03. BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ

Chủ nhật - 09/09/2018 04:09
BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ của NT. Ánh Liên - Giáo phẩm Ni giới Hệ phái Khất sĩ
 
 

Dn luận


Vào thp niên 40 – 50 của thế kXX, xã hi Việt Nam bước vào mt giai đon lịch sử đy biến đng. Tình hình chính tr, xã hi bt n, nhiễu nhương, đời sng của người dân vô cng khn đn. Tt cả như chờ đón mt cuc thay đi triệt đ, nht là vn mệnh của đt nước và cuc sng của người dân, vt cht cũng như tinh thn. Trước những bt an và biến đng của đời sng xã hi, xu hướng chung của con người là tìm cho mình mt chỗ dựa tinh thn, mt điểm tựa tâm linh hu vượt qua những cam khcủa cuc sng. Trong lúc này, vai trò của các tôn giáo nói chung, đặc biệt là của Pht giáo – mt tôn giáo đã gn liền với lịch sử phát triển của dân tc hàng ngàn năm – trong vic định hướng, dn dt tâm linh con người là vô cùng bức thiết. Đây cũng là mt áp lực đt ra cho hàng Giáo phm của Pht go, những bậc chân tu ưu tư thao thức mun chn chỉnh cũng như mun khai mở con đường tâm linh chân chính để dìu dt tinh thn Pht tử nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng.

Trong bi cnh đó, ti miền Nam Việt Nam (cụ thể là miền Tây Nam Bộ) xut hiện mt dng Pht giáo mi, có hình thức bên ngoài tương tự với Pht giáo Nam tông, nhưng ni dung bên trong pháp thực hành thì đm đà bn sắc của người miền Nam Việt Nam, yếu chỉ cũng khác với các tông phái Pht giáo đương thời ti Việt Nam. Các tu sĩ trong dng Pht giáo này có hình tướng tam y nhứt bát, không
 


an trmt nơi cố định mà du phương kht thực và truyền bá Pht pháp đến người dân. Tuy kht thực hóa duyên tương tự Pht giáo Nam tông nhưng các vị Kht sĩ chủ trương ăn chay ng. Với tên gọi là Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam, hệ thng Pht giáo này được khai sinh bởi mt vị Tôn sư trtui, có pháp hiệu là Minh Đăng Quang.
  1. Thân thế Tổ sư Minh Đăng Quang

Tổ sư Minh Đăng Quang thế danh là Nguyễn Thành Đt, xut thân trong mt gia đình Nho giáo ti làng Phú Hu, tng Bình Phú, qun Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Thân sinh của Ngài là công Nguyễn Tn Hiếu và cbà Phm Thị Nhàn. Lúc còn nh, Ngài đã có những phm cht khác thường: thông minh, điềm đm, giàu lòng nhân ái và thích trm tư. Mới 14 tui, không ging như những thiếu niên cng trang lứa, Ngài quan tâm nghiên cứu sách sử, thư tịch của Nho, Lão, Pht. Khi đủ cơ duyên, Ngài qua Campuchia tìm thy hc đạo. Qua mt thời gian, chưa thỏa mãn với những gì do các vị sư Khmer truyền dy, Ngài từ gh, trvquê nhà và đến núi Tô Châu - Hà Tiên, lên Mũi Nai tham thiền nhp định sut by ngày đêm, cui cng, Ngài đắc định, triệt ng chơn lý.

Sau khi thu triệt được lẽ đạo, Ngài rời núi, xung thôn làng hành trì Tứ y pháp, du hóa khp đó đây, ly pháp kht thực làm phương tiện tự đ, độ tha.

Nhìn thy thân tướng trang nghiêm, lục căn tỏa sáng của Ngài, bá tánh vô cng ngưỡng m, hrủ nhau đến thưa hi Ngài về đạo lý mà Ngài đang hành trì. Ngài ging gii thông sut, khế lý, khế cơ, thỏa mãn sự tìm hiểu của mi tng lớp thính chúng. Trong số những người đến nghe Ngài ging, có mt sngười phát tâm xut gia, nguyện đi theo Ngài sng đời tu sĩ, những người chưa đủ duyên thoát tục, xin làm cư sĩ, vừa thực hành pháp dành cho cư sĩ, vừa hộ trì Chánh pháp.
  1. Nhân dun thành lp Đạo Pht Kht Sĩ

Vn pháp trên thế gian này có ra đều nm trong quy trình nhân quả. Kết quả xut phát từ nguyên nhân. Có 3 nguyên nhân chính để
 


Đạo Pht Kht Sĩ ra đời, đó là:
    • Tình hình đt nước Việt Nam và Pht giáo Việt Nam lúc by giờ (1946 – 1954).
 
    • Hưởng ứng phong trào chn hưng Pht giáo với tt cả tâm huyết Ni truyền Thích-ca Chánh pháp.
 
    • Đáp ứng nhu cu của đi đa squn chúng.
 
  1. Tình hình đt nước Vit Nam và Phật giáo Vit Nam (1946
– 1954)

Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam ra đời, sau này là Hphái Kht sĩ, không tách rời bi cnh Pht giáo Việt Nam đang trong phong trào chn hưng, giai đon của những thp niên 40 – 50 như đã đề cp trong phn dn lun. Tình hình Pht giáo Việt Nam lúc by giờ như nhn định của TT. Thích Mật Thể trong Vit Nam Pht go sử lược: Những bậc cao Tăng tuệ đức thì ít như sao mai, kinh điển còn nm nguyên trong Hán tng, người xut gia thì quên chí nguyện cao cả ca mình là: Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự” đhong hóa Chánh pháp, phđchúng sanh, li còn đồng hóa theo thế tc, đời sống bt tnh, ly sự cúng kiến làm kế sinh nhai. Người xut gia nthế thì người ti gia làm sao còn biết được Pht pháp là gì. Ngay cPht Thích-ca làm gì, ở đâu, lch sử ra sao cũng không biết nt, thì còn nói chi đến vic học đạo tu tập. Nhìn chung thì cbu trời Pht go Vit Nam lúc đđang chìm trong bng tối âm u1.



Tht ra, Pht giáo Việt Nam đã bt đu suy yếu từ thời Hu Lê (thế kỷ thứ XV). Nhìn chung, hu hết vua quan phong kiến đều chung giáo lý nhà Nho, vì đạo lý “tam cang ngũ thường” rt có lợi cho chế độ phong kiến. Mãi đến thế kỷ XIX – XX, nền công nghkỹ thut Tây Âu du nhp Việt Nam, đạo lý Nho giáo trnên li thi. Các nhà trí thức Nho giáo ý thức được điều đó, thy đạo Pht rt nhân bn và có tính khoa hc thực tiễn, thích ứng với mi thời đại, nên hquay sang kêu gọi xương minh Pht go, hu bảo vbn sắc dân tc,
  1. TT. Thích Mt Th, Vit Nam Pht giáo sử lược.
 


hn chế nh hưởng văn hóa Tây Âu. Tiêu biểu cho lớp trí thức này có các cPhan Khôi, Phan Bi Châu, Phan Chu Trinh… Lời kêu gọi của các cụ như phát pháo hiệu lệnh, mmàn cho phong trào chn hưng Pht giáo sau này. Mt phn nữa, cũng do nh hưởng từ phong trào chn hưng Pht giáo quc tế ở n Đ, Tích Lan, Trung Hoa...

Ti miền Nam có các HT. Khánh Anh, HT. Huệ Quang, HT. Huệ Định… thành lp Hi Lục hòa Liên hiệp Pht giáo Việt Nam và cho ra đời Tp cTừ Bi Âm (1932).

Ti miền Trung, HT. Giác Tiên thành lp Hi An Nam Pht giáo với sự cng tác của quý HT. Phước Hu, HT. Phước Hu… và mt số nhà trí thức cư sĩ như các cLê Đình Thám, Nguyễn Khoa Toàn, Nguyễn Khoa Tân… xut bn Tp cViên Âm.

Ti miền Bắc có Hi Bắc KPht hc do quý HT. Thích THi, HT. Tâm Bo... sáng lp và cho ra mt Tp cĐuốc Tudo cư sĩ Nguyễn Năng Quc làm chủ nhiệm.

Cả 3 miền Nam-Trung-Bc đều rầm rộ hô hào chn ng Pht giáo bt đu tnăm 1923 cho đến năm 1935. Tuy nhiên, trong thi gian hơn mười năm hot động, phong to chn ng vn còn nng vmt lý thuyết, chưa đi sâu o thực hành như nhn định ca TT. Thích Mt Th: Pht go hin thi đã cphn chn chỉnh. Nng cmột trlực mà ca hội nào hay sơn n nào gii quyết, là bng cđộng thì hội nào cũng cđộng bng quc văn là nn văn hóa phổ tng, nng kho kinh đin triết lý nhà Pht vn còn nguyên khối bng Hán văn. Vli, du tích đồi bi, điêu tàn ca ngày qua, hin nay vn còn u hành rõ rt và có thế lực. Nên tht ra, cmy hội Pht hc y, ngoài my việc xây hội quán, làm chùa và cđộng một sđông người quy y, còn ca hội nào làm được việc gì vĩ đi cvẻ đỉnh ch cho nn Pht go cả.

Trong lúc này, đi đa số Tăng đtrong sơn môn vn còn mơ màng thiêm thiếp, chưa làm mt việc gì trõ là người thức tnh. Cho nên, tuy hiện gicphong trào chn hưng mà kthực mới là chn hưng nh
 


thức và danh hiệu2.

Phn ánh thực tế này, Tổ sư Minh Đăng Quang trong Chơn lTông gocũng đã nói: Đo Pht ngày nay đã không còn giống y như xưa nữa; ai cũng gi là đệ tử Pht, niệm tên Pht mà không giữ giới lut. Tông go càng rộng, sự tín ngưỡng càng nhiều thì giới li càng mt, triết lcàng lu; Tăng đcàng suy, thì vt cht càng thnh. Tăng là ging mi tâm hn, là tinh thn sanh chúng, thế mà Tăng chia lìa, tht lạc, thì thn vt cht sao chng hoành hành, chôn lp chúng sanh? Trần thế trách sao không nguy hi?3. Tình hình Pht giáo nói chung và tình hình Pht giáo miền Nam nói riêng, đặc biệt là miền Tây Nam B, li càng suy vi bi đát hơn. Nam Bvốn là vùng đt mới của Tquc, Pht giáo ở vùng này có điểm khác biệt với Pht giáo miền Bắc và miền Trung, vốn có truyền thng lịch sử lâu đời. Pht giáo miền Tây Nam Bộ là sự pha trộn giữa tín ngưỡng dân gian mang đm màu sắc mê tín, cng với tâm thức con người còn in đm yếu tmôi trường sng của mt vùng đt mới khai phá còn hoang vu, đy sơn lam chướng khí và thú dữ. Tính cách của người dân nơi đây vốn cht phác, nhân hu, hào hiệp nhưng cũng rt dễ tin, nên họ dễ bị tiêm nhiễm những tư tưởng tiêu cực, ít bữa nghe nói chnày Pht v, vài hôm li nghe chkia Thánh hiện. Lm người tự xưng mình là Pht mượn xác, là Thánh nhp hn để cứu nhơn độ thế. Tà giáo ngoi đạo lợi dng khnày để xâm nhp vào những nơi tín ngưỡng như chùa chiền, điện miếu, những bậc tuệ đức thì hiếm hoi, hot đng tín ngưỡng thì lng lo, thiên vcúng bái quàng xiên, thiếu môi trường giáo dục. Vì vy, cả tu sĩ ln cư sĩ mi ngày mt ít, từ chchánh tín chuyển thành mê tín, chánh mng thành tà mng là điều không tránh khi.

Sự suy vi xung dc của Pht giáo Việt Nam là do nh hưởng từ bên ngoài xã hi Việt Nam.

 
  1.  
  1. TT. Thích Mt Th, Vit Nam Pht giáo sử lược.
  2. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, tp II Tông go, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2009, tr.110-111.
 
 
  1. Bi cnh lch sử và xã hi Vit Nam

Như trong phn dn lun đã đề cp, bước vào giai đon nửa cui của thế kXX, xã hi Việt Nam đứng trước những biến đng, xáo trộn dữ di trên mi lĩnh vực của đời sng, chun bcho mt cơn chuyển mình của lịch sử dân tc.
  • Vtình nh chính tr, những mâu thun cơ bn của xã hi Việt Nam đến giai đon này phát triển mt cách gay gt, quyết liệt, không thể điều hòa được. Đó là mâu thun giữa dân tc bị trị và đế quc cai tr, mâu thun giữa giai cp địa chphong kiến và nhân dân lao đng. Thời kỳ đt nước tm n định để thực dân Pháp khai thác thuc địa vào đu thế kkhông còn nữa. Vào giai đon này, xã hi Việt Nam ngoài sự tn ti của gung máy thng trị thực dân Pháp còn có sự hiện diện của bmáy phát xít Nht. Người dân Việt Nam phi sng trong tình cnh mt cổ đôi tng”: Thực dân – Phát xít, có thkể thêm bmáy phong kiến mục rung của triều đình nhà Nguyễn ở Trung và Bắc K. Ngược li, đây cũng là giai đon mà các phong trào yêu nước và cách mng của nhân dân bng phát mnh mẽ dưới nhiều xu hướng chính trị nhm mục tiêu đc lp dân tc.
 
  • Vvăn hóa, hi Việt Nam vào giai đon này cũng diễn ra những thay đi toàn diện và sâu sắc: Từ những thp niên đu của thế kXX, cng với công cuc bình định và khai thác thuc địa, thực dân Pháp đã mmang đường sá, chbúa, trường hc, bãi bỏ li hc và chế độ khoa cử phong kiến, cho ra đời ngày càng đông tng lớp trí thức tân hc, hp thụ văn hóa và văn minh phương Tây. Phong trào Âu hóa bên cnh những yếu tố tích cực vquan niệm tự do, gii phóng cá nhân ra khi chế độ đi gia đình phong kiến, xây dựng hoài bão phục vụ xã hi… làm mai mt nhiều phm cht đạo lý truyền thng tt đẹp của dân tc. Những đòi hi tự do cá nhân cực đoan dễ dn đến li sng ích k, phóng túng, sa đọa. Xã hi ngày càng thiên về những giá trị vt cht tm thường, thì các giá trị tinh thn dn dn bphá sn. Thực dân Pháp li nuôi dưỡng bmáy thng trị phong kiến lạc hu ở nông thôn để làm chỗ dựa kìm kẹp đời sng vt cht và tinh thn của người nông dân.
 
 
  • Vkinh tế, quan hkinh tế hàng hóa và kinh tế tiền tệ theo tư bn công nghiệp của thực dân Pháp từng bước đy lùi và thu hẹp phm vi kinh tế tự túc tự cp tiểu nông phong kiến để hình thành mt nền kinh tế thuc địa nửa phong kiến. Hình thái kinh tế này đã đẻ ra tng lớp tiểu thị dân và tư sn thành thị bên cnh tng lớp địa chphú nông vn được duy trì để làm chỗ dựa cho chính sách c lt của thực dân Pháp. Trước tình hình đó, đi bphn nhân dân ta và người lao đng nói chung ngày càng bị đy vào con đường bn cng, bế tắc.

Có thnói rằng, xã hi Việt Nam nửa cui thế kXX là mt giai đon cực kỳ xáo trộn và khng hong. Tt cả yếu tố trên trở thành mt tiền đề tt yếu cho những ci cách triệt đ, cách mng nht, không chỉ vmt chính trị mà còn cả về đời sng văn hóa, tinh thn của người dân.

Hoàn cnh Pht giáo và xã hi Việt Nam lúc by giờ là nhân t quyết định cho Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam ra đời để dựng li những gì đã bnghiêng đ, khêu tngn đèn đã lu mờ”.
  1. Hưởng ứng phong trào chn hưng Phật giáo với tt ctâm huyết “Ni truyn Thích-ca Chánh pháp

Theo quan điểm của Tổ sư Minh Đăng Quang, sự chn hưng Pht giáo phi đt nng trên phương diện thực hành chkhông phi hô hào suông. Từng cá nhân Tăng sĩ phi ý thức trách nhiệm của mình trước sự suy vong của đt nước và đạo pháp, phi làm mt cái gì đó để đóng góp vào công cuc chn hưng này. Nghĩa là hơn ai hết, bn thân của tu sĩ phi gương mu chn hưng trước, phi nghiêm túc thực hành Giới – Định – Hu, ly Tứ y pháp và nếp sng Lục hòa kỉnh làm nền tng cho sự tu hc. Trong Chơn lTông go, Tổ viết: Tăng chúng phi đgiới lut đquy hợp cư gia, để gn liền tông go, hu vt bng mê tín, đem cõi đời tr li ban ngày y n Pht hi xưa khi trước”.

hãy nghĩ đến Đo, đến Pht, đến chúng sanh,… phi nâng cao giới lut, đmới là phn sự ca Tăng bảo,… Phi tạo nc thang cho
 


người lên, phi chbmé cho người đến, phi sm tàu ghe vớt người nguy, đmới là phn sự chánh ca Tăng-già… Tht vy, chcTăng chúng mới lp đo đng.4 Thiết nghĩ, những lời nhn định y không gì xác đáng và minh triết hơn. Những bình lun của Tổ sư cho đến bây giờ vn còn đáng cho giới tu hành suy ngm và dường như nó vn còn nguyên vẹn giá trị và tính thời sự.

Đau xót trước bi cnh đt nước và đạo pháp suy vi như thế, Tổ sư Minh Đăng Quang mun làm mt cái gì đó để “kp thời cứu nguy” cho đạo pháp và dân tc. Ngài xác tín giáo pháp của Đức Từ Phụ Thích-ca Mưu-ni là vô cng quý báu, là phương pháp “ly khổ đắc lạcchắc tht, miên viễn, Bát chánh đạo là con đường ti ưu để gii thoát chúng sanh ra khi mi khổ ách của trn thế.

Cng với phong trào chn hưng Pht giáo của các bậc Tôn túc đang phát đng, Tổ tư duy chín chn rồi dũng cm thực hành ngay và đng viên hàng môn sinh thực hành triệt để những giáo điều của nhà Pht, khôi phục li nếp sinh hot của Tăng đoàn ngày xưa. Sự có mt của Đạo Pht Kht Sĩ trong những năm 1946 – 1954 là vô cng cn thiết, là hết sức kp thời cho phong trào chn hưng Pht giáo Việt Nam, để làm gương sáng cho giới Tăng sĩ và để cng cố niềm tin chân chính cho giới cư sĩ ti gia. Bởi vì Tnói Giới lut còn thì đạo Pht còn, ở đâu có giới lut ở đó có đạo Pht. Đức Pht cũng nói Giới là thmng của Tăng-già, ở đâu có Bát chánh đạo (Giới, Định, Huệ) ở đó có Sa-môn (Sramana): Sau khi Ta nhp Niết-bàn, c người phi ly Giới làm thy, nếu Ta còn sống thì cũng vy thôi, không khác. Nghĩa là phi triệt đtôn trọng giới lut(Kinh Di go).


Với tâm nguyện Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, Tổ sư Minh Đăng Quang quyết tâm khôi phục li pháp hành của Tăng-gkhi Pht còn ti thế, ly Tứ y pháp và nếp sng Lục hòa kỉnh làm pháp hành căn bn. Tứ y pháp là 4 chỗ nương tựa thiết yếu: Ăn, mặc, ở, bệnh. Con người được tn ti không thể thiếu 4 nhu cu này. Nhưng
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn ltp II Tông go, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2009, tr.111-112.
 


nếu con người không biết giới hn thì cũng chính 4 nhu cu này sẽ thiêu đt, nhn chìm con người ti lăn trong ng luân hi vô lượng kiếp, mt hết tự do, mt hết chquyền và chu khổ đau đến vô cng vô tn. Thế nên đi với người xut gia, mun đi trọn con đường tâm linh để đt đến giác nggii thoát thì phi ý thức đâu là nhu cu cn thiết và đâu là tâm tham lam hưởng thụ để không rơi vào 2 cực đoan thái quá (ép xác) và bt cp (hưởng thụ). Tổ dy: Tứ y pháp là Chánh pháp ca cPht mười phương ba đời, là go lý Y bát Kht sĩ vy5. Tổ nhn xét: Pht go Bc tông tuy ăn chay nng không ăn ngọ và không đi vân du kht thực. Ngày ăn nhiều bữa thì bn rn vvn đm thực, mt thì gitu trì, không du phương hong hóa thì khgii thoát chỗ ở và tiện nghi”.

Pht và cTăng ngày xưa giữ giới ăn ngọ rt k. Bởi vì sự sng của Tăng sĩ chỉ bng phương tiện kht thực, trong chùa không được phép nu nướng, và cTăng Ni chỉ đi kht thực vào bui sáng, độ cơm vào bui trưa, chiều nghe Pht thuyết pháp và hc kinh (Pht nn), ti tham thiền và nghỉ ngơi. Nếu ăn vào bui chiều ti thì chiều phi đi kht thực, mt thì giờ nghe pháp, hc kinh, ban đêm bị thức ăn làm nng bng, khó nhiếp tâm thiền định. Ngày xưa cũng có hàng cư sĩ vì quý kính Pht và cTăng, nên họ thỉnh Pht ăn thêm bữa sáng (điểm tâm) để cho có sức khe. Nhưng Pht dy: Ngày ăn mt bữa, ta thy có sức, ít bnh, nhnhàng, an vui”. Du vy, Ngài vn khai giới cho những người già, bịnh được ăn thêm bữa sáng bng thức ăn loãng, nh. Tổ sư Minh Đăng Quang cũng vy, mi ngày Ngài chỉ dng mt bữa duy nht vào giờ ng, nhưng Ngài vn mngoặccho những vị già, bịnh.


Như vy, ta thy bữa ăn chiều là không cn thiết. Khoa hc ngày nay cũng xác nhn là bữa ăn chiều ti không sinh năng lượng mà chỉ sinh mỡ, không phhợp với phép dưỡng sinh. Đức Pht rt minh triết trong vic chế giới ăn ng, căn bn là chế ngự tâm tham ăn, vì trong ndục: tài, sắc, danh, thực, thùy (những chướng ngi lớn
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn ltp II Chánh pháp, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2009, tr.7.
 


cho vic phát triển tâm linh), thì cái dục m thực cũng rt nng n, rt khó khắc phục. Phòng hộ được 6 căn: Mt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì giới lớn (Ctúc Tỳ-kheo giới) và giới nhỏ (Sa-di thp giới) đều không phm.

Vbên Pht giáo Nam tông, ăn ngọ và dng tam tịnh nhc. Tnói: Tam tnh nhc là thịt ca người ta, hay là thịt ca thú vt, tự hchết b, không cai giết hi6. Pht xưa khi hành đạo qua những vùng nhiệt đới, đt đai khô cn, rau cỏ không mc được, dân chúng ở nơi đây chỉ sng bng tht thú vt, nhưng họ rt mến mPht, mun hc giáo lý của Ngài và mun đi theo con đường tâm linh của Ngài. Vì mun dìu dt họ để cho họ có được sự lợi ích lớn, nên Pht linh đng chế ra giới tam tịnh nhục. Đó là pháp tu phương tiện quyền xảo, không phi pháp tu căn bn.

Việt Nam ta vốn là mt đt nước rt di dào rau quả, người dân Việt Nam có thsng bng rau quả, không cn đến huyết nhục chúng sanh mà vn đủ bổ dưỡng, để khi cng nghiệp sát.

Tổ sư Minh Đăng Quang nói: Vn hay rằng: giữ mt cái ăn không cũng là chưa đủ, nng mà thiếu mt điều thiện, thì cũng khtrông thành Pht đng!”.7

Bng tuệ giác của bậc chơn tu, Tổ sư Minh Đăng Quang rút tỉa ưu điểm của mi bên: Ăn chay của Bắc tông và ăn ngcủa Nam tông cng với Tứ y pháp của Đức Pht. Tam y nhứt bát vân du kht thực, tự đ, độ tha, không trú xứ cố định, không ct chứa bạc tiền, không đi giày dép, không sở hữu chùa chiền, tín đồ bn đạo (vô ngã và nsở) và ăn chay ngrồi hình thành Đạo Pht Kht , đó là điểm ni bt, là nét đặc trưng, là bn sắc của Kht sĩ mà những tông phái Pht giáo khác không chú trọng.
  1. Đáp ứng nhu cu qun chúng
 
    1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn ltp I Ăn chay, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2009, tr.321.
    2. Sđd, tr.338.
 


Trước những bt an và biến đng của đời sng xã hi như đã nói ở phn dn lun, xu hướng chung của con người là tìm cho mình mt li thoát, mt điểm tựa tinh thn hu vượt qua những khn khcủa đời sng. Do vy, Pht giáo là đi tượng cho con người quay về nương tựa. Nhưng Pht giáo miền Tây Nam Blúc by giờ cũng bi thm, không khác chi tình hình xã hi bên ngoài.

Sự xut hiện của Đạo Pht Kht Sĩ ti miền Nam Việt Nam vào thời điểm này như ngọn đèn sáng giữa đêm ti mt mng, như trn mưa rào giữa trời hè khô cháy, như lung gmát rượi giữa khí trời oi bức, thỏa mãn khát vọng tâm linh của nhiều người.

Bước chân du hóa của cTăng Ni Kht sĩ lúc by giờ đi đến đâu được dân chúng hưởng ứng đến đó, không có thời pháp nào của Tổ sư Minh Đăng Quang mà không có người phát khởi thiện tâm, nguyện sng đời tịnh hnh, vâng giữ theo lời Tổ dy. Những người chưa đủ cơ duyên thoát tục thì nguyện làm cư sĩ, vừa tu tp pháp vừa hộ trì Chánh pháp. Bóng y vàng xut hiện ở nơi nào thì tịnh xá Kht sĩ mc lên ở đó, như thơ của HT. Giác Toàn:

Mi bước chân là mi đóa sen, Sáng ngời chân lánh hoa đèn”.
Hàng cư sĩ thnăm giới, tám giới, ăn chay trường và tu thp thiện, mi tháng 4 ngày, quy tvề các tịnh xá rt đông, như nhà thơ TrVũ miêu tả:

Như hướng dương theo mt trời, Mt người đi cvn người theo chân. Nền mng đo đp xây dn,
Tăng-già Kht sĩ truyền chân Pht thừa”.

Bui ban sơ, Tổ ra đi hành đạo có mi mt mình (nhứt bát thiên gia phn, cô thân vn ldu), nhưng chng bao lâu, s người xut gia mi ngày mt đông, cư sĩ ti gia cũng tăng nhanh gp bi. Mi sáng, Tăng Ni đi kht thực, hình bóng y vàng bay lượn trên khp các no



đường Nam B, làm sng li hình nh Tăng đoàn thời Đức Pht còn ti thế, qun chúng vô cng hân hoan.

Từ thực tế đó, Tổ sư Minh Đăng Quang tùy duyên thành lp Đạo Pht Kht Sĩ để đáp ứng nhu cu tâm linh, tín ngưỡng của qun chúng, cụ thể là nhân dân Nam BViệt Nam.

Kết luận


Sinh ra và lớn lên trong thời bui Pht giáo nước nhà trong cơn nguy biến, tình hình đt nước cũng suy thoái trm trọng, Tổ sư Minh Đăng Quang mun làm mt điều gì đó để chn chỉnh đạo pháp, gii phóng tâm linh con người, góp phn làm cho Giáo hi Pht giáo được hưng thnh và xã hi trnên bình an. Qua kinh nghiệm thực chứng, Ngài thy giáo pháp của Đức Pht vô cng quý báu, Bát chánh đạo là con đường duy nht đưa chúng sanh vượt thoát khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngNiết-bàn.

Tam tng Kinh, Lut, Lun ca Pht giáo là di sn vô cùng vĩ đi mà Đức Pht đã đli cho chúng sanh, hiến tng con đường đt đến giác nggii thoát, là nền giáo lý đồ s, là mt cng hiến lớn lao cho hnh phúc nhân loi, giá trca nó vượt không gian thi gian. Cho đến nay, Đức Pht nhp Niết-bàn đã 2557 năm song nh hưởng ca giáo pháp giác ng, gii thoát vn còn bao trùm khp năm châu bn biển, đem li lợi ích lớn lao và thiết thực cho tt cchúng sanh vô cùng vô tn. Vì thế, thế gian tôn vinh Đức Pht là Tsanh chi từ ph(cha lành ca bn loài: Noãn sanh, thai sanh, thp sanh hóa sanh).

Cng với phong trào chn hưng Pht giáo đang phát đng, với tt cả tâm huyết và lòng từ bi, Tổ tự hành trì và đng viên hàng đệ tử thực hành triệt để những giới pháp nhà Pht, nhm phục hưng Chánh pháp, T cho đó là li thoát duy nht cho đạo pháp và dân tc mà hàng Tăng sĩ có thể thực hiện được.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây