26. VÀI QUAN NIỆM PHẬT HỌC TRONG BỘ "CHƠN LÝ"

Chủ nhật - 09/09/2018 10:22
VÀI QUAN NIỆM PHẬT HỌC TRONG BỘ "CHƠN LÝ" của TN. Liên Chúng - Tịnh xá Ngọc Túc – An Khê – Gia Lai
Vào những thp niên 40 của thế kXX, bt ngun từ hai tông phái lớn của Pht giáo là Nam tông và Bắc tông, Đức Tổ sư đã cht lc tinh hoa từ hai tông phái này để hình thành nên mt hệ tư tưởng mang đm tính dân tc bởi hình thức tu hc, phương pháp hành trì, kiến trúc đạo tràng thphượng… Tt cả đều đm nét Việt Nam, thể hiện được tính phbiến, gn gũi và dễ hiểu, dễ hc, dễ hành trì đi với người miền Nam Việt Nam.

Những tư tưởng chính của Tvgiáo lý, vmi vn đề của xã hi,… được trình bày rõ ràng, đy đủ trong bChơn l. Bài viết này chỉ rút ra mt squan điểm tư tưởng quan trọng, thể hiện sự đóng góp lớn lao của Tcho sự cng cố giới hnh trong Tăng đoàn cũng như truyền bá Pht pháp đến với mi người.
  1. Quan đim vvũ tr

Ngun gc của con người và thế giới theo Thiên Chúa giáo là do Thượng đế tạo ra. Truyền thuyết Việt Nam nói rằng Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ trăm trứng nở ra trăm người con. Ngun gc con người theo quan niệm của tôn giáo nht thn và của tín ngưỡng dân tc là như vy, nhưng theo Pht giáo thì ngun gc con người từ nhiều nguyên nhân: do 12 nhân duyên, do nghiệp lực, nguyện lực, do tứ đi hợp thành. Trong Chơn lVõ trquan, Tổ sư cho rằng:

Chúng sanh là tiến hoá từ đa ngc đến Niết-bàn do nhơn duyên
 


chuyền u, sanh ra từ nơi không sanh ra có, nhtới lớn, cri cmãi, không hết không ri mượn vt cht làm thân đnuôi tâm, còn thân trli tứ đi, đời kiếp không dư thiếu.

Chúng sanh chng phi lưng, Pht Thánh chng phi đy, du đến bao lâu xem ra cũng vy, tht là vũ trmênh mông mà ntuồng sp đt”.

Kìa như sc m đt nước lửa gió sanh thlà sự sống, m ca đt sanh nhựa chỉ, nhựa chđt nước sanh rccây thú, ccây cgiống là ht, thú cgiống là tinh ba mà sanh sn(tr. 21).

Vũ trnày là mt khi chuyển đng, vt trong vũ try cũng chuyển đng, như ngũ un, lục căn của con người từng giây từng phút chuyển đng không ngừng để tự hoàn thiện mình.

Ngũ un hay ngũ m cra là nương sanh bởi pháp này và pháp kia nđt nước lửa ginng lnh dung hợp sanh thcm, thm dung hợp với sc m tứ đi mà sanh tưởng m, tưởng m dung hợp với sc m thm mà sanh hành m. Hành m dung hợp với sc m, th m, tưởng m mà ny sanh thức m. Thế là ngũ m nương sanh ly nhau vì m là sanh ny giữa cái này và cái kia(tr. 25).

Lục căn cũng là mt phn trong những phn tạo nên ngun gc con người. Không có lục căn thì chưa thgọi là mt con người, vì loi nào cũng vy, thức nđu, căn nnh, trần nchân gm đba phn gi là mt th(tr. 40).

Từ chân lý sng đng về thân tứ đi của con người như Ngũ un, Thp nhị nhân duyên, Tứ đế, Tổ sư Minh Đăng Quang đt vn đề nghiên cứu về vũ tr quan. Như vy, Tổ sư không chỉ tiếp ni ánh sáng ngọn đèn của cPht mà còn làm cho ánh sáng của ngọn đèn y đa dng thêm, sinh đng thêm.
  1. Quan đim vnhân sinh

Trong Tam Bảo ti thế gian này, Pháp bảo có tác dng phá tan màn vô minh của chúng sanh, đưa người qua bkhcuc đời. Đức Pht đã để li cho thế gian Tam tng Pháp bảo Kinh, Lut, Lun là
 


nền tng để cTăng từ đó ging gii rộng ra cho hàng hu hc hiểu mt cách thu đáo và hành theo để được lợi ích. Tăng bảo thay Pht dìu dt, chỉ cho chúng sanh thy kh, con đường đưa đến khổ và con đường diệt kh.

Tổ sư Minh Đăng Quang đã lý gii về con người, về thiên nhiên qua Thp nhị nhân duyên, Có và không, Sanh và tử,… tạo thành mt chui mắc xích từ vô minh đến sanh lão tử. Và con người vì vô minh nên mãi lm tưởng cho rằng ta là trung tâm điểm, cái ta là quan trọng cn phi lưu tâm, cn phi làm trõ cái nto lớn trong ta.

BChơn llà tư tưởng giáo lý, là tâm huyết của Ngài đã để li cho đời tiếng vang ngân dài. Ngài nói rằng ng xích 12 nhân duyên từ vô minh… đến sinh tử là 12 nhân duyên của tứ đại, còn đây là 12 nhân duyên của chúng sanh.

Vô minh là thuở chưa cthai, chưa biết được, sanh ra hành là sự giao hiệp, sanh ra thức là cái biết cái sng trong thai bào sanh ra danh sc là tên gi và sc thân sanh ra xúc, xúc là scm xúc, xúc tiếp, xúc đng, xúc giác, xúc đi. Sanh ra thọ là ưa chu mun ham, sanh ra ái thương yêu trìu mến kkhác, sanh ra thủ là ly giữ vợ chng làm của rng, ích kỷ tư li thói xu, sanh ra hữu là cthai, cgia đình rng tư ctham sân si độc ác, csnghiệp, cái có do mình sanh ra, sanh là sanh con đẻ cháu, sanh thêm tội ác, nghnghiệp chơi bi kh trược(tr. 81).

Con người từ khi bt đu sanh ra thì cái ncũng đã hình thành. Cái ngã lớn theo thân tứ đại, và cái nnày khó hạ được vì bị sự cố chp qcht khiến cho tâm trí con người luôn bị vướng mắc sai lm không tự gii được.

Và trong Chơn lThp nhị nhân duyêncho rằng chúng ta ai cũng có riêng mt schp, thói quen trong 12 nhân duyên y. Vy nên chúng ta mun hết khluân hi thì tuỳ sự xét thy mình ở cửa nào hãy lui ra ở cửa đó, quay đu li là xong, chớ đừng mãi đi tới và tung luông, để chu khn họa. Nếu nm ly 12 nhân duyên đi tới thì càng vọng đng khsở, bng buông tháo trở li thì càng chơn như
 


vui sướng, miễn giác ngộ là được.

Sng giữa thiên nhiên, con người là loài hữu tình, vn vt là loài vô tình, tuy vy chúng có sự sng: Sự sống ca mi vt cũng ncái máy đồng hmỏng giây li vn, mnh ri yếu, yếu ri mnh, mi mt ln thay đi là tiến tới mt khong đường cũng như sáng mai hơn chiều nay, tiếp tới sẽ hơn đời này” (Chơn lCó và không”). Sanh và tử là hai phm trcũng như các cp phm trcó và không, sanh và diệt. Những cp phm trnày luôn hiện diện trong tư tưởng, trong cuc sng mi chúng ta. Mi con người trong vũ trụ đều chu định lut này. Bậc Pht Thánh đã thoát khi các cp phm trnày không còn trở li cõi Ta-bà. Vì vy ai còn trong ng sanh tử là còn đau kh, còn triền phược, còn bchi phi bởi sanh gbệnh chết.

Mun không xác uế thoát thai phàm, Lc dc tiêu trừ dứt mun ham”.
Lẽ sanh diệt ca tạo hoá cchi lạ, thân cũng vy mà tâm cũng vy, chnếu càng sanh mà không diệt thì xưa nay đt đâu mà chứa hết chúng sanh? Nào riêng loài người, loài thú, cây cmà sao không ai nghĩ đến mà thương xót. Làm ác giết người, thân mà còn tâm, ti li (còn ủng htheo làm những việc bt thiện), cái tâm đã chết, ht giống tâm đứt còn thân thì sau sự vay thì phi trphi đền bù bng cái chết. Thế là rõ ng nh tự giết thân tâm nh đó! Sự tht xưa nay nào ai dám nghĩ đến, hoặc nhc cho ly, nng sao ta làm ác li lo hoài và nhmãi, chnhtới mà chng tin rằng là có sự lui, trong đời đâu cltt ho tuyt đi cho riêng ta vy” (tr. 176).
  1. Tư tưởng về nhân quả và đời sống đạo đức

Trong Chơn lCông lý võ tr, Đức Tsư viết: Công lcũng tức là chơn lý, hay lChánh đng Chánh gc, Trung đạo dung hòa của võ tr. Công lnghĩa là lẽ không thêm, không bt, bng nhau, đạo lrất công bng, không chênh lệch thiên tư về mt nào. Thể của ng llà sự không lượng không biên, không cố chp, vô cực. Tướng của công llà hình thể của vn vt các căn. Dụng của công llà lut pháp giáo l tương đối biến hóa. L của công l là tự nhiên, vng lng,
 


bng thng, mát m”.

Đức Tổ sư phân tích tht rõ ràng về th, tướng, dng và lý của công lý. Công lý vốn không thiện ác, cũng không thưởng pht kẻ làm ác hay làm thiện. Chính lut nhân quả hỗ trcho công lý vũ tr. Kẻ làm ác chu quả báo xu, người làm thiện được quả báo tt lành.

Tổ sư dy tiếp rằng: Cũng lm kcho rằng không ccông lnên tha hlàm ác phi chịu tai ha, chính công llà mt sức mnh huyền bí chkhông phi quyền thế sức mnh là người ta ai ai mà lm kli áp dụng đhiếp đáp người nng đã là công lnbng theo nh, ktrèo cao té nng, người xo trá li được bình yên mãi đâu? Đi đu mới biết nh tht bi, tự nh hi ly nh, không than trách vy nên ta nhrằng trong đời chng cai hơn và chng cai thua cthy, sau trước vn bng nhau mà thôi(tr. 129).

Như thế, Đức Tổ sư đã nhắc nhở, làm người sng chung hòa hợp với nhau, hiểu rõ lý lẽ công bng chi phi vn vt, hãy biết sợ nhân quả, đừng tạo oán thù, ganh ghét hi khổ ln nhau, biết sám hi ngăn ngừa mi ti li là sng đời đạo đức.
  1. Quan đim về mt xã hi an lc, thanh bình và đạo đức

Xây dựng xã hi hòa bình, an lc là yếu chỉ ca nhiều tôn giáo. Về mt tinh thn, nhiều tôn giáo chtrương xoá bsbt bình đng giai cp con người mở ra con đường đạo đức cho nhân loi. Pht giáo ly tâm làm nơi khi điểm và cũng là nơi dừng chân cui cùng. Khi tâm buông xả hai phm trù đi đãi thường tình, niềm an lạc, hnh phúc tự nhiên có mt. Mt xã hi người người biết buông xả, không bao lâu hoà bình, hnh phúc stràn ngp trong từng nhà, từng góc ph. Tsư Minh Đăng Quang đã khng định điều y bng stri thân thực nghiệm. Nếp sng ca người kht sĩ p phn xây dựng xã hi trong mi phương diện. Tsư đã xoá bỏ mê tín tà kiến xưa, đem ánh sáng trí huca Giới Định Tutô điểm cho xã hội, con người. Thi khc tu tp ca Tăng đoàn là mt bài hc đxã hi noi theo. Đời sng cTăng thanh tnh nhẹ nhàng không bon chen tranh đua vi đời, vượt ra ngoài ng đi đãi ca thế gian, làm mô
 


phm cho nhân loi. Giáo lý kht sĩ là tiếng chuông cnh tnh gọi chúng sanh giác ng: Cõi bình đng về sc thân không ai hơn kém, chdùng đức hnh làm cây thước để đo trình độ thp cao. Trong đo cthy ssống như nhau, mt tiếng kht sĩ như nhau, cõi không nh pht, không quyền, không tr, ch c mt sự dy mà tt cđược yên. Giữa lúc cõi đi chết kh, kht sĩ là cht nhựa sống gn lin các khi chia rriêng . Kht sĩ là con đường chơn lý võ trụ, đúng theo trung đo, ánh sáng, không thiên về mt bên lề mé. Kht sĩ tượng tng giáo lý đi đồng” (tr. 471).

Nếu trong xã hi, con người tuân thủ theo pháp lut, giữ gìn kỷ cương phép tắc để đời sng cng đng không rơi vào tình trạng bt an, xung đt, thì nhà Pht nói chung, Đạo Pht Kht Sĩ nói riêng, ngang qua giới lut cũng góp phn cng cố đạo đức, cng xây dựng mt xã hi yên bình, m no, hnh phúc, bớt trộm cp, rượu chè, tà hnh. Đơn cử là năm nguyên tắc đạo đức:
    1. Không nên sát sanh hi mng người, thú cùng cây to hay c nh.
 
    1. Không nên trm cướp, giựt mượn không trả ca người ta.
 
    1. Không nên dâm dc, lếu quy nam nữ đực cái với nhau.
 
    1. Không nên nói di, chửi ra với nhau, hay khoe khoang đâm thọc.
 
    1. Không nên uống rượu, cùng tham lam, sân gin, si . (tr.376)

Tổ sư còn dy rằng: “Bây gimi khắc qua là mi trái tim cùng đp mnh, dù chúng nchưa biết phi học cái chi… đã biết rng khi o đri thì không còn những sự lo ăn chơi, không còn chiến tranh nhau, không còn tự do ác quy mê chơi, nơi chhọc với cái tiếng học, cái học sẽ đánh đcái ăn cái ác, cái tranh cái tham cái chơi tt cả, cái học cũng như bức tường, ncn đường hết thy cnhững ngn githì những lá cây không còn dao động, cái tiếng học nthng tt cả sự hơn thua mê mui, người ngó ngang nơi cái học làm mc đích là sẽ không còn tham sân si chi nữa hết, thế giới tt sẽ bình yên” (tr. 378 ).

Chp tự ngã là mt chướng duyên lớn nht và nguy hiểm nht đi với con người trên đường đi đến chân thiện m. Chúng cng với
 


nmn, tt đ… cu kết nhau làm cho con người phát triển theo chiều hướng bt thiện. CPht ba đời và cTổ đều dy chúng ta dẹp bỏ cái ngã, diệt trừ nmn, kiêu căng, phi tp tánh khiêm hhái.

Trong sự học cn phi biết tự cao là dt nát, vì mình tự cao là mình sẽ không còn học thêm và cũng chng ai dám dy mình nữa, mà chính mình phi tập khiêm nhường mới mong tn hoá được(tr. 380).

Mt đời sng lành mạnh thanh tnh và hoà hp sđem đến lợi ích thiết thực không chcho nh mà còn cho người, cho chi. Đi sng đạo đức ca chư Tăng trở nên mt biểu tượng cho sđông quy nỡng, bi lgiữa cnh đời bon chen ti li, nếp sng vô ngã vtha snhen nhóm ngn lửa ấm áp cho mi người, biết nhận ra chân giá trđích thực ca cuc sng, không có gì tn tại bn lâu ngoài phước đức và trí tuệ vô lu. Ca cải tài sản thế gian là ca năm nhà vn mang tính vô thường, luôn biến đi, không bn vững, ch có tài sản xut thế là hằng hữu. Quy y Tam Bo, tinh tấn tu tp, Giới Định Tuệ phát sanh mi xa lìa được ba đường kh. Tài sản phước đức y không ri xa người đã giác ng, biết tu to công đức lành. Làm tăng trưởng tài sản y giúp xã hi ngày càng thịnh vượng và hòa bình hơn.

Li sng của Tăng chúng Đạo Pht Kht Sĩ vn luôn noi theo li sng gii thoát mang li lợi lạc cho mình cho người như sự hành trì của Tăng đoàn thời Đức Pht còn ti thế:
  1. Chiều 5 gitới 7 gitu tnh ngnghỉ, hoặc gc cây vườn rừng, hoặc chùa am hang cc tutheo phương tiện.
 
  1. Sớm mai kht thực theo đường dài xóm làng thành thị.
 
  1. Bui trưa đcơm.
 
  1. Xế chiều thuyết pháp, ging đạo cho tứ chúng.
 
  1. Đi đến mi nơi trình sổ Go hi Du tăng và chương trình cho nhà đương quyền ti đó.
 
  1. Tuỳ tin dc đường giúp ích pháp thí cho những sbt hoà,
 


những nơi nhóm đông hữu scùng xin phép ging đo khuyến tu, c nơi bnh viện, đlao, công s, nhà đương cuộc, tông go, đng phái v.v…

Đời sng thường nhựt của Tăng đoàn hoàn toàn thanh tịnh, an lạc, by nhiêu đó đủ để làm mô phm cho trời và người hc tp. Sự thanh bn gin d, thiểu dục tri túc luôn là phương châm sng của người hành hnh Kht sĩ. Mi phương tiện sinh hot ăn, mặc, ở, bệnh đều từ thiên nhiên, từ bá tánh, không có gì là của ta, thế nên người Kht sĩ ở đâu cũng được, tự ti gii thoát, nơi gc cây vườn rừng, hang cc hay chùa am cũng hoan h, không lưu luyến chp giữ về mình. Người Kht sĩ hành pháp kht thực bình đẳng không phân biệt nghèo giàu, thọ thực vừa đủ không phân biệt ngon dở, mi thời đều luôn tinh tn giữ giới hnh, nghiên tm đạo lý, thuyết ging giáo pháp, xoa du ni đau bt hnh, bt an của chúng sinh.

Go lKht sĩ phi là tiếng chuông cnh tnh ngân nga vang di, gi thức qun sanh, kêu khuyên người trí, tiếp đkhiền. Do đ mà cuộc đi du hành, sau khi gc ngộ sẽ lan dn ra các xứ, ban đu đi quanh xứ Vit miền Nam kế đln ra Trung Bc cùng khp cõi Đông Dương, nếu con đường thun tiện và Go hi sẽ đi với số đông y n Pht Tăng ngày xưa đi hành đạo khp xứ ngoài nữa” (tr. 374).
  1. Sự dung hòa giữa hai truyền thống Pht giáo Nam truyền và Bắc truyền

Đức Tổ sư Minh Đăng Quang dung np hài hòa hai hệ tư tưởng Pht giáo Bắc tông và Nam tông, tạo nên sắc thái trung đạo của Hphái Kht sĩ, mt trong những Hphái mang bn sắc Pht giáo Việt Nam lúc by giờ.

Giáo lý của Đạo Pht Kht Sĩ vn gìn giữ nguyên bn những giáo lý chủ đạo được hai hphái Pht giáo lớn đề cao như Tam pháp n; Un, Xứ, Giới, Tứ thánh đế, Bát chánh đo, LDuyên khởi, Tam vô lu hc.

Lun vcPht, trong Chơn lCPht, Tổ sư xác định: Tt cchúng sinh là cPht, đó là cách xác quyết tương đng với quan
 


điểm nht thiết chúng sanh giai hữu Pht tánh” và tt cả chúng sanh đều sẽ thành Phtcủa Pht giáo Đi thừa. Cũng như phn Chơn lGiác Ng, Ngài nói: “... Bng thiếu sự toàn gc ca bậc sơ gc, đc gc, hay đi gc, thì nhp đnh chưa bền lâu, t còn phi đi tu thêm hnh tự gc, gc tha ở trong đời, đcho thành tựu sự gc mãn, tức là tu hnh Bồ-tát...”. Như thế, tinh thn Bồ-tát đạo trong bChơn lcủa Tổ sư Minh Đăng Quang đã nói lên sự dung hòa giữa hai truyền thng lớn trong đạo Pht.

Phn Chơn lĂn chay, Ngài cũng định nghĩa rt rõ: Ăn chay theo chữ Hán gi là thực trai, ở đây cnghĩa là món ăn trong sch vy. Ăn chay là trong sch với miếng ăn, không tham ăn, không vọng ăn, không cchp kén chn món ăn, tâm không nhơ bn vì miếng ăn”... Ni dung toàn bài Ăn chay” xoay quanh tinh thn tôn trọng lut công bình, không ỷ mnh hiếp yếu, tôn trọng sự sng của nhau; không vì chữ hiếu mà sát sanh hi vt để cúng hiến cho cha m... Ăn chay thể hiện lòng từ bi đi với các sinh vt nhỏ di hơn ta, khuyến kch ý chí điều phục tự thân.

Đức Tổ sư khéo kết hợp quan điểm của Pht giáo Phát triển và Pht giáo Nguyên thy hình thành mt đường li tu tp đúng với tinh thn từ bi, trí tu, gii thoát của Bồ-tát đạo.

Kết luận


Nhìn chung, tư tưởng chính của Đức Tổ sư là khôi phục y bát chân truyền và cố gng tu tp sinh hot đúng nguyên mu của Tăng đoàn lúc Pht còn ti thế. Tri qua thời gian hơn 2500 năm lịch sử, giáo pháp Pht lưu truyền theo hai hướng: Bắc và Nam, vì thế mới có danh từ Bắc truyền là Đi thừa hay Pht giáo Phát triển; Nam truyền xưa gọi là Tiểu thừa, hay còn gọi Pht giáo Nguyên thy. Do tính truyền thng trung thành tuyệt đi, bảo vnguyên gc giáo lý của Đức Pht nên gọi là Nguyên thy; do tính bảo thmà khó phát triển nhanh. Tuy nhiên, Pht giáo Đi thừa có ưu thế dễ thích nghi từng thổ nhưỡng, từng quc đ, dễ hòa nhp, dễ phát triển, nhưng cũng dễ đi xa lời dy chính thng mà Đức Pht Thích-ca Mâu-ni để li.
 


Qua thời kBắc thuc, cao Tăng Thánh đức đã khai triển được giáo lý và nâng cao giá trị tu tp cho bn go, giúp đt nước thịnh hưng. Thời Pháp thuc, vì bnền văn hóa xa lạ xâm nhp, xã hi bị xáo trộn và nét văn hóa truyền thng cha ông bị lai tạo, Tăng quy chưa kp định hình, tchức tu tp sinh hot chưa được chỉnh đn để thích nghi với trào lưu, mt sbậc chân tu đã n non cao núi thm, số còn li ở thị thành phi cht vt bon chen cuc sng, nên sắc màu Pht giáo b biến dng.

Trong tình hình xã hi rối ren, mt stchức chng ngoi xâm ra đời, đng thời cũng xut hiện nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo ni sinh kết hợp với chính trị để bảo vTquc. Trong hoàn cnh đó, Tổ sư Minh Đăng Quang xut hiện làm sng li, tươi nhun cho mt đạo Pht tưởng chừng bbiến dng song song với trào lưu chn hưng Pht giáo khp nơi. Việt Nam đã có mt hphái Pht giáo kết hợp hài hòa giữa hai truyền thng Nam và Bắc truyền, từ hình thức đến ni dung. Để Pht giáo Việt Nam mới mhơn, thích hợp với trình độ dân trí và hoài bão của người dân Nam Blúc by giờ, kinh điển của Đạo Pht Kht Sĩ được chuyển dịch sang văn vn gin d, trong sáng.

Hphái Kht sĩ ra đời không những đóng góp tích cực trong lãnh vực tôn giáo tín ngưỡng, mà còn làm phong phú nền văn hóa dân tc trong thế kXX. Trăm hoa đua nở, các hphái tôn giáo ra đời, báo hiệu dân tc sớm hưởng cnh bình minh của đt nước sau thời gian dài tăm ti bởi ngoi xâm. Ngày nay, Hphái Kht sĩ vn luôn song hành cng Giáo hi Pht giáo Việt Nam để trang nghiêm Giáo hi, xây dựng đt nước ngày thêm giàu mnh. Tăng-gKht sĩ không những là hphái nghiêng về hướng chuyên tu mà còn cp nht kiến thức thời đại, luôn năng đng phng sự xã hi trên mi mt nhưng vn giữ được nét đặc thcủa chính mình.








 

TÀI LIỆU THAM KHO

 
    1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn l, Nxb. TP. HCM, 1998.
 
    1. Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nxb. Thanh niên, 1999.
 
    1. Chu Xuân Diên, Cơ sở Văn hóa Việt Nam (Tài liệu ging dy trường ĐH KHXH & NV).
 
    1. Ni trưởng Hunh Liên, Li tựa Kinh Tam Bo, Nxb. Tôn giáo, 2000.
 
    1. Trn Hng Liên, Pht go Nam Bộ, Nxb. TP. HCM, 1996.
 
    1. Giáo sư Minh Chi, Nhân minh lun (Tài liệu ging dy HVPGVN TP. HCM).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây