13. SỨC HẤP DẪN CỦA ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM

Chủ nhật - 09/09/2018 09:17
SỨC HẤP DẪN CỦA ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM
PGS.TS. Nguyễn Công Lý Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG TP.HCM
Cố vấn Trung tâm Nghiên cứu Văn học Phật giáo Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam, vsau là Giáo hi Tăng-gKht sĩ Việt Nam, ngày nay là Hphái Kht sĩ (1981), là mt trong 9 tchức thành viên của Giáo hi Pht giáo Việt Nam, đã có nhiều đóng góp đáng kể vào sự thng nht và phát triển bền vững của Giáo hi Pht giáo Việt Nam ngày nay.

Đo Pht Kht Sĩ là mt sáng to đc đáo ca Việt Nam, xut phát tViệt Nam, chrng ở Việt Nam mi có. Đây là mt hệ phái Pht giáo biệt truyn do Tsư Minh Đăng Quang khai sáng, mở đạo o giữa năm 1944 ở Nam Bộ vi tôn ch“Nối truyền Thích-ca Cnh pháp.

Nếu so vi nhiều tông phái, hphái kc ca Pht go thì Hphái Kht sĩ tính đến nay chmới tn ti vừa đúng 70 năm (1944 – 2014). Quãng thời gian này quá ngn so vi trường klịch sPht go nói chung và lịch sPht go Việt Nam nói rng, nng Đạo Pht Kht Sĩ li có mt sức sng, sức lan to, nh hưởng và phát triển có thnói là nhanh chóng. Lúc mới thành lp, Hphái này chỉ truyền thừa ở miền Tây Nam B, by giGo đoàn Du Tăng chcó khong vài mươi người. Không lâu sau, Đo Pht Kht Sĩ đã lớn mnh, nhiều đoàn Du Tăng được thành lp, mang y bát chân truyn và đem giáo
 


lý tbi ca Đức TPhph đ, hong hoá ở Sài Gòn – Gia Định khp các tnh thuộc Tây và Đông Nam B. Từ sau năm 1954 đến trước năm 1975, Đo Pht Kht Sĩ đã được truyn bá rộng rãi đến các tnh ở khu vực Trung B(tHuế, Qung Trị trvào), rồi đến hôm nay, hphái Pht go này đã hiện diện trên toàn cõi Việt Nam và đang truyền bá ở mt số nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Úc,...

Điều gì đã tạo nên sức hp dn để hphái Pht giáo này phát triển nhanh chóng đến thế? Theo chquan của tôi, cái làm nên sức hp dn cng niềm kính tin tâm linh đi với thế nhân giúp cho Đạo Pht Kht Sĩ phát triển lớn mnh là nhờ Đức Tổ sư khai sáng và các hàng đệ tử kế tục đã biết vn dng giáo lý khế cơ, khế thi, khế xứ, khế lý của Đức Thế Tôn mt cách uyển chuyển vào thực tế đời sng xã hi Việt Nam và mt số nước khác, với sự dung hợp đặc trưng của hai truyền thng Pht giáo đã tn ti và phát triển lâu đời là Pht giáo Nguyên thuỷ và Pht giáo Đi thừa (Pht giáo Nam truyền và Pht giáo Bắc truyền). Sự dung hợp này thể hiện ở nhiều phương diện, nhiều khía cnh khác nhau, mà ở đây bước đu chúng tôi chỉ xin nêu những điểm ni bt và dễ nhn thy mà thôi.

Từ thực tiễn hot đng hong dương Chánh pháp của Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam, có thrút ra mt số đặc điểm, chúng tôi tm cho đó là sự hp dn của H phái Pht giáo này như sau:

Mt là, hình ảnh của đoàn Du Tăng kht thực hduyên, sng đời phm hạnh


Đây là yếu tố đu tiên tạo nên sức hp dn của Hphái. Về vt dng tuỳ thân, Tổ sư Minh Đăng Quang đã chn hình thức tam y nht bát. Hình thức pháp phục và bình bát của đoàn Du tăng Kht sĩ Việt Nam ging như hình nh Tăng đoàn đi kht thực hduyên thời Đức Pht còn ti thế. Chính Tổ sư đã tự mình phát nguyện thgiới Tỳ-kheo, giữ gìn và thực hành 250 giới cm theo quy định vgiới lut của Pht giáo Bắc truyền trong blut Đàm-vô-đức và ly pháp hiệu Minh Đăng Quang mà không phi do mt vị thy Nam truyền hay Bắc truyền nào đt pháp hiệu, dù trước đó, lúc còn niên thiếu, Ngài đã từng qua Campuchia tm thy hc đạo.
 


Hình nh các vị Kht sĩ ôm bình bát đi kht thực với dáng hnh trang nghiêm, nhiếp tâm, nguyện cu và hoá độ chúng sinh vào mi bui sáng và mi ngày chỉ ăn mt bữa, tức thọ thực vào giờ ngọ là mt đặc trưng của Pht giáo Nguyên thuỷ thời Đức Thế Tôn còn ti thế, Ngài đã quy định trong giới lut mà các vị Kht sĩ trong Tăng đoàn phi thực hiện. Quy định này hiện nay Pht giáo Nam truyền (Nam tông Theravàda) vn thực hành. Nhưng khác với Pht giáo Nam truyền ở chỗ là nếu Pht giáo Nguyên thukhi xưa và Pht giáo Nam truyền hôm nay, tín đồ Pht tử dâng cúng thức ăn gì thì độ thức ăn đó, không phân biệt chay mn, trong khi đó giới lut của Hphái Kht sĩ quy định tu sĩ phi ăn chay. Đây là cách tiếp thu giới lut của Pht giáo Bắc truyền.

Vngun gc, thut ngữ Bhikkhu (Pāli) hay Bhiksu (Sanskrit) được phiên âm là Tỳ-kheo, Tỷ-kheo, Tỳ-ku, Tỳ-khâu, Tỷ-khâu v.v… là khái niệm của Bà-la-môn go, dng để chỉ cho giai đon thứ tư tức du hành kỳ” trong cuc đời của tu sĩ Bà-la-môn, trong đó người chgia đình rời bỏ đời sng gia đình, sng bng hnh kht thực và tìm cu chân lý gii thoát. Trong Pht go, thut ngữ này dng để chỉ Tăng sĩ Pht go, người từ bcuc sng thế tục, thụ lĩnh giới lut, tương đương với thut ngữ Sa-môn (thut ngữ này cũng của Bà-la-môn giáo).

Đúng ra thut ngữ Bhikkhu hay Bhiksu nên định danh là Kht sĩ. Gi là Kht sĩ bởi vì theo quan niệm của Đức Thế Tôn, với người xut gia, trên thì kht pháp (xin pháp) từ Đức Pht để tu tâm dưỡng trí, dưới thì đến chỗ nhân gian thế tục để kht thực (xin ăn) nuôi thân. Cũng cn lưu ý là người hành kht (người ăn xin, ăn mày) ở thế gian chỉ xin cơm áo nuôi sng bn thân, không xin pháp và không hoá độ ai cả nên không được gọi là Tỳ-kheo (Kht sĩ).

Khi Đức Pht Thích-ca còn ti thế, Tăng Ni đạo Pht đều sng bng kht thực hng ngày.

Hnh kht thực hiện nay được duy trì ở các nước Pht giáo Nam truyền như: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam... Mục đích của vic kht thực là tạo ra mi liên hệ thân thiết
 


giữa tu sĩ và dân chúng, tạo cơ hi cho tu sĩ hướng dn Pht tử vmt đạo đức và tâm linh, còn dân chúng thì có cơ hi cúng dường tu sĩ, tạo được phước đức cho bn thân mình, hay kết duyên lành với vic tu hành. Người xut gia khi đã thCtúc giới (250 giới đi với nam, 348 giới đi với nữ) thì phi nương theo Tứ y pháp, trong đó có Y theo pháp, nghĩa là Tỳ-kheo (Kht sĩ) phi bỏ nhà cửa gia sn, đi du hóa trong nhân gian, xin ăn nuôi thân, tùy nơi giáo hóa, độ kẻ có duyên phúc và độ người chưa tin, giúp họ có được chánh tín với Pht pháp. Đó là xin ăn để nuôi thân xác và có dp để độ người. Còn xin pháp để nuôi huệ mng, nghĩa là cu xin pháp Pht, ni liền trí tuệ công đức thành tựu của Pht với tâm của mình, y là độ mình. Đủ hai điều kiện này mới được gọi là Tỳ-kheo (Kht sĩ).

Hai là, tôn chỉ và chí nguyn của Hphái


Tôn chvà chí nguyn ca Hphái do Đức Tsư khai sáng đã nêu ra, theo thiển ý, đây là yếu tquan trọng thhai để to nên sức hp dn lớn ca Đo Pht Kht . Tôn ch và chí nguyn này cũng cnh là go lý căn bn ca Đo Pht Kht Sĩ thhiện trong các bài ging pháp ca Đức T, sau này được ghi li đy đủ trong bChơn l.

Khi mới mở đạo, Tổ sư Minh Đăng Quang đã nêu lên tôn chỉ và cnguyện Ni truyền Thích-ca Chánh pháp”. Tư tưởng này có được là nhsau nhiều năm tu hc ti Campuchia và tự nghiên cứu Tam tng kinh điển của hai hNam truyền và Bắc truyền ti Việt Nam, cng sau này nhờ Thiền quán mà Ngài đã đắc pháp, và từ đó Ngài đã cht lc các tư tưởng chính yếu trong giáo pháp của hai truyền thng Pht giáo để nêu lên phương pháp hành trì tu tp của Hphái. Tôn chỉ và cnguyện này đã góp phn làm sng li những hình nh đoàn Du Tăng kht thực, sng đời phm hnh, tm cu gii thoát thời Đức Pht còn ti thế. Bài thi ksau đây có thnói lên tinh thn của người Kht sĩ đã được các nhà sư Kht sĩ đưa vào trong tiểu sử của Tổ sư như là phn ánh tinh thn của người Kht sĩ:

Nht bát thiên gia phn, Cô thân vn ldu.
 


Dc cùng sanh tử l, Kht hoá độ xuân thu.
Tm dịch: Mt bát cơm ngàn nhà,

Mt mình muôn dm xa. Mun dứt đường sanh tử, Xin pháp, độ ngày qua.
(Nguyễn Công Lý dch)

BChơn ltp hợp 69 bài thuyết ging của Ngài cho hàng đệ tử chứa đựng ni dung vkinh, lut và lun. Những bài ging này vừa tóm gọn được tinh hoa của tư tưởng triết lý đạo Pht, rút ra cách nhìn nhn của Ngài về vũ trquan, công lý vũ tr, nhân sinh quan, li vừa chứa đựng những giáo pháp cao siêu, huyền diệu của Đức Pht. Trên cơ sở đó, Ngài đề ra những phương pháp tu tp như du hoá, kht thực, thiền định, trên nền tng giáo lý Tứ diệu đế, Thp nhị nhân duyên, Tam vô lu hc, Bát chánh đạo… Những bài thuyết ging của Ngài được ging bng nn ngữ gin d, mc mạc, rõ ràng, cụ th, không dng n ngữ, với phương pháp diễn gii trực tiếp và lp lun rõ ràng vững chắc theo kiểu Tam đon lun, phhợp với tâm lý và tính cách mc mạc, gin dị của người dân Nam B nói riêng, của người Việt Nam nói chung.

Trong những bài pháp, Ngài đã kế thừa tư tưởng phá mê khai ng, đon trừ tà kiến, phủ nhn uy quyền, thế lực ca đấng Phm Thiên, Đế Thích hay bt kỳ thn thánh nào, như lời Đức Pht đã dy. Tư tưởng đó đcao vai trò ca mi cá nhân con người. Tt c mi người phi tnh nlực tinh cn tu tp, tnh thp đuốc mà đi, tức mi người là ngọn đèn ca cnh nh, tnh quyết định sự sng canh bng con đường Chánh đạo như lời Đức Pht đã dy.

Chính sự gin d, mc mạc trong cách ging thuyết cho đệ tử, cho tín đồ Pht tử nên ai nghe cũng hiểu được Pht pháp và thanh tịnh trong phương pháp tu hành, đt sở đắc. Chỉ trong mt thời gian rt ngn, từ lúc khai lp H phái (1944) đến lúc Ngài vng bóng (1954),
 


tức chỉ trong 10 năm, Ngài đã để li cho môn đồ kho tàng tri thức tâm linh cao vi, tạo được gc rễ vững vàng mà bao thế hệ truyền thừa sau này phi thm cm phục, tri ân, tưởng nhớ. Đây là mt đặc điểm ni bt nht, đáng tôn vinh nht và cũng là niềm tự hào của cả Hphái. Đây cũng chính là cơ sở để sau khi Ngài vng bóng, các hàng đệ tử kế tục ni truyền, và nht là đến hôm nay, Đạo Pht Kht Sĩ đã hiện diện ở nhiều châu lục trên thế giới.

Ba là, về phương pháp tu tập


Đạo Pht Kht Sĩ nêu ra mt schủ trương vphương pháp tu tp như: Hành trì tu tp Giới - Định - Tuệ theo Bát chánh đạo; Thực hành Tứ y pháp; Áp dng tinh thn Lục hcủa Pht giáo Nguyên thuỷ và Đi thừa trong đời sng Tăng đoàn. Với chủ trương sng chung, hc chung, tu chung, Ngài đã dy: Nên tp sống chung tu hc: Cái sống là phi sống chung. Cái biết là phi hc chung. Cái linh là phi tu chung(Chơn lý “Hòa bình). Chủ trương Tự tứ cả giáo đoàn, tức sau ba tháng An cư kiết hạ, đến ngày Rm tháng 7 âm lịch hàng năm, tt cả thành viên của giáo đoàn tp trung Tự tứ ti mt tịnh xá nào đó được thng nht lựa chn và chỉ định. Điểm đặc biệt là Đạo Pht Kht Sĩ ly Giới - Định - Tuệ làm trung tâm để tu tp và đã dung hoà tinh hoa tư tưởng giáo lý của Pht giáo Nam truyền và Pht giáo Bắc truyền mt cách tuyệt vời nht.

Bn là, tên gi trú xứ


Trú xca Hệ phái được gi là tnh, chkhông gi là chùa, tviện, thiền việnnhư Pht giáo Nam truyn hay Bc truyn đã gi. Cách định danh này là gi theo Pht giáo Nguyên thuỷ tthời Đức Pht còn tại thế. Và hi by giờ, các vKht sĩ không ở mt nơi nào cđịnh trong mt thi gian dài vài ba tháng. Tiếp thu cách tổ chức này ca Pht giáo Nguyên thu, Tsư Minh Đăng Quang đã quy định trong giới lut ca Hệ phái là các tu sĩ xut gia không được ở mt trú xứ nào đó quá ba tháng. Trước năm 1975, các giáo đoàn ca Hệ phái tuân thủ quy định này mt cách nghiêm cn, nng sau 1975 đến nay, bi phải chp hành sự quản lý hành chính ca nnước nên quy định này không duy trì. Đây cũng là mt cách
 


ng xlinh hot mm do theo tinh thần khế thi, khế xứ, khế Đức Thế Tôn từng giảng dy.

Năm là, kiến trúc Chánh đin và Bo tháp nơi tnh xá


Đây là nét kiến trúc rt đặc trưng của Hphái. Hi mới mở đạo, Tổ sư đã cho thiết kế xây dựng Chánh điện của tịnh xá theo hình bát giác để biểu trưng cho Bát chánh đạo (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mệnh, Chánh tinh tn, Chánh niệm, Chánh định). Nóc dưới của Chánh điện có 8 mái, nóc trên có 4 mái, trên cng là hình tượng ngọn đuc đt trên hoa sen, để biểu trưng cho ngọn đèn trí tuệ soi sáng chân lý.

Bên trong Chánh điện có 4 trụ ct lớn để chng đỡ mái hình bát giác. Bn tr này là biểu trưng cho tứ chúng thuc Giáo hi (Tỳ- kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di). Chính giữa Chánh điện là ni bảo tháp 3 cp biểu trưng cho Giới, Định, Tu. Mt trên cao, an vị tượng Đức Pht Thích-ca Mâu-ni với khung bng gbên ngoài và bao kính chung quanh. Trên cng tháp thường làm bng gvới 13 tng, tượng trưng cho 13 tng mức tiến hóa: địa ngục, ngạ qu, súc sanh, a-tu-la, nhân, thiên, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la- hán, Bích-chi, Bồ-tát, Như Lai. Thiết kế các mt của Chánh điện đều có cửa và tháp 13 tng là Tổ sư đã căn cứ theo kinh Đi Bát Niết Bàn, phm Di Go thứ 26. Có thể thy, mô hình kiến trúc này của Hphái đã thể hiện sự viên dung của giáo lý tư tưởng Đạo Pht. Phía sau bảo tháp là bàn thTổ sư Minh Đăng Quang. Phía sau Chánh điện, các tịnh xá thường thiết lp bàn thờ Cửu Huyền Tht T. Nơi này, ở chính giữa là tôn tượng ngài Địa Tng Bồ-tát – mt vị Bồ-tát tay cm tích trượng phá địa ngục để dn dt, tế độ tt cả sinh linh thoát khi cnh địa ngục; bên trái là thchư vị hương linh nam giới; bên phi thchư vị hương linh nữ giới.

Cách thiết kế i không gian thiêng liêng như trên đã cho thy nét đặc thù ca Hphái Kht sĩ có kc vi Chánh điện ca Pht giáo Nam truyn hay Pht go Bc truyền. Tt ccác tnh , ti Chánh điện chtôn thĐức Pht Thích-ca Mâu-ni i trung tâm điện thờ. Đây là điểm ging vi Pht giáo Nam truyền, bi Pht go Nam
 


truyn (Nguyên thu) cũng chỉ thphng độc nht Pht Thích Ca i chánh điện. Nng cách bài trí điện thPht ca Đo Pht Kht Sĩ có kc vi điện thờ ca Pht go Nam tông. Đo Pht Kht Sĩ xây bệ thnh bát giác, biểu tượng cho Bát chánh đạo và bo tháp ntrên có nêu. Ngoài ra, ở mt không gian thiêng liêng khác, Đo Pht Kht Sĩ còn thBồ-tát Quán Thế Âm, Pht Di-lặc. Điểm này thì Đạo Pht Kht Sĩ có kc vi Pht giáo Nam truyền, và li có nét ging với Pht go Bc truyn (Đi thừa), nng i Chánh điện ca Pht giáo Bc truyn thờ nhiều hơn, bi các chùa ca Pht giáo Bc truyn bên cnh thTam thế chư Pht, còn thờ nhiều vBồ-tát kc như Quán Thế Âm, Đi Thế Chí, Văn ThSư Li, PhHiền, Đa Tng...

Vbiểu tượng hoa sen và ngọn đèn chân lý. Hình nh hoa sen rt quen thuc trong đời sng của người Việt Nam. Từ phm cht của hoa sen, sng “gn n mà chng hôi tanh mùi n” (Ca dao Việt Nam), Đức Tổ sư đã rút ra bài hc để ging dy cho hàng đệ tử: Đời sống ca hoa sen, lá sen, quả sen tht là từ bi và trí huệ, sống trong khong không trung bao quát mà không thiếu phn lợi ích cho cchúng sanh phía dưới. Thế sao chúng ta li chng noi gương theo, tuy cái sống không mùi vmà được lm sự thanh cao, ý nghĩa qubáu1. Hình nh ngọn đèn chân lý còn được gọi là “Đuc tuhay “Đuc trí tu” là biểu tượng cho Ngọn đuc soi sáng chân lý. Chân lý là lẽ tht của sự vt hiện tượng. Theo nhà Pht, có ba chân lý mà người tu theo Pht thường khắc ghi trong tâm trí của mình, nhà Pht gọi đó là Tam pháp n: “Chư hành vô thường, cpháp vô ngã, Niết-bàn tịch tnh”. Người hc Pht nếu thông tỏ được các pháp hữu vi đều vô thường, tức không thường trtn ti vĩnh hng, tt cả đều phi theo quy lut: thành tr hoi diệt, sinh lão bệnh tử; hiểu rõ các sự vt đều chng có tự ngã, tt cả do nhân duyên sinh ra và cũng do nhân duyên diệt; thì từ đó mới đt được cnh giới tâm tự ti, trống rỗng, lng l, hư tịch, an tịnh, sng an nhiên tự ti trong cõi trn thế. Đó chính là Niết-bàn, là Pht ti tâm, là Bt làm lòng. Chính Hòa thượng Giác Toàn, mt vị Tôn túc giáo phm của Hphái đã đúc kết ý nghĩa hai hình
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lTrên mt nước, Nxb. Tôn go, 2009, tr.491.
 


nh này như sau: Tsư Minh Đăng Quang chn Hoa sen và Ngn đèn chơn lý làm biu tượng cho dòng pháp Ni truyn Thích-ca Chánh pháp – Đo Pht Kht Sĩ Vit Nam(hin nay là Hphái Kht sĩ). T đã bày thướng đem Chánh pháp thanh tnh ca chư Pht (hoa sen) soi dn li cho người hữu duyên (ngn đèn chơn l). Đó là phụng th Chánh pháp mt cách tt đp nhất. (…) Như vy, biu tượng Hoa sen và Ngn đèn chơn lý chính là ltưởng, chính là hoài bão ca Tsư v mt quc đ, mt cuc sống an vui, thun thin ca tt cmi người. Trong đó, người tu phi thhin mt đời sống tu tp trong sáng, thanh thoát, thp lên ngn đèn chơn lphụng hiến cho đời2. Theo Tổ sư khai sáng Hphái, tt cả mi người phi tự là ngọn đèn của chính mình, tự mình tìm đến chân lý, và sau khi giác ngộ đủ đy mới giáo hcho người khác: “Tự gc, gc tha, gc hnh viên mãn” như lời Đức Pht đã từng dy.

Sáu là, nghi thức hnh lễ, kinh văn đọc tng


Nếu Pht giáo Nam truyền đc kinh văn bng tiếng Pali; Pht giáo Bắc truyền đc kinh văn Hán tng (qua phiên âm Hán Việt), thì Pht giáo Kht sĩ chủ trương đc kinh văn bng tiếng Việt. Kinh văn được dịch sang tiếng Việt bng văn vn chyếu là theo thể thơ song tht lục bát, rt phhợp với dân tc nên dễ đc, dễ tng, dễ nhớ, dễ thuc. Điều này là Tổ sư đã hc tp lời dy của Đức Thế Tôn khi còn ti thế. Ngài đã khuyên các đệ tử nên dng nn ngữ bn xứ để truyền ging giáo pháp, mt dng thức bn địa hnn ngữ, tức vn dng tinh thn khế xứ, khế thời để truyền bá Pht pháp. Ngay từ lúc mới khai đạo, nghĩa là những năm 40 của thế kXX, Tổ sư Minh Đăng Quang đã tự biên son kinh văn bng chữ Quc ngữ. Đây là mt điểm rt tiến b, thể hiện tm nhìn xa tng rộng của Tổ sư. Hiện nay Giáo hi Pht giáo Việt Nam cũng có chủ trương dịch toàn b kinh văn Pali tng, Hán tng sang tiếng Việt để tt cả mi người đc tng, tuỳ theo trình độ và căn cơ, ai ai cũng có thể lĩnh hi Pht pháp được dễ dàng.
 
  1.  
  1. HT. Thích Giác Toàn, Tham lun in trong Kyếu Hi tho khoa học 300 năm Pht giáo Gia Đnh – Sài Gòn, Nxb. TP. HCM, 2002, tr.44 – 46.



Vnghi thức hành lễ và trì tng, khi mới mở đạo, Đức Tổ sư đã đề ra mt nghi thức rt gin đơn, nhm thun tiện cho người tu hc. Bên cnh đc tng kinh văn bng tiếng Việt mà Ngài đã tự dịch sang thể thơ, thường là thơ song tht lục bát, khi hành l, trì tng kinh văn, Hphái này có chủ trương chỉ thỉnh chuông, chứ không gõ mõ, cũng không dng trống, kèn, tang nhp như thường thy trong nghi lễ của Pht giáo Bắc truyền. Đây cũng là mt biểu hiện làm nên nét đặc trưng của Đạo Pht Kht .

Tt cả, theo thiển nghĩ, đã tạo nên sức hp dn của Pht giáo Kht sĩ đi với mi người. Điều đó đã lý gii ti sao H phái này chỉ mới ra đời khong 70 năm, nếu so với hàng ngàn năm của lịch sử Pht go, li được truyền thừa rộng rãi và có mt trên khp các châu lục như hiện nay.


 

***


TÀI LIỆU THAM KHO
 
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn l, Thành hi Pht giáo Thành phHCMinh n hành, 1993; Nxb. Tôn go, Hà Ni, tái bn, 2009, 950 trang.
 
  1. Hàn Ôn, Minh Đăng Quang pháp go, Nhà in Long Giang, Sài Gòn, 1961, 134 trang.
 
  1. Hphái Kht sĩ, Ánh Minh Quang, Nxb. TP. HCM, 2008, 110 trang.
 
  1. Thích Hnh Thành, Tìm hiểu Pht go Kht sĩ ở Nam Bộ Việt Nam (trong thế kXX), Nxb. Tng Hợp TP. HCM, 2007, 136 trang.
 
  1. Thích Giác Duyên, Tìm hiểu vPht go Kht sĩ, Nxb. Tôn go, 2014, 340 trang.
 
  1. Nhiều tác giả, Kyếu Hi thảo khoa hc, 300 năm Pht go Gia Đnh – Sài Gòn, Nxb. TP. HCM, 2002.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây