27. SOI CHIẾU NĂM ĐIỂM "CHƠN LÝ" VÀO KINH TẠNG NIKAYA

Chủ nhật - 09/09/2018 10:44
SOI CHIẾU NĂM ĐIỂM "CHƠN LÝ" VÀO KINH TẠNG NIKAYA
TT.TS. Minh Thành Ủy viên Thường trực HĐTS GHPGVN Giáo phẩm Hệ phái Khất sĩ
 
  1. LỜI MỞ ĐẦU

Bài tham lun này dựa trên nn tng ca gn 20 bài viết vChơn lca cùng mt tác giđã đăng ở tp san Đuc Sen, vì vy những ý tưởng cnh đã từng được trình bày đâu đó trong những bài viết trên. Ngun trích dn chủ yếu là Kinh tng Nikaya và tác phm Chơn lca Tsư Minh Đăng Quang. Ni dung bài viết như tựa bài đã đưa, so sánh mt sđiểm có liên quan giữa Chơn lvà Kinh tng Nikaya, nói rõ là m điểm. Ti sao phải là m? Năm điểm được chn có liên quan đến nhiều vn đca giáo lý nhà Pht, cthlà liên quan đến cba phần trong khung giáo lý căn bn Giới - Định - Tu. Người viết sung sướng nhận ra rằng cuc nh trì o thế giới ca Chơn lđưa người viết ttvnày đến tvkhác, cm ki này đến cm ki khác, mc dthot đầu người viết chkhi sc những bước chân đầu tiên vi tâm trạng ca mt người đi làm nghĩa v, đi làm bn phận mà thôi. Đọc bài Đc Chơn lý Võ trquan1 t người đc có thnhận ra điều này. Người viết xin sdng lời cui ca phần mđầu này đcm ơn các bậc tiền nn đã giáo ỡng, những sai lm hay sơ tht, nếu có, là trách nhiệm rng ca người viết, mong được các bậc thức githlượng và chgiáo.
    1.  
    1. Hphái Kht sĩ, Đuc Sen, số 1, Nxb. Tôn go, 2008, tr.30.
 
 
  1. NỘI DUNG CHÍNH
 
    1. Đim thnht: Ging gii vThập nhnhân duyên

Mđầu Chơn lThp nhnn duyênlà đon: Nhơn duyên sanh ra cõi đời, cmười hai pháp, hằng chuyn níu nhau mãi, do đchúng sanh mi có, mi kh, và ri sau khi ckhlà tấn hóa hay tiêu diệt.

Vô minh sanh ra hành, Hành sanh ra thức,
Thức sanh ra danh sc, Danh sc sanh ra lc nhập, Lc nhập sanh ra xúc,
Xúc sanh ra th, Thsanh ra ái, Ái sanh ra thủ,
Thsanh ra hữu, Hữu sanh ra sanh, Sanh sanh ra tử.
Ttr li vô minh mà luân hồi quanh qun chu khnhc2.


đây người viết xin bàn đến phương thức ct lõi trong mi liên hgiữa các chi nn duyên vi nhau. Nếu đặt mười hai chi nn duyên theo s, ts01 đến s12 thì chi s01 sanh ra chi s02 và tun tnhư thế chi s11 sanh ra chi s12. Vòng tn khép kín khi chi s12 sanh ra chi s01. Đây là mi liên hdựa trên từng chi mt. Giáo lý Pht giáo nói chung, đặc biệt là dng giáo lý phát triển, thì ngoài mi quan hcái này sanh cái kia, chi này sanh ra chi kia theo trật tshc, nó còn phát triển mi quan hmang tính thi gian: quá kh, hin ti và tương lai. Cách ging

2. Minh Đăng Quang, Chơn lý, tp 1, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2004, tr.79-80.
 


gii mang yếu tthi gian có tên là Tam thế ỡng trùng nn qu(TTLTNQ). Trong cách ging gii này, 12 chi không còn là 12 đơn vrng lmà được tp trung tnh 3 nhóm thuc 3 thời khác nhau. Cách ging gii TTLTNQ hp dn và được ưa chung ở chnó gii tch rõ mi liên hnn quba đời, mà cách gii tch phi tuyến tính vmt thi gian, đơn lvà đơn gin ca Pht giáo thi kđầu không có được. Ở đây, chúng ta thy mt điều tv, tuy xut hiện cách nay trên dưới 65 m, thế mà Chơn lli ưa chung cách ging gii cđiển phi tuyến tính vmt thời gian, cái này sanh ra cái kia mà không nói gì đến yếu tthi gian. Như vy tiêu ngữ: Ni truyn Thích-ca Chánh phápca TMinh Đăng Quang, vi ý ng trvvi nh nh Pht Tăng xưa, không chphản ánh ở phương thức nh trì tu tp và nh đạo giáo hóa, mà cũng phản ánh ở phương thức nhận thức và triển khai giáo pháp.

Còn có thêm mt cách gii tch nữa không chia 12 chi Nn duyên theo thi gian mà chia theo ba nhóm: Hoặc - Nghiệp - Kh, được tóm tt theo bài ktrong tác phẩm Nhkhóa hiệp gii:

Vô minh, Ái, Th: Tam phin não (Hoc) Hành, Hữu, nhchi thuc nghiệp đạo (Nghiệp) Tùng Thức chí Thtịnh Sanh Tử.
Thất chi đng danh nhứt khqu(Khổ).

Xin tm dịch:

Ba điều phiền não: , yêu, ly; Hai cái: làm, có là nghiệp nn; Tbiết đến chu, sng và vong,
Chung kêu qukhgm by phần.

Tr li đ tài, người viết thy rng giáo lý TTLTNQ, nói mt cách cht chẽ, vn thuc giai đon hai ca dòng phát triển Pht pháp. Đi o cnh giới ca giai đon hai, thi thong chúng ta
 


cũng nên dừng li mt nhp đtrvcnh giới ca Pht pháp giai đon mt, cnh giới Pht pháp đầu ngun.

Bạch Thế Tôn, cho đến mức đo là vừa đđnói: Tỷ-kheo thin xo vduyên khởi?

- Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sc, danh sc duyên lc nhập, lc nhập duyên xúc, xúc duyên th, th duyên ái, ái duyên th, thduyên hữu; hữu duyên sanh; do duyên sanh lão tử, su, bi, kh, ưu, não sanh khởi...3.

Trong cnh giới đầu ngun, người đc nhận ra rằng 12 nn duyên ca Kinh tng truyn thng được trình bày tun ttừng chi phần, chi phần trước làm nn duyên đsinh khi chi phần sau, cho đến chi phần chót là Tử, sau chi phần Tlà mt snh dung tđịnh tính là lão, su, bi, kh, ưu, não. Như vy, trong Kinh tng, giáo lý Thp nhnn duyên không hpn đon hay pn nhóm, không hđặt định ra bn giới ca kiếp trước, kiếp hiện ti hay kiếp tương lai. Vic pn đon nhóm hay đặt định ra ba thi chxy ra trong Lun tng hay Sgii mà thôi. Điều này ni m mt vài điều:


Thnht, vn đnm ở chi s12 tử. Như trên đã nói, chi s12 không xut hiện rng lnhư 11 chi khác mà có những định tính chung quanh, cthlà lão (đứng trước) và su, bi, khổ, ưu, não (đứng sau). Khi đưa yếu tthi gian o, cthlà yếu ttương lai, thì có vn đxut hiện. Cái tương lai chmang tính giđịnh, không thực, không chắc, chcó tính cht lý thuyết thun túy, nên đt cái đuôi tu cực su, bi, khổ, ưu, nãogn o cái ở trong tương lai là thiếu cht chvnguyên tc lun lý. Hơn nữa, tương lai ở trong khong thi gian ca kiếp này, theo lun lý, thì đã mang tính cht giđịnh, không có thực, không

3.   http://www.lotusmedia.net/unicode/TrungBoKinh/trung115.htm
 


chc chn, hung gì là tương lai ở kiếp sau, đời sau, 25 kiếp sau, 2 triệu kiếp sau.

Thhai, tt ccác mc ch và từng mc ch trong giáo lý Thp nhnn duyên theo cách miêu tca Kinh tng vì không pn đon nhóm, không đặt định o ba thi, nên đều nằm trên mt nn tng bình đẳng vi nhau. Mt khi các lun giđẩy mt smc ch o trong quá kh(những cái đã qua, đã rồi, đã quá khkhông truy tm... quá khđã đon tn”), và khi các lun giđẩy mt smc ch o trong tương lai (những cái gì ca có, ca c lp được, tương lai không ước vng) có nghĩa là các lun giđã phá vỡ tính bình đẳng nn tng mà trong đó các chi phần được xếp đt. Và, nghiêm trọng hơn là vic to nên tình thế: Cái quá khlà cái đã rồi, cái tương lai là cái không vi tay tới được. Hơn nữa, nhcăn bn bình đẳng này mà ddàng thiết lp quan điểm triết hc sâu sc hơn: Cái này nằm trong cái kia. Điều này dn đến điều thba.

Thba, cái tương lai là cái ca có, mà cái ca có không thnào làm nn hay làm qucho cái đã có. Thế mà giáo lý Thp nhị nn duyên, nếu hiểu mt cách vn dung thì bt cmt chi phần nào đều làm nn và làm duyên cho tt ccác chi phần còn lại.

Tnhững điều đã được trình bày ở trên, người viết có thtm kết lun rng phương thức gii tch TTLTNQ hữu dng ở phương diện: xây dựng mt không thi gian tuyến tính có tính căn bn, ước l, và thông tục. Trên nn tng không thi gian tuyến tính này, mà giáo lý TTLTNQ dùng 12 chi Nn duyên phác ha ra được bức tranh nn quni kết cba đời hay ba kiếp: quá kh, hiện ti và vlai, cũng có nghĩa là ni kết nn qunhiều đời nhiều kiếp, nhiều đến ni phải dùng tvô lượng vô s. Dvy, TTLTNQ vn thuc vgiai đon phát triển sgii và lun tng.

2. Đim thhai: Thái đcủa người tu đi với tham dc

Ti đcăn bn ca mt nh giPht giáo đi vi tham dục
 


được diễn đạt sc nét trong Chơn lý, người viết xin trích đầy đủ như sau:

Lc căn thanh tịnh tức là sáu căn trong sch, vì loài người csáu căn: mt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý: thin là trắng, ác là đen, không không là trong sch, cclà dơ bn, lc trn là chất bi, dính vào khrửa phi cho ra. Đóng bi dơ thì ngp kh, nhiễm vật chất mới chết, mi ác hung. Lc trn như nm m, lc căn trong trn nthây ma, lc thức như dòi tửa. Loài thú thấp hèn cho loài người là sung sướng vi sc tt, tiếng thanh, mùi thơm, vngt, vật êm, đkhéo. Trái li loài người đã quá khchán ri mi thấy trn là dơ dính khchùi, vì nmà tham, sân, si, đc ác; ở trong ncon người vi thú in nhau. Người ta mun lên cao, Trời, Phật bi đã kinh nghiệm, được hc, nên xa lánh cõi người, dứt blc căn, qt sch lc trn, tránh xa lc thức, làm Trời, Pht, vui sướng, nhnhàng chc tht. Lấy tinh thn làm vật cht, lấy đạo llàm sđời, mi là trong sạch4.

Sau lot định nghĩa vi những đng tlà, tức là, Chơn lchuyn sang lot định tính bng phương pháp so sánh vi đng tnhư”: Lc trn như nm m, lc căn như thây ma, lc thức như dòi tửa. Cách định tính này thhiện mt ln nữa cách nhìn khinh miệt ca Chơn lđi vi trn – thức – căn, nht quán với cách định danh Lc trn là chất bi” ở trên. Người đc có thtìm thy ngun gc ca ti đkhinh miệt đi vi các vngtca trn gian ở trong Kinh tng truyn thng. Nói cách khác, ở điểm này Chơn ltrung tnh vi ý tưởng cnh trong Kinh tng truyn thng và lp li ti đkhinh miệt này ca Kinh tng truyn thng bng những tngữ khác mà thôi. Cn ghi nhận rng Kinh tng không nói rng l trn, thức và căn mà nói chung ba pháp này trong mt từ: dc. Dc có thđược hiểu là stương tác hot dng chung ca trn – thức – căn theo chiều hướng đm nhiễm ca pm phu.

Kinh Ví dcon rn (Alagadpama sutta) thuc Trung B
 


Kinh kli câu chuyn vmt vTỷ-kheo tên Arittha có quan điểm cho rng hưởng thcác dc không có trngi gì cho vic tu tp nên được các Tỷ-kheo bn khuyên can như sau: Hin giả Arittha, chnói như vy, chxuyên tc Thế Tôn. Xuyên tc Thế Tôn là không tt. Thế Tôn không cnói như vy. Hin giArittha, Thế Tôn đã dùng nhiu pháp n thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thdụng chúng tđbchướng ngi. Thế Tôn đã thuyết c dc vui ít, kh nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết c dc được ví như khúc xương... Thế Tôn đã thuyết c dc được ví như một miếng tht... Thế Tôn đã thuyết c dc được ví như bđuc ckhô... Thế Tôn đã thuyết c dc được ví như hthan hừng... Thế Tôn đã thuyết c dc được ví ncơn mộng... Thế Tôn đã thuyết c dc được ví như vật dụng cho mượn... Thế Tôn đã thuyết c dc được ví như trái cây... Thế Tôn đã thuyết c dc vng được ví như lò tht... Thế Tôn đã thuyết c dc vng được ví như gậy nhọn... Thế Tôn đã thuyết c dc được ví như đu rn, vui ít khnhiều, não nhiu và do vy, nguy hiểm càng nhiu hơn5.

đây, Chơn lđã bsung cho ti đtrên bng cách diễn thai tâm trạng khác nhau ca loài tvà loài người đi vi 6 loi trn là sc tt, tiếng thanh, mùi thơm, vngt, vật êm, đkhéo. Đi vi 6 trn này, loài tthì ước ao, còn loài người t nm chán mà hướng đến cõi Tri, cõi Pht. Đi tượng ca ý căn thường được gi là pháp trn, ở đây đi tượng ca ý căn được định danh là đkhéo. Người đc cm thy tvkhi tđkhéovừa có tính cht mi lso vi bthut ngữ Pht hc phthông, vừa gn i vi những cái cthsinh đng trong đời sng bình dca con người. Ai mà không nhận ra skhéo léo ca người thmay thhiện trong chiếc áo, ca người thmc trong cái bàn, ca người ni trtrong bữa m sum hp gia đình. Ai mà không nhận ra skhéo léo ở cp đcao hơn trong những bức danh ha có giá trtriệu đô, skhéo léo trong những tác phẩm điêu khắc hay kiến trúc bậc thy, trong những áng văn, bài thơ, nhc điệu

5.  http://www.lotusmedia.net/unicode/TrungBoKinh/trung22.htm
 


bt h. Đó cnh là pháp trn đang làm say đm lòng người, nói theo Chơn llà đang làm say đm ý căn ca con người. Tht ra, pháp trn không chlà skhéo léo ca người thmay, thmc... nhạc, ha hay thi ca, mà còn là skhéo léo ca những nhà kiến to ý tưởng, xây dựng ki niệm, đxướng hc thuyết... và những thtrừu tượng khác. Tt c, theo Chơn lý, đều là đ chơi ca đứa con nít ý căn.

Đi vi các thnhư sc tt, mùi thơm, vngon, vt êm t Chơn lđịnh tính tâm trạng ca loài tlà ước ao, định tính tâm trạng ca loài người là nm chán. Cách nói như vy có thhiểu là Chơn lngm chê trách những người còn ước ao đi vi sc tt mùi thơm, vì đó là tâm trạng kém phát triển ca loài thú. Chê trách như vy có cực đoan và bt cn nn tình hay không là chuyn khác, và cn nhiều t mực hơn đminh định.

Khi các dc hay shot dng ca bba trn – thức – căn pm phuđược định tính là thây ma, là nm m, là dòi tửatrong Chơn lý; là khúc xương, là gậy nhọn, là đu rắntrong Kinh tng thì squyết liệt vượt thoát là tt yếu. Chơn lđã thhiện squyết liệt vượt thoát này bng những từ: dứt b, quét sch, tránh xa. Ri quyết liệt hơn nữa với: sát, trm, diệt.

Người viết cm thy tch tvà không thkhông viết thêm rng trong văn mch bừng bừng cm tính ca sát – trm – diệt như vy, văn phong ca đùng đùng trống trn, ca chiến mã sa trường như vy, mt chữ thìtht to, chuyn bt ngxy ra. Giọng văn êm du như ttrong hu cnh xut hiện và đan xen o, thấm đm tính cht ttn nhnng, giọng văn y được dùng đkcâu chuyn mt cu hc trò nhu mì, chăm chht bt, không có gì xut sc đáng biểu dương, cũng không đến đi ở li lớp. Cu ta nhẩn nha xut hiện trong mt khung cnh thanh bình: ...như hc trò lên lp, sng mc thường bn dài, yên vui hơn cái tham lam thái quá ri bất cp, đã không ri mà khmãi6. Điều này cho thy hu cnh ca Chơn lvn là mt trạng ti đạt đạo,
 


tnh giác, thư ti và an hòa.

3. Đim thba: Ging gii vChánh nim

Người viết cm thy ngạc nhiên vì tn xut xut hiện và ý nghĩa phong pca chữ Cnh niệmtrong Chơn ls5 Bát chánh đạo, và xin trích dn đầy đtheo trật tnhư sau:
  1. Chánh nim đo, là con đường tưởng nhchánh”.
 
  1. Chánh nim đo, là tưởng nhcon đường chánh”.
 
  1. Chánh niệm: là niệm tưởng Pht, niệm tưởng Pháp, niệm tưởng Tăng, niệm tưởng chúng sanh kh, đtìm phương tiện cứu độ”.
 
  1. Chánh niệm: là nhchắc các tướng trong thân thlà vô thường, kho, vô n. Ghi nhrằng: cái thvui hay cái thkh, những slành, những sác, các danh tvà sc pháp trong thế gian đu là vô thường, kho, vô n, không tham sân si, dc vng, luyến ái.”
 
  1. Chánh niệm là đạo thoát khca ktà niệm”.
 
  1. Chánh niệm là nhơn, sanh ra chánh định là qu”.
 
  1. Mun đắc chánh định, thì phi thật hành chánh niệm”.
 
  1. Ai mun cchánh định yên, thì phi cn cchánh niệm. Nhniệm tưởng ghi nhmột điu phi nào đó, m ta mi định nghyên chơn như được”.
 
  1. Chánh niệm đạo là cnh gii ca bc Bồ-tát (giác hữu tình giáo hóa)”.
 
  1. Chánh nim là pháp ca bc Bồ-tát”.

Ngoài tần xut mà chữ cnh niệmtrực tiếp xut hiện, còn có những đoạn diễn giải trực tiếp liên quan đến cnh niệm, cthể như: Sniệm tưởng chơn chánh, niệm tưởng việc qua ri, việc hiện ti, và việc sđến, phi ghi nhớ điu răn dy, hng ngó mt xuống mt chỗ tâm chơn, không cho vng đng, không quên lđo, cho hp
 


lchánh chơn tht.7 Những trích dẫn ở trên có thể là những cánh cửa sổ mở ra đcho chúng ta thy tầm quan trọng ca cnh niệm trong ngôi ngiáo nghĩa ca Chơn lý.

Trong nPht nói chung, bt ktruyn thng nào đều có đề cp đến cnh niệm, nht là những sơn môn chuyên tu thiền định. Về phương din tu tp, cnh niệm có mi liên quan hữu cơ vi tt cnhững dạng thiền tp khác nhau, tthiền Tnh chSamadhi đến thiền Minh sát Vipassana, tthiền Tniệm xcho đến Tbi quán, thậm chí các dạng Tsư thiền khác nhau. Cnh niệm trong Kinh tạng truyn thng là mt yếu tố chlực, yếu tố trung tâm ca vic thiền tp, là ni lực ca thiền tp.

Xin mở ngoặc nhc lại mt chuyn bên l. Có mt lần ngi chung xe vi mt Tăng sinh, vy nói: Người tu thin thì ngoài thời giờ công phu chính thức, thi gicho những sinh hot còn li đu ở trong trng thái cn định. Người viết cảm thy tch thú và cho rằng cận định trong câu đó là chcho trạng thái cnh niệm, hay đặc biệt hơn là thân hành niệm.

Chúng ta hãy xem Kinh tng truyn thng đcao tn nh niệm, mt dng ca chánh niệm như sau: Như một ai, này c Tỷ-kheo, vim biến mãn cùng khắp bin lớn, cthbao gm tất ccon sông bé nhđvào bin c, cũng vy, này c Tỷ-kheo, ai tu tp, làm cho sung mãn thân hành niệm, cũng bao gm tất cthiện pháp, gm những pháp thuc vminh phn. Hay Cmt pháp, này c Tỷ-kheo, được tu tp, được làm cho sung mãn, đưa đến cm hứng lớn, li ích lớn, an n ln khỏi c khách, chánh niệm tỉnh giác, đưa đến chứng đắc tri kiến, đưa đến hin tại lc trú, đưa đến chứng ngquminh và gii thoát. Mt pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm8. Theo người viết, đó là lý do nn tng ti sao sơn môn tp trung chuyên co chánh niệm, ly chánh niệm làm ct lõi cho công phu tu tp.



7. Sđd, tr.102.
  1. http://www.lotusmedia.net/unicode/TangChiBoKinh/chuong01.htm#16
 


Đến đây người viết có thtm kết lun rng: Cnh niệm trong Kinh tng và trong Chơn lđều có vtrí ct lõi, đặc biệt là vphương din công phu tu tp. Tm kết như vy không có nghĩa là có stương đng hoàn toàn, trùng khp hoàn toàn. Sau đây là mt trong những điểm có tính cht định tính và pn ch sâu sắc trong Kinh tng mà Chơn lkhông có được.

Diễn gii vBát chánh đạo (BCĐ), Kinh tng có đon: Ai tinh tấn đon trtà kiến, thành tựu chánh kiến; như vậy là chánh tinh tấn ca vị ấy. Ai chánh niệm đon tr tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm ca vị ấy. Nvậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm9. Đọc tiếp chúng ta sthy rng đon kinh trên lp li cho tt cả 5 chi BCĐ đầu tn gm Cnh kiến, Cnh tư duy, Cnh ngữ, Cnh nghiệp, và Cnh mạng. Như vy có ba pháp nói chung, hay cthlà ba chi BCĐ quyết định vic tu tp có tnh công hay không, đó là Cnh kiến, Cnh tinh tn và Cnh niệm. Người viết xin đnghmt cách nn qua minh d, Cnh kiến như đèn sáng, Cnh tinh tn như ý chí, và Cnh niệm như sức khe. Đi vi mt nh gitrên con đường tu tp thì đèn sáng, ý chí, và sức khe là ba điều kiện, ba phương tiện tn quyết đvic tu tp tiến triển đúng tiến đvà đạt đến chtnh tựu tt đẹp nht.

Kinh tạng Nikaya ctrng m là giác ng, là gii thoát, là dit tận khđau, đạt đến cnh gii Niết-bàn theo hình thái hay cơ chế người giác ngtrước, kgiác ngsau; và vì vậy mà mnhạt đi vi tinh thn tích cực hành hoạt ca Bồ-tát trong snghiệp nhập thế, giáo hóa, tận đáy xã hội, thm chí ở nhng vực thm ca xã hội. Danh t Bồ-tát thường chcho bn thân Thái tSĩ Đạt Ta trên con đường m cu chân lý. Kinh tạng hphát trin đã chuyển trng m tvic giác nggii thoát sang vic cứu đđng loạt với phương châm cùng nhau giác ng, không trước không sau, thm chí người đứng ra cứu đvđến nơi đến chốnsau người được cứu
  1. http://www.lotusmedia.net/unicode/TrungBoKinh/trung117.htm
 


đ10. Và vì vy mà mnht đi vi tinh thần tu tp ttn; cthể, tchánh niệm ít được đi gn vi chữ Bồ-tát. Mt điều đáng chú ý và đi vi người viết là mt trong những điểm hp dn ca Chơn llà, không những tchánh niệm được đi gn Bồ-tát, mà còn là đạo, là cnh giới, là pháp ca Bồ-tát, như đã được ghi li ở đon trích thứ 9 và th10 trên đây.

Nhìn tng quát về 10 đon trích từ Chơn lở trên, chúng ta có thể thy rng giữa lý tưởng tu tp tự thân và lý tưởng cứu độ tha nhân, có sự thng nht và điều hòa nơi tự thân của hành giả Chơn l. Và vì vy, mt ln nữa chúng ta thy phương thức khai tông lp giáo của Tổ sư Minh Đăng Quang là sự kết hợp hài hòa tinh hoa của cả hai truyền thng lớn của Pht go, Nam truyền và Bắc truyền với phương châm bt hủ:

Cái sng thì phi sng chung; Cái biết thì phi hc chung; Cái linh thì phi tu chung11.
4. Đim th: Giảng gii vChánh định

Chơn Ldiễn đt Chánh định như sau: Sự yên nghchơn chánh trước khi nhp đnh; đang nhp đnh, sau khi nhp đnh, phi giữ sự yên lng, ngừng nghtt cmi việc, quyết đnh không sanh, bt thi, không rời bđo chánh, nhứt đnh không xao lãng, không đi dời, hng nghngơi yên vui sau sự thiện huệ, cho hp lchánh chơn tht12.

Trong Kinh tng truyn thng, chánh định không thuc vnhóm tư tưởng đạo đức (NTTĐĐ) cũng không thuc vnhóm công c(NCC)13, không chia tnh hai loại, hữu lu và vô lu.
  1. Điều này phn ánh qua câu nguyện của Tôn giả A-nan ghi trong đon khởi đu của thn chú Lăng Nghiêm: Nnht chúng sinh vthành Pht / Chung bt ư thử thNê-hoàn. Kinh Đa Tng Bn Nguyện lp li nhiều ln lý tưởng này.
  2. Minh Đăng Quang, Sđd, tp 3, tr.368.
  3. Minh Đăng Quang, Sđd, tp 1, tr.102.
  4. Hphái Kht sĩ, Đuc Sen, tp 20, TP. HCM, Nxb. Tng hợp TP. HCMinh, 2013, tr.28.
 


Như vy, chánh định có những đặc điểm rất rng và có mi liên hkhá đc đáo vi những chi BCĐ còn lại. Trvđầu ngun của kinh Pht, chúng ta cùng tng li đon kinh do Tôn giSariputta thuyết ging được ghi li trong Trung BKinh, kinh Phân biệt vStht, s141 (Saccavibhanga sutta) như sau: Này chư Hiền, thế nào là chánh định? Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo ly dc, ly ác bất thin pháp, chứng và trú Thin thnht, một trạng thái hỷ lc do ly dc sanh, vi tầm, vi tứ. (VTỷ-kheo ấy) dit tầm, dit tứ, chứng và trú Thin thhai, một trạng thái hỷ lc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất m, (Tỷ-kheo) ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cm slc thmà c bc Thánh gi là xniệm lc trú, chứng và trú Thin thba (Tỷ-kheo ấy) x lc, xkh, dit hỷ ưu đã cm thtrước, chứng và trú Thin thtư, không kh, không lc, xniệm thanh tịnh. Này chư Hiền, như vậy gi là chánh định14.

Qua đoạn trích trên chúng ta có thể thy rằng Kinh tạng truyền thng mà cthể là Tôn giSariputta miêu tcnh định là dạng thiền Samadhi, hay còn gi là thiền tnh chỉ, hiện nay ít phổ biến khi so vi dạng thiền phổ biến rộng rãi Vipassana, hay thiền Tứ niệm xứ. Tại sao? Có thể tạm trlời là vì thiền Samadhi là loại thiền chuyên sâu dành cho những đi tượng mun giải thoát rốt o, đt đến những qu vsiêu thế. Thiền Samadhi không tch hp vi đại đa số người tp thiền ngày nay, tp thiền vi ý mun đt được điều mà mt đạo sư có thể gi là dạng tinh tế ca chủ nghĩa duy vt tâm linh, mt cm từ mà Chogyam Trungpa nhc đến knhiều lần (5 ln) trong tác phẩm Hành trình không chỗ đến - Trí tuệ mt truyền ca Đức Pht15. Chủ nghĩa duy vt tâm linh bao gm ý hướng thu hoạch được những lợi đắc do vic tu tp nói chung hay tp thiền nói rng mang li, cthể như thiền đxbt stress, thiền đthân thể khe mạnh, thiền đtinh thần minh mẫn, thiền có thể là để hc gii hơn, đlàm thơ hay hơn; nói chung là thiền đsng tnh công
  1. http://www.lotusmedia.net/unicode/TrungBoKinh/trung141.htm
  2. Chogyam Trungpa, Journey Without Goal - The Tantric Wisdom of the Buddha, Shambhala Publications, Inc. Massachusetts 1981, tr.147.
 


hơn, làm ra được nhiều tiền hơn, khe khoắn hơn, thậm chí là sung sướng hơn về nhiều phương din, trong đó có những phương din không liên can gì đến đời sng tâm linh mà nPht chtrương.

Như chúng ta đã biết, trong Chơn lý, Cnh định được miêu tlà: gisyên lng, ngừng nghỉ tt cả mọi việc, quyết định không sanh, bt thối, không ri bđạo chánh, nhứt định không xao lãng, không đổi dời, hng nghni yên vui sau sự thin hu. Điều mà chúng ta có thể ghi nhận trước tn là ở điểm này, Kinh tạng Chơn lđều không lường được chủ nghĩa duy vt tâm linh tinh vi và đa dạng ngày nay. Tht ra, từ ngày xưa, nPht đã chng lại chủ nghĩa thực dng tâm linh thô phác, bằng những giới điều khng chế vic ct giữ hơn ba y, hơn mt cái bát... vi mc đích duy trì mức độ rnh rang, mức đgiải thoát cao nht cho người xut gia. Cnh định trong Chơn lchcho thái đkhẳng quyết, thái đbt di bt dịch, thái đkiền thiền miên mt đối vi lý ng giải thoát. Lý ng này ly hng nghni yên vui sau sự thin hulàm phương cm, làm nn tảng, làm kim chỉ nam. Từ phương châm này phát triển tnh nguyên lý: Trước khi làm là định, sau khi làm là định. Trước khi nói là định, sau khi nói là định. Trước khi nghĩ ngợi là định, sau khi nghĩ ngợi là định16. Theo Chơn lý, đây là phương thức hành đng ca bậc chân nhân giải thoát. Nói cách khác, điểm nhấn hay trọng tâm ca Chơn llà định, là cnh định, trong khi trọng tâm ca chủ nghĩa duy vt tâm linh lại là đt được những cái mà kinh điển gi là lợi đắc và danh ng mang tính trần ai tc ly. Tchtrương lợi đắc danh ng mà nh tnh nên nguyên lý hay thói quen: Trước khi làm là tính toán chuyn slàm, sau khi làm là tính kế hoạch làm tiếp và làm hơn, còn cái chuyn nghỉ ngơi hay thong dong hơn là chuyn rnh rang, chlà chuyn bt đắc dĩ và chvì không làm ni nữa mà thôi.

Mt khác, Chơn lchtrương rằng cnh định chcho svững ci, an trú, bt đng trên con đưng tu tp, còn gi là con đường đạo vi đoạn đã dn: gisyên lng, ngừng nghỉ tt cả mọi việc,
  1. Minh Đăng Quang, Sđd, tp 1, tr.356.
 


quyết định không sanh, bt thối, không ri bđạo chánh, nhứt định không xao lãng, không đổi dời. Như vy cnh định là mt phẩm cht, mt tính cách, hay mt tố cht mà mt hành giả phải có, phải cng ctrên đưng tu. Cnh định, không những chcho cái cần phải tu ỡng mà còn chcho cái kết quả ti hu ca vic tu ỡng, đó là trạng thái mà Chơn lgi là hng nghni yên vui sau sự thin hu”.

Khi đc lại đoạn Chơn lý: Trước khi làm là định, sau khi làm là định. Trước khi nói là định, sau khi nói là định. Trước khi nghĩ ngợi là định, sau khi nghĩ ngợi là định, chúng ta vi mt chút hiếu kcó thể đt câu hi: Chữ làmtrong cm ttrước khi làm, sau khi làmtheo Chơn llà làm cái gì? Hay, mun trước khi làm và sau khi làm đều là Định thì khi làm phải làm chuyn gì? Và làm như thế nào? Đgiải đáp câu hi này, trước hết xin trlời bằng mt thut ngữ nPht, đó là Duy tác, tức là làm mà không to nghiệp. Chỉ làm những gì không to nghiệp thì sau khi làm mi an trú trong Định và ngay ckhi đang làm thì hành gicũng vẫn an trú trong cnh giới cận định. Đáp án thứ hai có thể là, trong khi làm là cnh định thì trước khi làm và sau khi làm slà cnh định. Nếu đáp án thnht và thứ hai nh như là quá kđi vi mt phàm Tăng hay mt phàm phu thì đáp án thba có thể dành cho mt vTăng thực hành y bát: Trong thực tế cuc sng ca mt vKht sĩ thời Pht, công vic hằng ngày là đi kht thực, thọ thực, thuyết giảng Pht pháp, đi thiền hành... và sau những chuyn đó thi gicòn lại hu như là thiền định hay thiền quán. Đcó thể áp dng trong mt cuc đời thế tc hơn thì đáp án thtư có thể slà: Trong thế giới trần tc đa đoan ngày nay hành gicần chn những công vic nào thuc về Cnh nghiệp và Cnh mạng, tránh xa các bt thiện pháp, thanh tnh được thân khu ý thì trước và sau khi làm slà Định. Trong thế giới thâm trầm ca thiền gia, đáp án thứ năm được gi n qua câu chuyn nthiền như sau: Có mt vthiền sinh tỏ ra không vừa lòng vi vic hành trì hàng ngày, vi vic m áo gạo tiền, mi đến tham vấn vthiền sư hi: Ngày ngày, cứ phi mặc áo, ăn cơm, làm thế nào để khỏi phi mặc áo ăn cơm?Vthiền sư trả
 


lời: Mặc áo ăn cơm. Những đáp án thsáu xin nhường cho đc githam gia thêm o.

Điều chót nng không kém phần tinh túy là tìm hiểu và nêu n tính cách chđạo trong cái nn cChơn lđi vi cnh định. Chúng ta có thể thy rng cnh định trong Kinh tạng truyền thng thường được đt trong  mt  khung  cnh  gần  như  tách  biệt hẳn vi thế giới đời thường, không liên quan gì vi những sinh hot ca trần gian tc ly: Lựa mt chỗ thanh vng, tịch mch như rừng, gc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi kht thực về và ăn xong, vy ngồi kiết già, ng thng ti chỗ nói trên...17. Trong khi đó Chơn llại đt cnh định vào trong mt thế giới năng đng gần i vi xã hi, vi cng đng con người. Khi nói nghni yên vuilà gi n rng trước đó hành giđã làm vic gì đó và vic làm đã làm cho hành gicảm thy mệt nên chuyn sang thi gian nghỉ ngơi. Đây chính là điều vắng mt trong thế giới ca Kinh tạng truyn thng. Sau sự thin hu” gợi cho chúng ta thy rằng công vic mà hành gilàm trước đó phải là vic thiện và qua vic thiện hay song song vi vic thiện trí tuệ phát sinh. Vic thiện huđó cthể là vic gì? Ở đoạn trên chúng ta đã bàn tạm đủ. Ở đây chúng ta chxâu kết lại những gì đã bàn đcó thể nêu n tính cách chđạo trong cái nn ca Chơn lđi vi cnh định. Đó chính là sự hài hòa, giao thoa giữa vic tu tp tthân và những hot đng mang tính hoằng truyn Pht pháp phổ đnhân sinh. Yêu cu thực tế ca ngày nay là, công vic hoằng truyn Pht pháp phải làm song song vi công vic tthiện xã hi, đôi lúc đi sau chuyn tthiện xã hi. Nói cách khác, đó là sự tu tp tthân giữa nhn nhp ca dòng đời đđt được cái chuẩn chí thiện ca nhà Pht là lợi nh, lợi người và lợi cả hai, xin tạm gi tt là chun tam li (CTL). Xin chú ý, CTL ở đây về mt hàm nghĩa không khác về căn bản nng cũng không hoàn toàn ging vi CTL trong Kinh tạng truyn thng vì đã mang thêm tính cht xã hi, tương tch với sự phát triển ca xã hi hiện đi. Trong xã hi hiện đi, hu như đã không còn chỗ đcho mt vdu sĩ tha phương hành cước và thiền
  1. http://www.lotusmedia.net/unicode/TrungBoKinh/trung27.htm
 


định theo phong cách cđi. Thi đó vdu sĩ tha phương không những blại sau ng tt cnhững trách nhiệm và quyn lợi ca mt người xã hi, mà còn có thể blại sau ng luôn ctrách nhiệm và quyn lợi ca sứ mạng, trực tiếp và chđng thuyết giảng chân lý, trực tiếp và chđng cxúy điều lành.

Đến đây, trong chừng mực nào đó, chúng ta có thđi đến nhận thức rng mch sng ca Chơn lvươn đến hai ng: mt hướng là nlực trvhay có thnói là soi nh o cnh giới tinh tuyn ca giáo pháp trong thi kđầu ca đo Pht, mt hướng là vươn đến mt xã hi nơi đó tinh hoa ca đo Pht hiện diện hay tiềm n như mt tnh phần, mt phẩm cht ca mt xã hi lành mạnh, mt xã hi ca chân, thiện và m.

5. Đim thnăm: Nguyên nhân sinh khởi

Tthi cđi, con người đã đặt câu hi: Con người tđâu mà có? Trước thi Pht, nn tư tưởng u vực sông Hng đã nh tnh và phát triển mt đáp án cho rng: Đấng Phm Thiên đã sáng to ra thế gii và vũ trnày. Sau đó nhiều trăm m, nn tưởng khu vực Trung Cn Đông cũng đã nh tnh và phát triển mt đáp án khác cho rằng: God sáng to ra thế gii này. Dưới ánh sáng ca những svt và hiện tượng, ngày nay vi nhiều phương tiện hiện đi con người phát hiện ra được, thì những cái mà những nn văn minh c đi gi là sáng to càng lúc càng phải cgng tbảo vệ, nhằm chng li những đáp án mi trên nền tng là những phát hiện cthvà kiểm chứng được18.

Dbn ca mt câu chuyn krằng, nếu bn đi ngang qua mt sa mc hoang vu tình cthy có mt con chíp điện tử, nếu bn là người có đầu óc thì bn phải hiểu rằng cái con chíp đó không phải tnó có mà do mt người sáng to ra. Rt tiếc nếu
  1. Cụ thể nht của vn đ, con người từ đâu mà có, thì ngành nhân chng và khảo cổ với những bng chứng không thphn bác đã kết lun rng con người dưới dng homo erectus hay homo ergaster sau đó là homo sapiens vài triệu năm về trước đã xut hiện, chứ không phi năm by ngàn năm như những tín điều cổ đi do những tôn giáo chế lp ra.
 


dừng ở đó, người có trí smỉm cười và khai thcái đầu óc non nt ca bn mà nói rằng: Bn ơi, bn nên hiu rằng con chíp đkhông phi do một người mà cra, như ch mà bn nghĩ đâu”. Vâng, thế giới và vũ tr, vn vt và con người trong vòng tn vn nh sinh sinh diệt diệt, diệt diệt sinh sinh trong mt biển tương tác đan xen phức hp ca những yếu t, làm sao chấm o đó mt điểm rồi gi là điểm đầu mi, tđó sáng to ra những điểm tiếp theo sau. Cái stht đơn gin và đầy tính khai phóng thênh thang như vy, nng ngày nay nhiều tngười vn không được to điều kiện đnhận ra, vn sng vi những đầu óc bgiới hạn, cc bvà nguy hiểm.

Trlại chđề nguyên nhân sinh khi, githiết rằng vt cht ban đu tcái Big Bang là vô , thì câu hi trong mt phạm vi hẹp hơn là, làm sao đthế giới vô cơ như đt đá st thép lại sản sinh ra được mt đơn o hữu cơ rồi phát triển tnh thế giới hữu cơ. Thế giới hữu cơ mi sản sinh ra mầm mng nhận thức và bóc ca con người chính là cơ quan nhận thức tiến hóa cao nht, tiến hóa đến chỗ tinh vi nht, tinh vi đến đthế giới tinh thần dần dần nh tnh và càng ngày càng phát triển cho đến ngày nay. Tóm li, hữu cơ tđâu mà ? Các nkhoa hc hàng đu ngày nay dường n vẫn chưa có mt đáp án hoàn toàn tha đáng liên quan đến nguyên nhân ban sơ này.

Điều tvlà Chơn lđã đưa ra câu chuyn tiến hóa, lng trong đó là nguyên nhân ban sơ vi phong cách xuất phát rất trực quan như sau: Kìa ta thấy trong không chơi, trong hơi cnước, trong nước cđt, trong đất c lửa, trong lửa cgió, gilà hơi. Bn thứ ấy nương sanh lấy nhau, làm thành cái Có ở trong cái Kng, còn cái Kng ở trong cái tnhiên. Tnhiên là hết nói lun!19.

Cái Có mà Chơn lnêu ở trên vn ca thy nh bóng ca sự sng hữu , kn nhẫn đc tiếp Chơn lngười đc sgp đon: “Đất nước vn sn cmm sng. Lâu ngày đất sanh nhựa chm

 
  1. Minh Đăng Quang, Sđd, tp 1, tr.7-8.
 


i, lâu biến sanh rcây20. Như vy, theo Chơn lđất vô cơ thời nguyên sơ qua m dài tng rộng, đất làm duyên sn sinh ra dng hữu cơ đầu tn là rcây vi giai đon trung gian là đất sanh nhựa chmi. Tht ra đất sanh nhựa chmichlà cách nói tóm tt ca mt quá trình tiềm n tinh tế hơn trong vai trò làm nn duyên cu ni giữa hai thế giới vô cơ và hữu . Cái tiềm n và tinh tế đó được Chơn lgi là thvà m. Thọ ở đây chcho ssng, và m ở đây chcho m ca đt. Cnh thvà m làm nn làm duyên đsanh ra nhựa chỉ; nhựa chlàm nn làm duyên đsinh ra rcây, Chơn lnói: Kìa như sc m: Đt, nước, lửa, gió, sanh thlà ssng, m ca đất sanh nhựa ch, nhựa chđất nước sanh r(cây)21.

Ri khi vấn đchuyn tiếp từ vô cơ sang hữu , Chơn llại có mt hướng khác đtiếp cận vấn đề nguyên nhân sanh khởi ngang qua khái niệm hành trong hành un. Khái niệm hành trong hành uẩn hàm nghĩa to tác, được Chơn lvận dng đ luận giải về nguyên nhân sanh khi hay nguyên nhân ban sơ như sau: Hành là cái m của tđi, tc là slăn xoay di đi, rung đng, nóng lnh, sáng tối, tương đi, lâu ngày sanh ra thức, biết ssng ln ln22. Đây chính là cách tiếp cận rt truyn thng và rt quen thuc ca Pht giáo: Hành sanh thức. Chơn lhu như chđưa thêm khái niệm sự sng o đtạm làm mt ct mc đánh du điểm khi nguyên ca sinh th. Cái thức ban sơ là cái thức nhận ra chính nó, nhận ra sự sng ca nó. Cnh cái thức ban sơ này làm cho cái thế giới nht nguyên bị phân ra làm hai, cái sng tng thể và cái sng ca rng nó. Cái sng này dần dần to tnh cái mà nPht gi là Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Th gi, nói chung là mt dạng chp thủ hay niềm tin o mt dạng linh hn theo mt kiểu nào đó. Chơn lgọi cái sng đó là thức.

Trong quyn Chơn lLc Căn, tuy trn và căn theo cách nn ca Chơn lđều nghiêng vtính cách vt cht, nng đây

20  Sđd, tr.28.
  1. Sđd, tr.21.
  2. Sđd, tr.54.
 


không phi là loi vt chất  có  tính  máy  móc  trơ  trọi  thuc  thế giới vô cơ mà đã mang sc thái ca loi vt chất hữu cơ như rcây, c, thú. Tuy là hữu cơ nng vn là vt cht. Cái sng cao cấp mang sc thái tinh thn hay linh hn phi là cái khác. Cái đó là gì? Tđâu phát sinh ra? Chơn lnói: Cái sng hay cái biết kêu là thức23. Ở đây Chơn lkhông đặt vn đcái thức tđâu ra, mà chthong thc định cái thức nm ở đâu: Cái sng hay cái biết kêu là thức, thức ở giữa trần và căn, nên gi : Trần sanh thức, thức sanh căn24.

Các c định này gián tiếp nói rằng thế giới là vô thy vô chung, không đầu đuôi. Thy hay chung, điểm đầu hay điểm cui, nói cho cùng là những thdo đầu óc con người thêu dệt ra rồi áp đặt o những thmà con người thy, nghe, hay tiếp nhận được; rồi bàn tán dựa trên những thmà đầu óc con người thêu dệt ra, mt mạng lưới chằng cht không li thoát. Nói gn, con người tranh biện dựa trên cái không có nn tng, cái không phải là thuc tính ca đi ng tranh biện. Phương tiện ngôn ngữ hay ki niệm cũng không có liên can gì vi bn tn của đi ng. Nếu gi là có liên can, thì cái sliên can đó cũng li do con người to ra. Nói thêm mt chút, trong thế giới tư tưởng những người có trí và lương thiện từng nhận thức được rằng con người to ra đấng sáng to chkhông phải đấng sáng to to ra con người.

Soi chiếu Chơn lo trong Kinh tạng truyn thng, chúng ta thy đon: Chư Hiền, do nhơn con mt và các sắc pháp, nhãn thức khi lên. Sgp gcủa ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cm th. Những gì có cm thọ thi có tưởng, những gì có tưởng thi có suy tm, những gì có suy tm thì có hlun. Do hlun y làm nhơn, mt shlun vọng tưởng ám nh mt người, đối vi các sắc pháp do con mt nhn thức, quá khứ, tương lai và hin ti25. Rõ ràng, mt là căn, sc là trn. Ở giữa căn và trần sinh ra mt chui những
  1. Sđd, tr.54.
  2. Sđd, tr.54.
  3. http://www.lotusmedia.net/unicode/TrungBoKinh/trung18.htm
 


chức năng vận hành kế tiếp mang tính cht tinh thần. Và, kết qulà cái thức khi lên, cthể ở đây là cái nhãn thức khi lên. Kinh tạng truyn thng rõ ràng cũng không hề đcp đến mt khi điểm Big Bang nào đó. Câu kinh trên cũng nói rằng, nhãn thức đã sinh khởi trên nn tảng là căn và trn. Như vy, chúng ta có thể c định rằng Kinh tạng truyn thng và Chơn lcó mức đthng nht vi nhau rt cao về vấn đề nguyên nhân sinh khi. Skhác biệt hu như chỉcách diễn đt mà thôi.
  1. THAY LỜI KT

Khi dùng chữ soi chiếu trong tựa đ, người viết đã cố ý né tránh dùng những ttrực tiếp hơn như so sánh hay đi chiếu. Nếu dùng đng tso sánh hay đi chiếu, vô tình có thđã mặc nhiên đặt hai đi ng Kinh tng truyn thng và Chơn lvào cương vđng đẳng vi nhau. Làm như vy là bt kính đi với Kinh tng truyn thng và không phù hp vi Chơn lý. Dùng từ soi chiếu, người viết mun diễn đạt n dmt bên là khuôn mt, mt bên là cái gương. Chơn llà khuôn mt, Kinh tng là cái gương. Đưa Chơn lsoi o Kinh tng đnhận ra bn tn, tức đem cái phát triển soi bóng o cái ci ngun đcái phát triển có thnhận ra mức đtrung tnh ca nh đi vi ngun ci, đng thi ý thức được những gì là mi mvà sáng to, là đcp nht và sức sng, thậm chí ý thức được chhay, dở, tn, khuyết ca bn tn. Muôn đời, muôn thuở, Kinh tng vn cnh là mu mực, cnh là ánh sáng, là định hướng, là diện mo ca giáo lý nhà Pht.

Mt khác, nếu gượng hiểu soi chiếu có nghĩa là so sánh hay đi chiếu, thì ở đây người viết cm thy rằng nh không tht sự so sánh, không tht sđi chiếu theo phương thức hay quy cách cht chkhoa hc mà phần nào đã mượn vic so sánh đi chiếu đdiễn đạt nhận thức chủ quan ca bn tn vChơn lvà Kinh Tng truyn thng. Cây đời vn màu xanh, còn những quy trình, quy cách, hay phương thức li là những cái mang màu xám ca định đt, ca ước l, ca tha thun trong mt phạm vi nào đó.



Mt trong những đặc điểm ca Chơn llà vượt qua khi những cái ttúng mà mra mt thế giới khác, người viết phần nào bnh hưởng bi phong cách như vy nên làm công vic soi chiếu như người đc đã thy ở trên. Những gì trong bài viết không đáp ng được yêu cu, không đáp ng được những tiêu chí, có những sai lm, xin chư vđc gi mỉm cười thlượng cho.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây