18. TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG TRONG BẢN "CHƠN LÝ"

Chủ nhật - 09/09/2018 09:35
TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG TRONG BẢN "CHƠN LÝ" của NT. Hiếu Liên - Tịnh xá Ngọc Long Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai
 

Dn nhp


Tìm hiểu cuc đời và đạo nghiệp của Tổ sư Minh Đăng Quang, chúng ta được biết Ngài chỉ trụ thế 32 năm thì vng bóng. Trong thời gian đó, 8 năm cui cng là thời kNgài mở đạo, khai sáng Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam, tiền thân của Hphái Kht sĩ trong lòng Giáo hi Pht giáo Việt Nam.

Trước tình hình xã hi và đt nước Việt Nam của những năm tiền bán thế kXX đang ở vào giai đon vô cng rối ren, dân chúng Việt Nam hết sức hoang mang, không biết nương tựa vào đâu. Xu hướng chung của nhiều người là tìm vtôn go, nht là Pht go, nhưng Pht giáo Việt Nam lúc by giờ cũng suy thoái nng n. Xót xa trước sự kiện đó, Tổ sư Minh Đăng Quang với tư cách mt bậc xut trn thượng sĩ, tuy không cng với các cao Tăng Pht giáo Việt Nam đề xướng, hô hào chn hưng Pht giáo bng khu hiệu, nhưng bng cách dựng lp Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam, hướng dn môn đồ của Ngài thực hành triệt để giới lut nhà Pht, điều đó cũng góp phn chn chỉnh li sinh hot của cTăng Ni Việt Nam thời by giờ. Ngài cho đó là cách chn hưng Pht goViệt Nam hiệu quả nht, căn bn nht.
 


Từ ht ging ban đu ít i, tu sĩ và cư sĩ Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam dn dn phát triển rộng lớn, lan tỏa khp các tỉnh miền Tây và miền Đông Nam B. Cho đến năm 1981, Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam với danh xưng mới Hphái Kht sĩ đã trnên bề thế, vững vàng trên đt nước Việt Nam.

Trong cuc đời hành đạo ngn ngủi của Ngài, sau khi ra đi, Tổ sư Minh Đăng Quang đã để li mt di sn vô cng quý báu, đó là bChơn lmang đm bn sắc dân tc” (lời trong thư mời của Viện Hàn lâm Khoa hc Việt Nam và Viện Nghiên cứu Pht hc Việt Nam) cho Hphái nói riêng và cho Giáo hi Pht giáo Việt Nam nói chung. BChơn ly là kết quả của công trình tu tp và thuyết ging của Ngài. Ni dung tác phm được Tổ sư rút từ kinh tng Pht giáo cng với sự thực nghiệm của tự thân và Ngài đã dân tc hóanền giáo lý uyên thâm trở thành gin đơn, bình dị để cho qun chúng Việt Nam dễ nm bt, dễ thực hành.

Cho đến tn bây giờ, những hiểu biết ca chúng ta vbChơn lvn còn vô cùng nhbé. Dẫu sao, bằng ngoi quan, chúng ta cũng thấy được sđc đáo ca nó, cũng như thấy được scống hiến lớn lao ca Tsư Minh Đăng Quang o kho tàng go lý Phật giáo Việt Nam.

Trong phm vi của bài tham lun này, chúng tôi chỉ mong được làm người giới thiệu mt schỉ du mà bChơn lđã nêu ra, nhm đóng góp mt tiếng nói cho cuc hi thảo đy màu sắc và vô cng bổ ích này.
  1. Tư tưởng Pht giáo Đi thừa trong bChơn lý

Ngày xưa, khi Pht còn ti thế, đạo Pht chỉ có mt thừa, mt cỗ xe duy nht để đưa chúng sanh vmt mục đích duy nht là Pht quả. Sau ngày Pht nhp diệt, hàng môn sinh của Ngài chưa đủ phm cht như Pht, cho nên những lời tuyên ging của hchưa đủ sức thuyết phục thính chúng, chưa làm cho người nghe am hiểu liền, chp nhn và thực hành liền, có kết quả liền như lời dy trực tiếp của Đức Pht nên cTmới phân lp các khuynh hướng, các dòng truyền thừa
 


khác nhau cho phhợp với căn cơ và thời đại.

Vả li, chúng sanh trong thời kChánh pháp, căn cơ cũng nhy bén hơn, thiện duyên cũng đy đủ hơn, nên khi nghe Pht khai thị nhiều người hiểu và tín thọ liền, không nghi nggì cả. Khi Pht diệt độ rồi, thân tướng Đức Từ Phkhông còn nữa, căn cơ của chúng sanh li thiển bạc, yếu đui, không đủ sáng sut để nhìn thng vào hiện thực, không đủ dõng mãnh để tiếp xúc những thực tế của trn gian, cho nên chúng sanh mt sự lợi ích rt nhiều. Nhìn thy trn gian trong thời mt pháp, các hàng cao đệ của Pht rt đau lòng. Biết pháp Pht là rt cao quý, là pháp “ly khổ đắc lạcchắc chn, và tt cả chúng sanh đều có khnăng giác ngộ thành Pht, do đó, các Ngài vn dng trí tuệ và bi tâm, tạo mi thun duyên để chúng sanh được tiếp cn với Chánh pháp, gieo duyên lành với Tam bảo hu nếm được hương vị gii thoát, đi vào cửa vô sinh.

Tsbức thiết đó, tam thừa Phật go được phân lập ra để phù hp vi tâm lượng chúng sanh trong mi lúc hầu đtn chúng sanh vy.

Trong Chơn lTông go, Tổ sư Minh Đăng Quang viết:

Trong số Tăng đồ ca Pht khi xưa cba hng trí, kđang học, kđang tu và kđang dy, gi là Thanh văn, Duyên gc và Bồ-tát. Ba hng này kc nhau bng tâm trí chgiới, lut, y bát cũng nnhau, đều gi chung là Tăng, Kht sĩ, Tỳ-kheo; hay gi là Tỳ-kheo cba hng go lý, ba c pháp.

Cũng nloài người cba hng trí, mà cũng là mt loài người chung, chkhông phi chia rphân bit. Nghĩa là Tăng chúng tu học Giới – Đnh – Tuệ, kcao người thp, chkhông phi kc đạo, kc go pháp1.


Có nghĩa là tư tưởng tam thừa đã có sn trong mi tâm trí chúng sanh, trình độ chênh lch là tính cht của con người, bởi vì mi người có nhân quả riêng, cho nên có phước báu riêng biệt. Nhưng sự phân
    1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn ltp II Tông go, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2009, tr.99-100.
 


lp ba thừa hn hoi là sau khi Pht đã vào Niết-bàn và do lòng bi mn của hàng cao đệ của Đức Pht mà có phân lp ra ba thừa go.

Tuy nhiên, theo cách nhìn của Tổ sư: Không ctam thừa gì bngoài cả, tam thừa là tâm trí ca mi người, từ nhtới lớn, từ hp tới rộng, chkhông phi mới sanh ra cũng Đi thừa… Tt hơn là nên diệt lòng ích knái, chung hòa hiệp mt li, cũng ncái vlớn, cái ht nh, dính hiệp nhau thì làm sao chng có được thịt cơm nơi khong giữa mà thành nên ti gc thơm ngon vy2.

Với tâm đi bi bao la, hàng Bồ-tát chp nhn sự thiệt thòi để cho có được sự lợi ích lớn, các Ngài cam tâm làm ông thy giáo lớp chót” (Tổ sư Minh Đăng Quang) để dy cho được số đông hc trò. Các Ngài chưa vội vào Niết-bàn mà tình nguyện ở li cõi đời, hay đã lên được 9 phm sen vàng trên Cực lạc rồi mà vn nguyện Hi nhp ta-bà, tế độ chúng sanh. Các Ngài vn dng phương tiện quyền xảo, để tạo mi thun duyên, cho chúng sanh được tiếp cn với Tam bo, gieo duyên lành, hu được gii thoát Niết-bàn trong ngày vị lai.

Thanh Văn thừa bảo thgiới lut, chuyên tự độ nhiều hơn độ tha. Bồ-tát thừa không nỡ nhìn thy chúng sanh ti lăn trong biển sinh tử mãi nên các Ngài chưa vội vào Niết-bàn mà tình nguyện ở li làm thy thủ dong thuyền ra biển khơi, cứu vớt người sp chết đui. Quan niệm của Bồ-tát thừa là chúng sanh có tám vn bn ngàn phiền não thì Pht cũng phi chế tác ra tám vn bn ngàn pháp môn phương tiện mới có thể độ tn chúng sanh.

Chúng ta thy Tổ sư cũng tán đng phương tiện quyền xảo độ sanh. Nhưng theo Tphi phân biệt rạch i giữa phương tiện và cứu cánh, và phi là bậc thy đy đủ bi trí, đủ khnăng vn dng sáng tạo trong vic độ sanh thì khi vào đời mới không bị đời thiêu đt và vic độ sanh mới đem li kết quả thiết thực.

Từ nn tảng đại bi, đại trí, Bồ-tát quyn xảo đđchúng sanh trong thi mt pháp. Tuy Bồ-tát vận dng đa phương cách để tế độ đa tâm lượng ca chúng sanh, nng Bồ-tát cũng nắm vững rằng
    1.  
    1. Sđd, tp II Tông go, tr.100.
 


nh đạo trên cơ sở Giới – Định – Tuthì “Vạn thiện đng quy Bát-nhã môn.
  1. Tinh thn Bồ-tát đạo trong bChơn lý

Theo quan niệm của Tổ sư, Bồ-tát phi là người đã đi trọn con đường Kht sĩ và sp bước vào địa vị Vô Thượng , là người đã tu hc xong và hiện đang làm thy go, đang ôm p hoài bão độ tn chúng sanh.

Trong hàng Tăng-gKht sĩ, Tổ sư Minh Đăng Quang chia làm 3 hng: Kht sĩ Thanh Văn, Kht sĩ Duyên Giác và Kht sĩ Bồ-tát.

Kht sĩ Thanh Văn là người đang hc tp, Kht sĩ Duyên Giác là người đang tu, Kht sĩ Bồ-tát là bậc thy, đang giáo hóa chúng sanh. Tổ viết: Kht sĩ Bồ-tát là những bậc thy go chng bao githiếu ht, cũng ví nvua trời, vua người, là bậc Tổ sư go chủ, vì mun n lòng cao trọng, vì mun chứa đức thêm nhiều, vì mun khuyên lơn hàng vương giả, vì theo sự gii thoát trong đo, vừa làm gương Tăng chúng, vừa đđi khp nơi công bình, vừa đtìm duyên hóa đv.vvy nên phi đi xin chính sự, đi xin ca chư Bồ-tát, cPht là điều khnht trong thế gian ít ai làm được3.

Tổ đánh giá rt cao về vai trò Bồ-tát:


Giá trị ca Kht sĩ qubáu hơn trời, người. Bởi biết sự qubáu, lợi ích ca Kht sĩ, nên xưa kia vua Trời, vua người, bngôi vua xut gia hành đo, mong cu quPht. Kht sĩ là trung đo, chánh đng chánh gc, vô thượng ca bậc gc ng… Chúng sanh du khnn đến đâu, chcn mt người Kht sĩ cũng đgii cứu, đthoát cho tt ctrn vẹn. Trong mi sự biến cố ca gia đình, bt hòa ca xã hi, xung đt giữa anh em, ngoài Kht sĩ ra không còn ai là bậc gii hòa can gián, vì Kht sĩ đba báu: Giới – Đnh – Huệ. Kht sĩ nhòn ngc báu trong sch, yên lng, sáng sut và chơn không4. Trong chương này, Tổ dành riêng cho Kht sĩ Bồ-tát, cho nên du cho Tchỉ nói hai chữ Kht sĩ, chúng ta cũng ngm hiểu rằng đó là Kht sĩ Bồ-tát.
  1. Sđd, tp II Kht sĩ, tr.275.
  2. Sđd, tp I Kht sĩ,tr.277.
 


Trong đời không cchi xu xa bng sự gian ác và không cchi tt đp bng người Kht sĩ, kc phàm phu, siêu nhân loi… Cho nên ba món qubáu nht trên thế gian là Pht, Pháp, Tăng thì Kht sĩ đứng o hàng Tăng bảo, học Pháp bảo đlàm Pht bảo vy5.

Tổ đã hết lời tán dương bậc Bồ-tát vì Bồ-tát xut thân từ nền tng Giới – Định – Hu, đã đi hết ltrình Đạo đế và sp sửa bước vào đa phn Diệt đế - Niết Bàn, là bậc đã tự độ xong, nng còn u mang hoài o độ sanh, mun cho tt cchúng sanh đều được giác nggii thoát nên các Ngài mi ra làm thy giáo đgiáo hóa, dìu dt chúng sanh từng bước mt tiến n cho đến quvị Pht. Thế nên, Bồ-tát Đa Tng phát nguyện: Địa ngục vkhông thệ bt thành Pht, chúng sanh độ tn phương chứng Bồ-đ(chúng sanh chưa độ hết chưa thành Pht, đa ngục chưa trng không chưa chứng quBồ-đề).

Tinh thn Bồ-tát đạo trong Chơn lcủa Tổ sư rt cao cả và có lẽ cũng vì ôm p hoài bão độ tn chúng sanhnên Tmới xả thân hành đạo trong lúc tui còn rt trẻ (trên dưới 30 tui). Ngài dựng lp giáo phái Kht sĩ ti miền Nam Việt Nam giữa thời bui Pht giáo Việt Nam đang trên đà suy thoái. Tăng, tín đồ Pht giáo Việt Nam đang quanh qun giữa rừng rm âm u, đy thú dữ, quma (ndục), chúng đang chchực vmi mà nhiều người tu chưa tìm ra được li thoát, ngay khi y Tổ sư Minh Đăng Quang xut hiện, tay cm ngọn đuc Chánh pháp với quyết tâm quét sch bóng ti rừng già, khai vẹt con đường sáng sch, thng tp, để đưa hàng môn đồ nói riêng và chúng sanh nói chung ra khi “bát nn tam đ, về tịnh thổ xứ Pht, an cư lạc nghiệp đời đời.

Tóm li, đi với Tổ sư Minh Đăng Quang, Bồ-tát phi là bậc xut thân từ nền tng Kht sĩ, là Kht sĩ chơn chánh, Kht sĩ lý tưởng, chỉ có Bồ-tát mới đủ khnăng gii quyết mi khổ đau trong cuc đời, mới tạo lp được an vui tht sự cho trn thế.

Tinh thn Bồ-tát đạo của Tổ sư được thể hiện trong bChơn l
  1. Sđd, tr.279.
 


và tri rộng trên khp lưu vực đng bng sông Cửu Long và các tỉnh miền Đông Nam B. Mặc du thời gian hành đạo rt ngn ngủi (1946
– 1954), nhưng hình bóng gii thoát của Ngài là du n tt đẹp vn còn khắc đm, in sâu trong lòng môn đồ nói riêng và dân chúng miền Nam nói chung. Cho đến bây giờ (sau 60 năm), đạo hnh của Tổ sư vn nh hưởng sâu rộng trong qun chúng trên khp ba miền Nam, Trung, Bắc. Sự ra đi đt ngt của Tcũng là bài pháp chứng minh cho quy lut vô thường mt cách cụ th, hng hn “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Kinh Kim Cang) đánh bt tư tưởng nương tựa, ỷ li cố hữu của con người, và cũng để nhắc nhmôn nhơn rằng không có nơi nào vững chãi, an toàn hơn chơn tâm, giác tánh của chính mình, Chơn lý là như vy.

Tự ta nương tựa ly ta, vững nhi đảo phong ba chng sờn (Thi kệ ca Ni trưởng Hunh Liên). Chỉ có ni Tam bảo tự tâm là nơi nương tựa vĩnh hằng, đời đời bt diệt.
  1. Sự dung hòa Lut tạng trong bChơn lý

Trước khi khai sáng Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam, Tổ sư Minh Đăng Quang đã suy nghiệm sâu sắc hai ngun giáo lý Pht giáo Đi thừa và Pht giáo Nguyên thu. Sau đó, Ngài đc Tăng đnhà Pht do cụ Đoàn Trung Còn biên son, và sau bao ln tham vn, hc tp với các nhà sư ở Campuchia, đi chiếu với pháp hành của cTăng Ni hai tông phái Pht giáo ti Việt Nam, Ngài phát hiện ra giữa hai bên: Tng Lut Pht và pháp hành của Tăng Ni Việt Nam ngày nay có mt sự khác biệt rt đáng kể. Lúc đó, phong trào chn hưng Pht giáo Việt Nam do các bậc Tôn túc trong Giáo hi Pht giáo Việt Nam đề xướng, nhm khôi phục li giá trị đích thực của Pht giáo để làm điểm tựa tâm linh vững chãi cho giới Pht tử nói riêng và cho dân chúng Việt Nam nói chung.

Từ bi cnh trên, Tổ sư Minh Đăng Quang thiết lp mt pháp hành, sao cho bảo tn được thực cht của tng Lut nhà Pht, đng thời cũng phhợp với căn cơ, hoàn cnh của Tăng Ni Việt Nam; nghĩa là phi “khế lý, khế cơ. Được vy thì sự tu hành của Tăng Ni Việt Nam mới mong thành tựu chánh quả. Và, bLut nghi Kht
 


sĩ” được ra đời như là khuôn thước cho đời sng tu hành của chính Ngài, đng thời cũng hướng dn hàng đệ tử xut gia của mình thực hành theo. Tứ y pháp là pháp hành căn bn mà cTăng Ni Kht sĩ phi thực hành để đi trị những bt cp gii đãi, buông lung trong giới tu sĩ.

Trong đạo có giới lut cũng như ngoài xã hi có pháp lut. Đã nói là lut thì phi bt buc chkhông được tùy tiện, lut không nghiêm là lon, là không còn lut nữa.

Trước khi thành đạo, Thái tử Sĩ-đt-ta đã bỏ ra sáu năm tu khổ hnh. Ngài nhịn ăn, nhịn ng, hành hạ c thân. Ngài m đến ni chỉ còn da bọc xương mà vn chưa tng. Ngài suy ng: thân thể tiều ty nthế này tkhông thể phát sinh trí tuđược. Cui cùng, Ngài quyết định ăn ngày mt bữa o gingđduy trì ssng mnh khe, làm điều kiện tt cho stham thiền nhp định, mới mong đt được stĩnh lng ca tâm, sáng sut ca trí. Sau khi suy ngchín chn, Ngài liền loi bỏ hai cực đoan thái quá – ép c và bt cp – hưởng th, giữ li mực trung - ăn ng. Khi sức khe được hi phục, Ngài đến dưới ci Bồ-đ, tri tòa c, ngồi yên tĩnh và nhp đi định mt cách ddàng. TSơ thiền đến Tthiền, và chuyển qua quán tam tướng, chứng đắc tam minh, thành tựu lc thông. Chỉ trongng 49 ngày đêm, Ngài hoàn tt con đường tâm linh mt cách rt ráo, vn mãn.

Từ đó, Ngài đem kinh nghiệm bn thân, khai vạch con đường Đạo đế (Bát chánh đạo), hướng dn môn đồ đi vào Diệt đế Niết-bàn như Ngài. Theo chân Ngài, biết bao Tăng Ni thời đó đã áp dng li tu Trung đạo mà đt được quả vị Vô sanh A-la-hán.

Pháp hành của Pht và cTăng ngày xưa là tm gương sáng chói, còn lưu truyền li trong tng Lut, trong tng Kinh Pht go. Tổ sư vô cng ngưỡng mpháp hành đó. Ngài đã áp dng và xác tín những Pht nn qua tự thân. Ngài cũng xác thực sự hành trì của cTăng Ni Việt Nam và nhn ra rằng sự suy vi của Pht giáo Việt Nam phn lớn là do hàng Tăng sĩ Việt Nam không thực hành nghiêm túc giới lut Pht chế. Mun chn chỉnh li những sai lm hiện có trong
 


giới Tăng Ni, Ngài đem bn thân ra làm gương mu. Lut Kht sĩ từ đây được khai sinh, Tăng-gKht sĩ do đây được thành lp.

Đức Pht và cTăng ngày xưa giữ giới ăn ngọ rt k. Bởi vì sự sng của cTăng sĩ chỉ bng phương tiện kht thực. Trong chùa không được phép nu nướng và cTăng Ni chỉ đi kht thực vào bui sáng, độ cơm vào bui trưa, chiều nghe Pht thuyết ging hoặc hc kinh (Pht nn), ti tham thiền và nghỉ ngơi. Nếu ăn vào bui chiều ti thì chiều phi đi kht thực, mt thời giờ nghe pháp, hc kinh, ban đêm bị thức ăn làm nng bng, khó nhiếp tâm thiền định. Ngày xưa, cũng có hàng cư sĩ vì quý kính Pht và cTăng, nên họ thỉnh Pht ăn thêm bữa sáng (điểm tâm) cho đủ sức khe. Nhưng Pht dy: Ngày ăn mt bữa, ta thy có sức, ít bịnh, nhẹ nhàng, an vui. Du vy, Ngài vn khai giới cho những người gbịnh được ăn thêm bữa sáng bng những thức ăn loãng, nh. TMinh Đăng Quang cũng vy, mi ngày Ngài chỉ dng mt bữa duy nht vào giờ ngọ nhưng Ngài vn m ngoặccho những người gbệnh.

Như vy, ta thy bữa ăn chiều là không cn thiết. Khoa hc ngày nay cũng xác nhn là bữa ăn chiều ti không sinh năng lượng mà chỉ sinh mỡ, không phhợp với phép dưỡng sinh. Căn bn là chế ngự tâm tham ăn, vì trong ndục: Tài, sắc, danh, thực, thùy (những chướng ngi lớn cho vic phát triển tâm linh) thì cái dục m thực cũng rt nng n, cũng rt khó khắc phục. Phòng hộ được 6 căn: mt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thì giới to (ctúc giới Tỳ-kheo), giới nhỏ (thp giới Sa-di) đều không phm.

Việt Nam là mt đt nước vốn di dào rau quả, người dân Việt Nam có thsng bng rau quả không cn đến huyết nhục chúng sanh mà cũng đủ bổ dưỡng để khi cng nghiệp sát. Hơn nữa, tâm tánh người Việt Nam vốn nhân từ, tu sĩ Việt Nam mà ăn tht cá là Bt cn nhân tình, không my được Pht tử Việt Nam hoan nghênh, ủng h.

Tóm li, bng tuệ giác của bậc chân tu, Tổ sư rút tỉa ưu điểm của mi bên: ăn chay của Bắc tông, ăn ngcủa Nam tông, cng với Tứ y pháp của Đức Pht. Tam y nhứt bát, vân du gii thoát (vô ngã, vô nsở), không trú xứ nht định, không sở hữu chùa chiền tông phái,
 


môn đồ để hình thành đặc điểm riêng của Hphái Kht sĩ là ăn chay ng. Đó là sự dung hòa ni bt trong tng Lut Kht sĩ, là nét đặc trưng của Kht sĩ.
  1. Võ trquan và nhân sinh quan trong bChơn lý

Tổ sư thy bu vũ trnày ging như mt quả lựu cực to, và những quả địa cu trong vũ trụ như những ht lựu trong quả lựu, đó là cách diễn đt mới mcủa Tổ :

Võ trlà cái thrộng lớn, ti đen, tự nhiên vng lng, đứng vững mãi mãi, tựa nvti lựu cực to, trong đcnhững quđa cu lơ lửng nht lựu nh. Cái vy không ai biết nlà tới đâu vì muôn loài đều ở trong”.

Những quđa cu không có số đếm, không có số lường, không thnói được, là vì cái đang ni, cái đang tan, cái dn qua, cái tli, cái lớn, cái nh, không thường6.

Thể ca võ trlà mt cõi thăm thm, ti đen, bao la, vô cực. Trong y cvô số quđa cu. Mi quđa cu đi với võ trụ cũng n mi mng sống ca chúng ta đi với quđa cu, nghĩa là mt vt rất nhđi với mt vt rất to thì lẽ sanh hóa hay tàn tiêu ca quđa cu đi với võ trvn là thường lm, tự nhiên lm, không kc o sự tử sanh ca ta đi với trời đt bao la7.

Quả địa cu nào cũng do bn cht hiệp li: cht đặc là đt, cht lng là nước, cht nóng là lửa, cht hơi là gió. Quả địa cu nào cũng thế, có sn tự nhiên như vy.

Võ trquan theo Pht giáo Nguyên thy chỉ trong ng tam thiên đi thiên thế giới, cho nên không có tha phương tịnh độ chng hn như Tây phương Cực lạc của Đức Pht A-di-đà. Nhưng vũ trquan của Pht giáo phát triển thì ngoài hiện tượng sai biệt còn có vô số uế độ và tịnh độ nhiều như vi trn. Tt cả đều từ thể tánh chơn tâm mà ra. Thể tánh chơn như của vũ trcũng là thể tánh chơn như của
  1. Sđd, tp I, Võ trquan, tr.5-6.
  2. Sđd, tr.6.
 


chơn tâm, cho nên có câu Nhứt thiết duy tâm tạo.

Triết hc nói: “Bn thlà tự tánh ca hiện tượng. Hiện tượng là c dụng ca bn th”.

Pht hc nói: Sc bt dkhông, không bt dị sc, sc tức thkhông, không tức thị sc” (Bát-nhã Tâm kinh).

Tổ sư nói:

Trong cái KHÔNG sn chứa cái CÓ, tt ccái CÓ đều quy vcái KHÔNG. KHÔNG và CÓ là hai lẽ tương đi, KHÔNG là cái lý, CÓ là cái sự” (Chơn lý “Võ trquan”).

PHT HC                             TRIT HC   TỔ MINH ĐĂNG QUANG

Không = thtánh chơn như = bn thể                 Không Sc  = vn pháp      = hiện tượng    Có

Ai ai cũng đang cchơn như, ctrong mi niệm và cthy đều ở, sống trong chơn như”8.

Như vy, vũ trquan trong Chơn lcủa Tổ sư Minh Đăng Quang, không khác vũ trquan của Pht hc và vũ trquan của khoa hc, có khác chăng là ở sự diễn đt nn ngữ mà thôi.

Tìm hiểu vũ trụ quan là gián tiếp tìm hiểu con người. Đức Pht thường gi thân này là thế giới (loka), là vũ trụ. Hiểu biết nh cũng là hiểu biết thế giới, vũ trluôn (nhơn thân như tiểu vũ trụ, thân người là vũ trnhỏ). Bi vì những điều kiện cu to ra thế giới cũng là những điều kiện cu to nên thân người, đó là : đt, nước, lửa và gió. Tht xương thuc về đt, cht lng như nước mt, máu, nước tiểu v.vthuc về nước, nhiệt đthuc về lửa và hơi th, hô hp thuc về gió. Cho nên thân người và vũ trđều cùng mt tính cht, không khác.

Vnhân sinh quan thì Pht giáo Ngun thy cũng như Pht  giáo  Phát  triển  là  cùng  quan  điểm,  đều  căn  cứ  vào
  1. Sđd, tp III Chơn như, tr.348.
 


Tam pháp n: vô thường, khvà vô ngã.

Theo quan niệm của Pht go, bn cht của vũ tr, trong đó có con người là vô thường, vô ngã và kh. Nói mt cách khác, thân này luôn luôn đi thay, biến hoi, hư huyễn, trống rỗng, là khát khao, bt toi nguyện, kh.

Đi với Pht go, thân này là mt hợp thgồm 5 nhóm được gọi là ngũ un, đó là: sc, th, tưởng, hành, thức. Sc gồm có: đt, nước, gió, lửa. Vphn vt cht được gọi là sc pháp. Th, tưởng, hành, thức thuc vphn tinh thn, được gọi là danh pháp. Nghĩa là thân con người được kết hợp bởi năm nhóm gồm hai phn vt cht và tinh thn hoặc sc danh. Bởi kết hợp cho nên nó không có tht th, không có ct lõi (vô ngã). Theo nguyên tắc, hễ cái gì do điều kiện kết hp, cái đó luôn đi thay (vô thường), đó là chân lý, là lẽ tht rt khoa hc, không thkhác được. Tht thngũ un đó luôn đi thay không thường hng, không bền vững, mà con người vì vô minh, vì tham chp, cố bám níu vào cái vô thường và mong mi mt cách hão huyền rằng nó thường hng, cho nên phi khổ đau khi tham cu đó không thành tựu, bt toi nguyện. Khổ đau không phi do thực tế vô thường mà do tâm tham, mun biến đi vô thường trở thành thường, vô minh tham đm là nguyên nhân sinh ra mi khổ đau trên thế gian này.

Giáo lý vô ncủa nhà Pht là chân lý tuyệt đi, là lẽ tht hiển nhiên của cuc đời. Giác ng chân lý là hiểu rõ lẽ tht của vn pháp, không còn cố chp vào những cái hảo huyền, không cn cố gng dng công tu tp, chỉ cn hiểu ra lẽ tht (giác ngchân lý) để không ước mơ hão huyền nữa, dũng mãnh chp nhn lẽ tht, sng với lẽ tht thì mi khổ đau được gii tỏa, mi ti buc được tháo gỡ. Nếu không trực diện được vn đề và sng thể nhp với chân lý thì hãy theo sự chỉ dn của Đức Pht thực hành Bát chánh đạo: Giới – Định – Huệ (Đạo đế), đó là lộ trình duy nht đưa chúng sanh vượt khi khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngNiết-bàn (Diệt đế), chm dứt khổ đau.

Do vy, Kinh Bát-nhã dy chúng ta phi quán chiếu (chiếu kiến) thân ngũ un này cho tỏ tường và phi tu tp cho rt ráo (hành thâm),
 


để có cơ hi tiếp xúc với lẽ tht (chân lý) về thân ngũ un để biết chắc, thy chắc thân ngũ un này là hoàn toàn vô nmà buông b, mà thoát ra (gii thoát) khi sự ràng buc của ngũ un: Quán Tự Ti Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mt đa thời, chiếu kiến ngũ un giai không đnht thiết khách”. (Bậc Bồ-tát thực hành trí tuệ rt ráo, thy ra năm un đều là hư giả, không tht, vượt qua khi khổ ách).

Bài pháp thứ hai Pht thuyết ở Vườn Nai khai thị cho năm anh em ông Kiều-trn-như là bài pháp Vô ngã tướng. Khi nghe Pht nói kinh Vô ngã tướng xong, năm anh em Kiều-trn-như liền đắc quả vô sanh A-la-hán. Cho nên, pháp môn quán vô ngã là pháp môn căn bn hàng đu của giáo lý nhà Pht. Giáo lý của Đức Pht có huy hoàng, có vượt trội hơn các hc thuyết của ngoi đạo đương thời đều do từ giáo lý Vô nmà ra.

Ngày xưa Pht cho hàng đệ tử biết rằng: Những gì ta đã nói ra nlá nm trong tay, những gì ta chưa nói ra nlá trong rừng, nghĩa là còn nhiều lm. Khi có người hi Ngài về vn đề vũ tr, Ngài trả lời rằng: Pháp của Ngài nói ra chỉ nhm vào mục đích yểm ly, ly tham, đon diệt, chứng ng Niết-bàn. Bàn lun về vũ trNgài cho là huyền đàm, hư lun. Sut 45 năm thuyết ging, Ngài chỉ nói sự tht vkhổ và con đường đưa đến sự diệt kh.

Cách nhìn của Pht giáo vmi sự vt hiện tượng là Vô thường, Kh, và vô ngã. Các pháp tuy nhiều vô cng tn, nhưng không ngoài Tứ diệu đế: Kh, Tp, Diệt, Đạo.

Tổ Minh Đăng Quang đã ch cực triển khai giáo lý này qua pháp hành Kht sĩ nhằm chuyn hóa thân ngũ uẩn vô thường, vô ngã này o thể tánh chơn n. Đó là li thoát khi khổ đau duy nht mà Đức Pht đã dày công khai vạch, đã tận lực dy bảo, dìu dt hàng môn đ. Tạng Kinh, tạng Lut Pht giáo là di sản Pháp bảo cùng vĩ đại mà Đức Pht đã đ lại cho chúng sanh. Lý thuyết phương pháp thực tp con đường giác ngộ là nn giáo lý đs, là mt cng hiến lớn lao cho hạnh phúc nhân loi, giá tr ca nó vượt thi gian, vượt không gian. Cho đến nay ảnh hưởng ca pháp Pht hu như lan ta khp năm châu bn b, đem lại lợi ích lớn lao, thiết



thực cho nhân loại và tt cchúng sanh đến vô tn, vô cùng.

Kết luận


Tư tưởng Pht hc được thể hiện trong bChơn lchng những bng nn ngữ thun Việt mà còn sử dng nhiều hình nh rt sinh đng, gn gũi với đời sng của người dân. Tác phm mang nhan đề: Chơn lý” tht không có gì chính xác hơn, đó là lẽ tht hiển nhiên. Do huân tu trí tuệ nhiều đời và do kinh nghiệm tu tp trong hiện đời, Tổ đã vn dng sáng tạo qun chúng hóa những từ ngữ kinh điển hàn lâm thành nn ngữ dân gian bình d, cụ thể như trong Chơn lKht sĩ, Chánh pháp, Tông go, Hòa bình, Chơn như” v.vCho dngười đc với trình độ nào cũng hiểu được và cm thy thích thú, như chợt phát hiện kho báu trong nhà mình.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây