiới). Quy định này bxem là quá ti” đi với mt vị tp sự, vì thời gian từ Tp sự lên lớp Sa-di là mt năm rưỡi (hoặc có trường hợp 2 năm) và có Giáo đoàn quy định chỉ mt năm, vy làm sao với người vừa mới bước chân vào đạo có khnăng học thuộc nhiều bài như thế, trong khi đó thời gian công quả, phục vụ Đi chúng cũng không phi là ít.
 


bịnh ca hang ma lm lạc, ... Tứ y pháp là pháp Trung đo Chánh đng Chánh gc, kng thái quá bt cp, nhđmà chư Pht mới đc tâm chơn thành Pht... Đức Pht nào cũng y như thế, ngoài Tứ y pháp ra thì kng phi đo Pht, kng ging chư Pht, chư Tăng và kng phi là go pháp chánh chơn ca Pht. Vì vy cho nên Tứ y pháp là đứng đu trong tng lut, và khi a kmi tu xut gia nhập đo thì Pht dy cho Tứ y pháp trước hết, và dy cho biết đo Pht là đo Kht sĩ vy. Hoc ở một đon khác Tnói mnh hơn vi cách dùng câu ngn và khng định: Tứ y pháp là gm cả lut tng nên gi là chánh pháp. Tứ y pháp còn là đo Pht còn. Tứ y pháp mt là đo Pht mt. Ai hành sái Tứ y pháp tức là tà pháp. Và thy Tứ y pháp tức là thy Pht hin ti. Tứ y pháp là đo Pht!”. Qua đó, chúng ta thy tm quan trọng ca vic hành trì Tứ y pháp như thế nào!
  •  
  • Quy định vTăng s: Lut Kht sĩ quy định một Tiểu giáo hội là 20 v, một Trung giáo hội là 100 vvà một Đi giáo hội là 500 v23. Tt cpháp yết-ma: Truyn giới, cti, gii ti... phi đủ một Tiểu giáo hội là 20 vhoc hơn. Trong khi đó, Lut Tphn cho phép chcn 10 vlà đđlàm các pháp yết-ma truyn giới. Cnh vì vy, khi Hphái Kht sĩ lp đàn truyn giới, ngoài 3 vHòa thượng: Đàn đu, Yết-ma A-xà-lê và Giáo thA-xà-lê, các vtôn chứng cộng li phi đ20 hoc 21 v(vì ngồi đối diện 9 cp cho cân). Không những vy, khi truyn giới, giới sư truyn cả y bát là hai vt bt ly thân ca người Kht sĩ được truyn thừa tthời Pht còn ti thế, được ví như là đôi cánh ca con chim được giới sư chp cho đbay o pháp giới vô tn. Do đó, ngày nay vic Hphái mỗi năm xin mgiới đàn biệt truyn đgiữ gìn bn sc ca Hphái là một nhu cu thực tế, vì điều đó đúng vi tinh thn Lut tng ca Hphái, mà cũng đúng vi tinh thn ca Hiến chương GHPGVN: Thng nht ý chí và hành động, thống nht lãnh đo và tổ chức; đồng thi vn tôn trng và duy trì c truyn thống hphái, cũng như c pháp n và phương tin tu hành đúng Chính pháp(Li nói đu).
 
    1. Sđd, tr. 47.
 
 
  1. Pháp môn thin định trong Chơn lý

Trong phm vi của phn này, người viết không triển khai toàn bộ các mt tu tp ngang qua pháp môn thiền định và thiền quán, mà chỉ giới thiệu mt cách tng quan vquan điểm của Tổ sư về thiền định để khng định sự dung hóa của Tổ sư về cái nhìn và pháp hành về thiền định. Tổ sư nói: Kkht sĩ mà không cđnh là ra người kht cái. Chcđnh mới sanh hu”. Hoặc ở mt đon khác, Tnói: Ông thy giáo không định thì chết, người hc trò không định thì điên. Ai ai không định thì kh. Định là giấc ngủ ngon hay như cái chết sướng. Cho nên, định là mùi vị của các sự vic. Có định mới có thành công, không tht bi cho mi hng người.24

Pháp hc sa-di 2 (tức là phn nói về Định trong Lut nghi Kht sĩ mà các vị sa-di cn phi hc), cht liệu xây dựng nên những bài Chơn lđó, được chiết xut từ kinh điển Nam truyền. Ví d, “40 đề mục thiền định” được chia ra thành 7 nhóm: Mười đề trước mt, mười đề tử thi, mười đề niệm niệm, bn đề vô lượng tâm, bn đề vô sắc, mt đề bt đng, mt đề tưởng đều trích dịch từ 40 đề mục thiền định trong Thanh tnh đo lun (Visuddhimagga) do Ngài Buddhaghosa
  • mt trong những lun sư li lạc nht Pht giáo Nam truyền, biên son vào cui thế kỷ thứ IV và đu thế kỷ thứ V, ngang qua nn ngữ của Tổ sư Minh Đăng Quang. Xin lưu ý rằng, Ngài Buddhaghosa cũng không phi là nhà sáng tạo ra 40 đề mục này, mà chỉ là vị tng hợp li các pháp tu ri rác trong tam tng Pht giáo Nam truyền và các pháp hành kinh nghiệm của người xưa được truyền khu. Do đó, các pháp tu thiền định được Tổ sư giới thiệu có thể đôi chsai khác về văn tự, nhưng căn bn vn là tứ thiền hoặc ngũ thiền. Cũng lưu ý, phn tứ thiền là pháp hành thiền sắc giới được tìm thy trong kinh tng Pali. Phn ngũ thiền được tìm thy trong các bn sgii, đặc biệt là Pht giáo Nam truyền ở Tích Lan và Miến Điện.

Ngoài ra, Tổ sư không dừng li Định trong định sắc giới như Pht giáo Nam truyền thường định nghĩa và giới hn, trong khi đó Pht giáo Bắc truyền nói đến thể định của cBồ-tát và Pht sâu xa,
  1. Chơn lNhp định” (số 14).
 


vượt ngoài lý lun như Kinh Hoa Nghiêm đề cp đến thp thiền định. Do đó, Tổ sư nói: Thca đnh là võ trbao la vô cực, không không vng lng và ti đen. Tướng ca đnh là cn như không vọng động, đứng ngừng, chết ngh, trơ sựng. Dụng ca đnh là thay đi, tiến ha, an vui, gc ngvà qulinh thn thông. Lca đnh là tnhiên cn tht. Thân ca đnh là giới. Trí ca đnh là huệ. Tánh ca đnh là cn25. Cách sdng các khái niệm: th, tướng, dng, lý, thân, trí, tánh ca định chỉ tìm thy trong các bn văn kinh điển Đi thừa, mà Kinh Hoa Nghiêm và Pháp bảo đàn kinh ca Lc tHuNăng là điển nh. Hoặc đon mđu ca Chơn lNhp định, Tnói: Chơn lca võ trlà n lng. Yên lng là ltht, là huyền bí, là không vọng động, n cũng gi là cn như hay sn đáo. Đnh tức là mt, trong mt đnh cchứa linh, gc và thn. Cho n gi đnh năng sanh cn huvà giới. Đnh là chánh, lon là tà, n mới ctên chánh đnh; và cũng là cchánh mới cđnh. Chánh đnh là Niết-bàn, tâm người trli chánh đnh cn như sau khi toàn gc, gi là Như Lai hay là Pht. Thế n chánh đnh là chsanh ra tt cchúng sanh, vn vt và c pháp, mà cũng là chtrvhay chđến nghni u trí ca chúng sanh, vn vt và c pháp kia vy. Do đó, “Định” ở đây không chlà cnh giới thiền cõi sắc hay cõi vô sắc, mà chcho syên lng, thanh tnh tuyt đi, còn gọi là chơn n” ca chư Pht.

Các thut ngữ như tm sát, h, lạc, tnh đnh, trong lộ trình tu tp thiền định mà Tổ sư đã sử dng đưa vào trong bài Nhp định” và nhiều bài khác, là các thut ngữ tương đương như tm, tứ, h, lạc, nht tâm ngun gc từ chữ Pali tương ứng là vitakka, vicāra, pīti, sukha, ekaggatā. Đc các tác phm của Pht giáo Nam tông thời kỳ đu mới dịch như của Trưởng lão HTông (Vansarakkhita Bhikkhu) dịch từ tiếng Campuchia sang tiếng Việt, chúng ta mới thy những thut ngữ như tm, sát... đã được sử dng trong các bn dịch26. Ngày
  1. Sđd.
  2. Ví dụ tác phm sĩ vn đáp và triết l vnghip, tr. 61. Trưởng lão HTông ghi: Thiền định có 5 chi: 1. Tm (tìm bt đề mục thiền định), 2. Sát (suy xét đề mục thiền định), 3. Phỉ (thân tâm no vì vui thích trong mùi đạo), 4. An lạc (thân tâm an vui), 5. Định (Tâm an định vững vàng trong đề mục thiền định).
 


nay, có mt vài vị hc nhân trong Hphái cho rằng, Tổ sư dng các từ tm sát... hoàn toàn khác nghĩa với các thut ngữ tm, tứ mà bn dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu sử dng, nhm khng định Tổ sư đưa ra mt hệ thng thiền mi. Theo người viết, Tổ sư cũng theo cách “bình cũ rượu mi, để diễn đt trạng thái tứ thiền của thiền quán (Vipassanā) hơn là tứ thiền thuc thiền chỉ (Samatha), mà trạng thái thiền chỉ chỉ đt đến tâm định tương đi và còn b mt khi các ác pháp tn công mãnh liệt. Điều này không phi mt mình Tổ sư Minh Đăng Quang chủ trương mà Ngài U. Pandita (Sayadaw) là mt thiền sư ni danh, đệ tử của Thiền sư Mahasi ở Miến Điện cũng đã lý gii như vy. Trong tác phm Ngay trong kiếp sống này (In This Very Life)27, Thiền sư U. Pandita phân biệt rõ vc tng định trong thiền chc tng đnh trong thiền minh sát. Trong cách hướng dn của Ngài U. Pandita, Ngài chú trọng đến c tng định trong thiền minh sát28, cũng có 5 thiền chi: Tm, tứ, h, lạc, nht tâm. Do đó, cách Tổ sư nói như đon văn sau cũng chỉ là cách triển khai các chi thiền trong thiền quán mà thôi: Cn nhứt là phi biết rằng: lúc mới khởi đu thì phi TẦM SÁT là tìm xét nghĩa lý. Hiểu nghĩa lri mới có H, chri mới cLC, clạc ri mới có TỊNH, ctnh ri mới cĐỊNH. Về sau hết nghĩa lđtm sát ri, tức là gc ngộ hết pháp nơi nh thì chcòn hlạc tnh đnh, lâu sau nữa chcòn lạc tnh đnh, và sau rt là còn đnh và xả, xả và đnh. By gicái hc sẽ từ nơi yên lng mà ra, và từ nơi cnh ngoài mà đến thêm, thêm mãi, tức là gii thoát, đã đến bbên kia, Niết-bàn, hết luân hi khnão. Vy nên sơ đnh là tm sát, h, lạc, tnh, đnh. Nh đnh là h, lạc, tnh, đnh. Tam đnh là lạc, tnh, đnh. Tứ đnh là tnh, đnh và sẽ đến đnh xả là đc đo, đc

Chúng tôi đưa ra chú thích này nhm giới thiệu cho người đọc sự tương đng về thut ngữ tm sát giữa Tổ sư Minh Đăng Quang với các vị tiền bi trong giới dịch thut Nam tông và qua đó cũng cho thy sự khác nhau trong dịch thut với các thut ngữ khác.
  1. Đây là tác phm gối đu giường cho những hành giả tu theo trường phái niệm thân do ngài U. Pandita hướng dn ti Miến Điện và nhiều quốc gia trên thế giới.
  2. Các thut ngữ in nghiêng trên đều trích từ tác phm Ngay trong kiếp sng này, được thiền sư U. Pandita sử dng (do sư Khánh Hỷ dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ). Đc giả xem chương 5 của tác phm.
 


chơn ngã, chtể, kết qu29.

Nói tóm li, Tsư Minh Đăng Quang xiển dương pháp tu thiền qua Chơn lNhp định(s14) dựa trên sự nhn thức và tu chứng ca Ngài, vượt n trên và vượt ra khi giới hn ca mt trường phái. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thkhng định là pháp tu này là sdung hòa chyếu trên nn tng thiền truyn thng Pht go Thượng tọa bvà lý tánh ca Pht go Đi thừa.

6. Sự dung hòa giữa các quan đim Pht giáo Nam truyn, Bphái và Bc truyn


Mặc dTổ sư có khuynh hướng theo Thượng tọa bộ trên hình thức và phương pháp tu tp, cũng như sự thể hiện rõ nét ngang qua giới lut và pháp nhp định trong Pháp hc sa-di 2 (Định)30. Tt cả pháp số trong quyển này từ trang 123 đến 147 là các pháp svề thiền định của Pht giáo Thượng tọa b. Mun hiểu rõ về các pháp cái này, chúng ta có thể tham cứu cun: Đường o thiền học (Pháp Chánh Định) & u tp pháp31 ca ngài HTông srõ.

Phn tiếp theo từ trang 147 đến 177 là Pháp hc sa-di 3 (tức phn Niết-bàn) gồm tt cả pháp liên hệ đến nhn thức và pháp quán để đon trừ phiền não, chứng đắc Niết-bàn đều là các pháp snm trong phn thứ 3 của Thanh tnh đo lun kinh điển Nikaya. Tuy nhiên, vn có mt spháp số thuc các bphái được đưa vào: Tam thp địa (thp địa Thanh Văn, Thp địa Duyên Giác và Thp địa Bồ- tát); Lục độ (Bố thí, trì giới, nhn nhục, tinh tn, thiền định, trí huệ); 7 quả pháp (Nhp Lưu, Nhứt Vãng Lai, Bt Lai, Vô Sanh, Duyên Giác, Bồ-tát, Như Lai); 3 giáo (Đn go, Tiệm giáo và Quyền giáo); 4 Niết-bàn (Hữu dư Niết-bàn của bậc A-la-hán, Vô dư Niết-bàn của
  1. Chơn lNhp định” (số 14).
  2. Cách dng từ này dựa vào Lời nói đucủa Lut nghi Kht sĩ, và tra cứu li các n bn Chơn lcũ. Trong Lut nghi Kht sĩ, các vị đã bmt các cụm từ Pháp hc sa-di 1, Pháp học sa-di 2” và Pháp học sa-di 3” vì có lẽ cho rằng đó là pháp hc cả đời cho tt cả hành giả, không riêng đi với Sa-di. Tuy nhiên, cácn bn mới cũng nên để độc lp từng phn bng cách sang trang khi qua phn mới để cho hc nhân vsau biết đó là mt quyển Chơn ldo Tổ sư son.
  3. Do Nhà xut bn Thành phHCMinh n hành năm 2002.
 


bậc Bích-chi, Đi Niết-bàn của bậc Bồ-tát, Vô thượng Đi Niết-bàn của bậc Như Lai).

Như đã nói ở đoạn trên, Tsư Minh Đăng Quang không những chp nhận Lut Tứ phần ca phái Dharmaguptaka, mà còn chp nhận Bồ-tát giới kinh (biu hin cụ thể nht vLut ca Đi thừa Pht giáo). Do đó, trong Lut nghi Kht sĩ, sau phần Bồ-tát giới, Tsư đã viết mt schi pháp liên hệ đến tiến trình tu tp ca Pht giáo Đại thừa, mà ở đây chỉ nêu tựa đca các pháp cái đó: Ba tụ giới, Mười pháp thế giới hải (nhận thức luận Pht giáo về thế giới), Pháp thp tr(Phát thú tâm), Pháp thp hạnh (Thp trưởng ỡng tâm), Pháp thp hi hướng (Thp kim cang tâm), Pháp thp địa, Pháp thp nhẫn, Pháp thp nguyện, Pháp thp thiền định. Tt cnhóm pháp này đều nằm trong kinh Hoa Nghiêm và mt skinh điển Đại thừa khác; Mười hai bkinh (nhiều bộ phái và Đại thừa chp nhận).

Các khái niệm và ni hàm của Ngũ un, Lục căn, Thp nhị nhân duyên, Bát chánh đạo... được các lun sư của cả hai truyền thng nỗ lực gii thích và phân tích trong các lun sớ, nhm làm sáng tỏ lời dy của Đức Thế Tôn để dt dìu chúng sanh từ cõi ác trược đến cõi Niết- bàn. Tổ sư cũng không ngoài quỹ đạo này. Ngài cũng gii thích, diễn đt theo văn nn và tư tưởng của mình. Những quan điểm của Ngài vừa phhợp với cổ điển, và đôi khi cũng rt đc lp, sáng tạo, cũng là lẽ đương nhiên của mt vị Tổ sư.

Điểm đáng lưu ý, trong hệ thng tư tưởng của Ngài là chp nhn quả vị Thanh Văn (4 đạo và 4 quả) và khen ngợi quả vị Thanh Văn ở nhiều đon trong Chơn lý, nhưng vn chp nhn tư tưởng và quả vị Bồ-tát ngang qua mt số đon trong Chơn lvà 13 nấc thang tiến hóa của chúng sanh được thể hiện trong 13 tng tháp nơi thPht: Lục phàm (địa ngục, ngạ qu, súc sanh, a-tu-la, nhân, thiên), tứ thánh (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán), tam tôn (Duyên Giác, Bồ-tát và Pht).

Khái niệm Bồ-tát” được thể hiện rt rõ trong Chơn lKht sĩ” (số 11). Ngài cho rằng Kht sĩ” có 3 bậc: Kht sĩ Thanh Văn, Kht
 


Duyên Giác và Kht sĩ Bồ-tát. Nhưng, Bồ-tát” ở đây chỉ cho mt vị có nhn thức chín chn, đúng đn và tương đi đủ đy của mt vị sp thành quả Pht, có tinh thn độ tha rộng lớn và sự hy sinh cao thượng:Kht sĩ Bồ-tát là những bậc thy go ngi trên, chng bao githiếu ht, cũng ví nvua trời, vua người, là bậc Tổ sư go chủ, vì mun n lòng cao trọng, vì mun chứa đức thêm nhiều, vì mun khuyên lơn hàng vương giả, vì mun phc lòng thiên hạ, vì theo sự gii thoát trung đo, vừa làm gương Tăng chúng, vừa đđi đứng khp nơi công bình, vừa tìm duyên hóa đ, vừa đlàm quen dn dĩ đến gn cho kthp thi nhnhoi...”. Trong phn Giáo hi Tăng-gKht sĩ” thuc Lut nghi Kht sĩ, Tổ sư có nói đến tui của mt vị Kht sĩ chn chn, khong 60, vững vàng kinh nghiệm tu hc, là tui đi go hóa cchúng sanh32.

Không ñng vy, các khái niệm, danh hiệu, tên kinh nPht tánh, Chơn n, Quan Thế Âm, Đi Thái Thức, Pháp Tng, Vô Lượng Cam L, “Đa Tng, Pháp Hoa... đều là các khái niệm, danh hiệu, tên kinh rt quen thuc trong kinh điển Đi thừa được Tsư sdng và gii thích hết sức đc đáo qua các bài Chơn lý đc lp. Ngang qua vic gii thích đó, Ngài nói đến thực tính tâm và tiến trình tu tp, đưa hành givvi thực tế đời thường đchỉ pháp tu ngay trong cõi ta-, ngay trong cuc sng hiện ti, không thiên trng vlnghi, tín nỡng, cu cúng mơ vọng hão huyền. Ví dtrong phn Giáo hi Tăng-già Kht sĩcó đon: trong giữa Giáo hi kêu gi là nhp thai trong bông sen. Ngay sau đó, Tsư mở ngoặc đơn và gii thích ngay: Chính hoa sen là Giáo hi Tăng-già, ngôi vcủa đức Bồ-tát hay Pht, là giáo chủ. Giáo hi Tăng-già lớn tòa sen ln33.

Trong Chơn lVô Lượng Cam L” (số 46), Tổ sư lý gii kinh A-di-đà bng pháp lý, không phi bng sự tướng, nghĩa là mượn nn tay để chỉ mt trăng, mượn bóng để chỉ hình. Sau đây là mt vài đon điển hình mà T lý gii:
  1.  
  1. Lut nghi Kht sĩ, tr. 49.
  2. Sđd, tr. 48.
 
 
    • By lớp lan can báu, nghĩa là by lớp giới lut qu báu, tht tgiới 243 điều trong Giới bn Tỳ-kheo.
 
    • By lớp lưới báu, nghĩa là by giới diệt tnh.
 
    • By hàng cây bồ-đbáu là by Pháp bảo chánh gc bồ-đề.

-Vy thì by lp lan can tht tụ là Pháp bảo ca thân. By lớp lưới diệt tránh là Pháp bảo ca ming. By lp chánh giác hàng cây là Pháp bảo ca ý; by giác ý này là cây bồ-đ, chỗ tâm ngồi tu an tr, mỗi ngày được no đ, che đy, nương dựa cho chư Tăng Thánh chúng đó.
    • Ba thứ y đều cby món báu cn bọc chung quanh, nghĩa là lan can, lưới và cây báu y cra là do by báu: Bố thí, nhn nhc, tinh tn, trì giới, thiền đnh, trí huệ, chơn ncn bọc un đúc tạo thành.
 
    • Trong đó cao tht bo là đo tràng chứa đựng by món báu, nước bát ng đức là pháp lBát thánh đo. Đáy ao cát bằng vàng là rt ráo sâu xa yếu lcủa pháp, là quý báu như vàng từ chút từ lời. Bn phía bờ ao bằng vàng bc, lưu ly, pha lê là bn bc thánh pháp hiệp li thành đo, Pháp bo của bc NLai là chơn nnhư vàng, của bc Bồ-tát là trí huệ như bc, của bc Duyên Giác là thiền định n lưu ly, của bc Thinh Văn là trì gii npha lê. Mt đt cát vàng là gii lut nền tảng mt đt, tmquý báu như vàng. Lu các bằng châu ngọc xung quanh là những nhóm giáo hi nhỏ ở xung quanh ngoài đo tràng, Tăng chúng y nrường cột nóc nền của lu các quý báu. Đo giáo nnhà lu, ktu học cthp cao ln nhđhạng là lu c đhạng.

Trong Lut nghi Kht sĩ, phn Giáo hội Tăng-già, Tsư mô tvà lý gii cnh giới Tnh đnhư sau: Chính gii lut Tăng-già là xTây phương Tnh th, Cực lc an ỡng ca chúng sanh, là thế giới tinh thn hay vn ngc quý giữa cõi trn, cũng là trường hc Ta-bà ca võ tr, chiếc thuyn bè giữa biển, hay nhà an lc nơi giữa chv.v... Trong đclan can, lưới, cây quý báu, đo tràng nao, pháp Bát chánh như nước, go lý như cát vàng, lẽ chánh đng chánh gc như mt đt u ly, tứ chúng như mé ao, c bậc trí hu
 


như hoa sen, chơn lý sáng như hào quang, sging gii nói ra na hoa tn rưới, cõi sáng rỡ quang minh chánh thiện, kng chút đen ti ác tà, tiếng dli thô kng c(...) Mi ngày cgirung khua là nhơn duyên ging lun đo lý, tiếng pháp nhiệm mu, thanh tao hay diu hơn cả nhc trời. By bậc gc ngộ như chim nói pháp. Nơi cõi y chbiết cPht Pp Tăng, dân chúng niệm mãi kng nhàm. Tưởng ăn căn là đúng giđến buổi, vừa nh ra là đã ckhbát cúng dâng. Tưởng mc cmc là mãn năm áo rách, vừa nhra là đã đến kỳ đổi thay áo. Muốn tm ti đâu cnước dâng lên tới đó, là muốn thm nhun đo lý, tm nước pháp ti đâu, có người xi dy, dâng cho ti đó34.

Có thnói, tt cả sự tướng trong kinh điển Đi thừa được Tổ sư lý gii theo chiều hướng triết hc Đi thừa” đưa về thực ti cuc sng, ngay nơi cõi tâm, cnh giới chúng ta đang sng, Pháp và Lut mà chúng ta đang hành trì để đưa đến đạo quả Niết-bàn ngay trong hiện ti.

Thay lời kết


Phật go Việt Nam trước thi Đức Tsư Minh Đăng Quang hành đạo là mt trong những thi kđen ti nhất trong dòng chảy Phật giáo Việt Nam. Và đó cũng là thi kxuất hiện nhiều đng minh triết vi nhiều li tu và tư tưởng nhm cứu vãn nền văn hóa, văn minh tâm linh ca mt dân tc. Trong xu hướng ca nhiều nước trên thế giới như Tích Lan, n Đ, Trung Quc, Nhật Bn, Thái Lan, Miến Điện, phong to Chn ng Phật go Việt Nam do các T, Thiền sư khi xướng như quý Hòa thượng: TPhong, Khánh Hòa, Khánh An, HuQuang, TuPháp, Thanh Thái, Thanh Hanh... đvạch li con đường a cũ mà chư Tđã dày công khai vẹt.

Tsư Minh Đăng Quang có cách rng ca Ngài, tuy không là tnh vn ca những tổ chức hi đoàn ký kết bằng văn bản Chấn ng Pht giáo, nng là mt tnh vn xut sc tht s trong lịch
  1.  
  1. Sđd, tr. 55-56.



sChấn ng Pht giáo Việt Nam, mở ra mt sinh lộ mi cho Pht giáo Việt Nam bằng cách tnh lp: Đo Pht Kht Sĩ Việt Nam” vi chí nguyn Ni truyn Thích-ca Cnh pháp, thp n ngn đuc Chơn lý, soi sáng cõi đời bằng mt nh thái Pht giáo mi, dung hp những tinh hoa ca hai truyn thng Pht giáo cđiển có mt tại Việt Nam, to nên mt bản sc văn hóa Pht giáo Việt Nam rt đặc thtgiáo lý đến pháp phục, kiến trúc,... mà trong bản tham luận này, vì khuôn khổ giới hạn ca đtài không thể trình bày toàn diện.

Rt mong được cTôn đức Giáo phm, Giáo sư, hc giả và toàn thể cử tọa hoan h.




 

TÀI LIỆU THAM KHO

 
  • Tổ sư Minh Đăng Quang, Lut nghi Kht sĩ, TP. HCM, Thành hi Pht giáo TP. HCMinh, 1993.
 

- Lăng-già Đi thừa kinh (D.T. Suzuki dịch từ Phn sang tiếng Anh, Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện và Cư sĩ Trn Tun Mn dịch sang tiếng Việt), TP. HCM, Nhà xut bn TP. HCM, 1998.
  • HTông (dịch), Đường vào thiền hc – Pháp Chánh đnh và sưu tp pháp, TP. HCM, Nhà xut bn TP. HCM, 2002.
 
  • HTông (dịch), sĩ vn đáp và triết lv nghiệp, TP. HCMinh, Nhà xut bn Hng Đức, 2013.
 
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây