34 HIỆU NĂNG CÙNG Ý NGHĨA TRONG PHƯƠNG CHÂM: “ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Chủ nhật - 02/09/2018 08:18
Tham luận của GHPGVN tỉnh Bình Thuận
Nước Việt Nam có 4000 năm văn hiến thì Phật giáo đã hòa nhập, đồng hành cùng dân tộc đến hơn 2000 năm. Với ngần ấy thời gian, Phật giáo Việt Nam luôn hòa quyện, chung lòng, song hành và tích cực tham gia trợ lực chống các cuộc ngoại xâm và sống cùng với sự thăng trầm của đất nước. Theo tinh thần đó, các nhà tư tưởng Phật học đã ví Phật giáo qua một ảnh dụ: “Phật giáo như nước - tùy theo vật dụng chứa đựng nó mà nước theo đó biểu hiện hình dạng: vuông, tròn, dài, ngắn, to, nhỏ… khác nhau v.v…” Vì bản chất Phật giáo là “tùy duyên bất biến, bất biến mà vẫn tùy duyên”.
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN TẠI
Trải qua 35 năm thành lập Giáo hội, nay đã đến Đại hội lần thứ VIII của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, một Giáo hội trong lòng dân tộc, nhờ sự trợ duyên của Đảng, Nhà nước; vận động thống nhất các sơn môn hệ phái, thống nhất từ trong ý niệm - tổ chức và phương thức hành động. Nhờ đó tạo nên sự ổn định nội tại, phát huy được chức năng và đầy đủ sức mạnh để dung hòa - xây dựng Giáo hội với phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội”.
Công bằng mà suy cứu, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã kế thừa truyền thống tốt đẹp và đầy sinh lực nhập thế mà tiền nhân đã để lại. Cho nên, trong bối cảnh nước nhà hoàn toàn độc lập, Phật giáo cũng thống nhất trong tổ chức, thống nhất ý chí và tư duy biện chứng để thể hiện tốt bản hoài câu châm ngôn thực tiễn trong lòng Tăng Ni, Phật tử và dân tộc.
Về nội hàm ý nghĩa và mục tiêu câu châm ngôn này, hầu như Phật giáo Việt Nam đã thực hiện ngay từ khi có mặt ở đầu kỷ nguyên. Điển hình qua cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kết thúc, nhiều nữ tướng của hai bà đã bỏ cuộc sống trần tục, theo tựa cửa Thiền như: Bát Nàn phu nhân, Thiều Hoa, Vĩnh Huy… Họ đi vào cửa Thiền không phải để tiêu cực lánh đời, mà họ thừa biết cửa Thiền có triết lý sống độ lượng, bao dung, từ bi vô ngã… để có thể từ đó, họ phục vụ xã hội nhân sinh dưới hình thức khác.
Như vậy, đạo pháp và dân tộc đã hòa quyện với nhau. Trên phương diện luận lý, không thể nói có đạo mà không có đời, hoặc chỉ có đời mà không có đạo. Vì con người hành đạo cũng từ người đời mà có và con người đời đã hàm dung đạo. Bởi lẽ đạo là chỗ dựa tâm linh, nằm ngay trong con người xã hội và vượt lên trên xã hội. Các nhà nghiên cứu tôn giáo cho rằng: “Từ khởi thủy, con người đã tìm đến đạo qua sự kiện bái vật linh, bái tự nhiên… mây mưa sấm chớp… Vì trong hiện thực, con người quá nhỏ bé so với thiên nhiên.Khi xã hội chưa khai
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM | 297
phóng, khoa học chưa tiến bộ, con người lo sợ trước những hiện tượng kỳ lạ nên cần phải có chỗ dựa ở tâm linh, từ đó mà có Đạo - Tôn giáo”.
Ngày nay, Phật giáo chúng ta sống và hành đạo trong nhịp thở của toàn cầu, trong xã hội văn minh tiến bộ, khoa học công nghệ đã lên đến mức cao xa; đặc biệt ở Việt Nam, lấy triết lý xã hội bình đẳng, tiến bộ, văn minh vì quần chúng của triết học Mác Lenin là điểm tựa, thì Phật giáo lấy con đường “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội” là tất yếu.
Trải qua quá trình lịch sử với nền độc lập đầu tiên, thời nhà Đinh và Tiền Lê, Phật giáo hoàn toàn nhập thế với bổn phận hộ quốc an dân. Nhiều cao tăng đã giúp vua giữ nước, xây dựng xã hội. Đại Việt sử ký toàn thư viết: “… Ngô MaNi làm Tăng lục, Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư…”
Theo đó, các sử gia đã đánh giá: “Ngô Chân Lưu không chỉ là nhà tôn giáo, mà còn là nhà văn hóa lớn, nhà ngoại giao, nhà chính trị và là nhà tư tưởng lớn giúp vua trị nước.” Đặc biệt là thời Lý, Trần, Lê, các vị cao Tăng đã từng đóng góp cho xã hội, đất nước nhiều lĩnh vực quan trọng. Trong đó có các vị như: Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Không Lộ. Hoặc nhà Trần có Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông… từng là những anh hùng dân tộc. Ấy thế mà, khi xong nhiệm vụ họ lại quay về cửa Thiền làm Tổ Thiền phái Trúc Lâm, để lại cho hậu thế một Thánh tích vô cùng quý giá.
Nói như thế là để thấy tính nhất quán đặc thù của Phật giáo. Phật giáo luôn mang tính từ hòa, hỷ xả, vô ngã vị tha đối với mọi loài. Vì vậy, việc phục vụ chúng sanh, cứu giúp con người và xây dựng đất nước khi cần thiết là nghĩa vụ của người con Phật. Còn chủ nghĩa Mác Lênin có tính cộng thông, đoàn kết, bình đẳng, vì nhân dân lao động.Cho nên, đứng về lịch sử, Phật giáo mang tính quần chúng và tạo mô hình xã hội bình đẳng, điển hình là cuộc cách mạng xã hội giai cấp chuyên chính đầu tiên ở Ấn Độ đã hơn 2561 năm trên thế giới. Thế thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay, dùng dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm phương châm triết lý để hành đạo, thật là mang tính khế cơ và khế lý, và là một sự kế thừa đạo lý Phật giáo từ quá khứ để hành đạo trong hiện tại.
Phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là đặc trưng trong tinh thần Bồ tát đạo. Bồ tát đạo lấy con người làm đối tượng để tu hạnh thí xả. Lấy xã hội làm quốc độ để kiến tạo nếp sống thánh thiện - an vui. Kinh Phật dạy: “Chúng sanh bệnh là Bồ tát bệnh, chúng sanh khổ là Bồ tát khổ”. Bồ tát xem sự đau khổ hay hạnh phúc an vui của chúng sanh như thực tế của bản thân mình. Vì:
Bồ tát thanh lương nguyệt
Du ư tất cánh không
Chúng sanh tâm cấu tận
Bồ đề ảnh hiện trung
Cũng vậy, Kinh A Hàm đức Phật dạy: “Ta ra đời vì lợi ích cho số đông, vì lợi ích cho chư thiên và loài người…” Điều đó không khác gì lý tưởng xã hội chủ nghĩa công bằng - bình đẳng - vì lợi ích cho tầng lớp công nông, giải phóng nô lệ, xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang ở trong thời điểm có nhiều thuận lợi để phát triển
298 | VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHẬT GIÁO TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII NHIỆM KỲ 2017 - 2022
toàn diện. Thuận lợi vì có một sự tương đồng giữa chủ nghĩa Mácxit và triết lý Phật giáo. Thuận lợi vì Đảng và Nhà nước đều xem các tôn giáo bình đẳng như nhau, không thiên vị. Thuận lợi vì mọi công dân đều có quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng. Nó giống như lời của đức Phật đã nói với Tu Bạt Đà La: “Ông đừng tin ta, cũng đừng tin các đạo sư tự xưng là tối thượng, mà ông hãy đem đạo lý ấy ứng dụng, nếu đem lại lợi ích cho mình, cho người và cho cả hai thì ông hãy tin”. Phật giáo là vậy, rất tự do, rất thực tiễn. Cho nên, có một số nhà tư tưởng thời đại đã xem Phật giáo ngày nay phát triển rực rỡ và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội không khác gì thời đại vàng son của Phật giáo thời Lý Trần.
Tuy nhiên, nếu chúng ta bình tâm suy xét thì Phật giáo Việt Nam ngày nay có lợi thế hơn các thời đại trước đây về nhiều mặt.
1. Hơn về mặt thời đại toàn cầu hóa
Ngày nay, các nước đang có xu hướng liên kết một xã hội cộng thông, không gian được thu hẹp, thời gian được rút ngắn. Khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến, bùng nổ thông tin toàn cầu. Vì vậy, Phật giáo thuận lợi trong việc tiếp cận quần chúng để cân nhắc, soi rọi, so sánh, chọn lọc và hòa nhập vào xã hội theo định hướng của mình; để đến với từng lĩnh vực, từng tầng lớp con người mà vẫn giữ được sắc thái của riêng mình.
2. Hơn về mặt hệ thống tổ chức
Từ khoa học, xã hội, công nghệ tiên tiến, tổ chức Phật giáo được định hình một cách bài bản trật tự. Từ vai trò lãnh đạo, danh xưng chức vị trong bộ máy hành chính, đến hệ thống văn phòng, thiết bị máy móc làm việc… theo một quy trình tương ứng với xã hội bên ngoài, nên việc điều hành Phật sự rất nhanh gọn, thích hợp và hiệu quả, phổ cập hiệu lệnh - thông tin đến các cơ sở thứ cấp một cách dễ dàng.
3. Hơn về mặt nhân sự
Thông thường có thể nói “Nhân tài thời nào cũng có”. Thế nhưng, để có một bộ phận nhân sự bài bản, đồng bộ, được đào tạo hẳn hoi, có kiến thức chuyên môn cao thì không phải thời nào cũng có được. Thời cha ông chúng ta cũng có những bậc tài năng xuất chúng nhưng đó chỉ là cá biệt, tài năng đó gần như tự nhiên mà có, tự rèn luyện, tự học, rồi tự tham gia ứng dụng là chính. Còn Giáo hội Phật giáo nay đã đạt được một hệ thống giáo dục đồng bộ. Trên cả nước có 4 học viện chính quy, 8 lớp cao đẳng; hơn 30 trường trung cấp và 50 lớp sơ cấp. 30 năm qua đã cho ra trường đến hàng nghìn cử nhân, cao đẳng và đã đào tạo hàng trăm thạc sĩ và tiến sĩ từ nước ngoài. Đó là những thành quả mà hệ thống giáo dục của Phật giáo đã đào tạo ra những nhân tố thiết thực cho thời đại. Dầu muốn hay không, những nhân sự đó là sản phẩm của Giáo hội; là nhân tố đương nhiên trên nền tảng đương nhiên của xã hội.
4. Hơn về mặt thiết thực trong việc hành đạo
Các Tăng Ni tốt nghiệp các trường Phật học ngày càng nhiều, họ lan tỏa đi mọi miền đất nước để hoằng dương Phật pháp.Các đô thị lớn là nơi hội tụ, còn các vùng sâu, vùng xa vẫn được lan rộng để thiết lập đạo tràng, tạo nên sự phong phú về chương trình tu học như: tụng kinh, niệm Phật, hành thiền, Bát quan trai, Phật thất, một ngày - một giờ an lạc v.v… để
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM | 299
đáp ứng mọi căn cơ của quần chúng tiếp cận và thâu nạp giáo lý căn bản của Phật một cách không ranh giới. Có thể nói, trong thời đại văn minh, công nghệ tiến bộ, Phật giáo đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc và văn hóa đạo đức của dân tộc.
5. Hơn về mặt văn hóa kiến trúc vật chất
Chúng ta có thể cảm thông rằng, vì thời xưa khoa học kỹ thuật chưa phát triển, lại thêm chiến tranh triền miên, vì vậy các công trình tôn giáo, kiến trúc chùa chiền tháp miếu… chưa được xây dựng quy mô. Kinh sách tranh tượng chưa được in ấn nhiều. Ngày nay, sống trong thời đại hòa bình, với sự trợ duyên của Đảng, Nhà nước, việc chùa tháp được trùng tu, xây dựng mới với thiết kế khang trang từ thành thị đến nông thôn là điều phải công nhận. Nhiều công trình chùa tháp mang tầm khu vực và quốc tế như chùa Bái Đính, chùa Đại Nam, chùa Đại Tòng Lâm, hoặc Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh…, Tượng Thích Ca bằng đồng nặng 100 tấn ở Văn hóa Tràng An, tượng Phật ngọc nguyên khối hàng chục tấn ở chùa Tùng Vân - Vĩnh Phúc, quả cầu Như Ý 6,5 tấn bằng đá rubi ở chùa Lân - Yên Tử… Phật giáo Việt Nam cũng đã dịch xong bộ Đại tạng kinh Pali và hàng nghìn đầu kinh sách được xuất bản… Điều làm cho thế giới nhìn về Việt Nam với sự cởi mở rằng: Việt Nam thật sự có tự do tín ngưỡng - tôn giáo.
6. Hơn về mặt phổ cập xã hội
Xưa thì quần chúng nhân dân thường bảo “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Từ đó cho ta thấy, người dân xưa kia thường chỉ biết đến chùa làng, tụng kinh, niệm Phật, lễ bái cầu an, cầu siêu và vị tu sĩ ở chùa cũng chỉ làm trách nhiệm xoa dịu nỗi đau khổ cho quần chúng ở mức tín ngưỡng tâm linh đơn giản như vậy. Còn hiện nay, chúng ta có đầy đủ máy móc băng đĩa, kinh sách, giảng pháp và phổ nhạc kinh điển đủ hạng loại, được phổ biến đến cả những người không phải là Phật tử. Tất cả họ là tài xế taxi, là người bán vé số, bán hàng rong, xe ôm v.v… cũng có thể nghe nhạc kinh A Di Đà, nhạc Pháp Hoa, chú Bát Nhã, vãng sanh niệm Phật…, phương pháp truyền bá ấy đã trở thành văn hóa tâm linh thời đại. Vì vậy, Phật giáo không cần phải là Quốc đạo hay Quốc giáo mà nó đơn giản là Đạo của dân tộc, của quần chúng là đủ. Lý do là nó đã đi vào lòng người trong xã hội một cách êm ả, nhẹ nhàng từ lúc nào không biết.
KẾT LUẬN
Trong quá khứ cũng như hiện tại, Phật giáo với dân tộc là một. Dù ở xã hội phong kiến hay xã hội chủ nghĩa, vai trò Phật giáo vẫn tùy thuận đóng góp vào bản sắc văn hóa của dân tộc, trợ giúp con người, tham gia xây dựng đạo đức xã hội. Tuy nhiên, xã hội chủ nghĩa với đạo pháp hôm nay là một nấc thang để cho Phật giáo phát huy toàn diện năng lực của mình. Vì xã hội chủ nghĩa mang lý tưởng, công bằng, bình đẳng, văn minh, tiến bộ, ấm no hạnh phúc cao cả mà con người hướng đến. Cũng vậy, Tăng đoàn Phật giáo với bản tính từ bi, bình đẳng, hòa hợp là mục đích cao cả mà người Phật giáo luôn tâm niệm. Như vậy, cả hai đều chung bản hoài, chung mục đích, chung lý tưởng, cho nên đạo đời ở đây đều cùng nhau nhìn về một hướng. Với giáo nghĩa Bồ tát đạo, lòng từ vô lượng, hỷ xả bao dung, hòa hợp đoàn kết vô ngã vị tha, Phật giáo Việt Nam sẽ đem lại cuộc sống văn minh tiến bộ ấm no hạnh phúc nhất mà bao nhiêu tôn giáo, bao nhà triết học, xã hội tư tưởng… đều mong mỏi./.
300 | VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHẬT GIÁO TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII NHIỆM KỲ 2017 - 2022
TỪ “TRÍ TUỆ - KỶ CƯƠNG - HỘI NHẬP - PHÁT TRIỂN” ĐẾN “TRƯỞNG DƯỠNG ĐẠO TÂM - TRANG NGHIÊM GIÁO HỘI”
Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Cao Bằng
Năm 1981 Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) được thành lập trên cơ sở và nguyện vọng thống nhất Phật giáo của Tăng, Ni và Phật tử cả nước. Với 7 nhiệm kỳ đã qua, bằng nhiều nỗ lực của khối đại đoàn kết, GHPGVN đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, tạo nên thế đứng vững chắc trong và ngoài nước và có tiếng vang rất tích cực.
GHPGVN đang hướng đến một nhiệm kỳ mới, nhiệm kỳ thứ VIII (2017 - 2022) với một tinh thần phấn chấn bên cạnh những thành tựu vững bền làm đà phát triển hanh thông, nhiều hy vọng phát triển mới. Với 13 Ban-Viện, đủ nói lên tính đa dạng trong các mặt hoạt động cũng như nhiều sự triển khai song hành mang tính chất tùy thuận với xã hội đương thời một cách tự tại.
Để có thể nhìn lại cuộc hành trình hơn 35 năm qua của GHPGVN, cũng nên cần thiết dừng lại đôi phút, chỉnh trang y áo và nhìn lại một lần nữa bên trong những thành tựu ấy còn có những chướng ngại nào hay còn có những ước nguyện, chí nguyện chính đáng nào của Tăng Ni, Phật tử chúng ta chưa tròn tâm ý. Điều này rất có thể ít nhiều gây ra những va chạm nhất định, nhưng để câu châm ngôn ở mỗi hội trường các Ban Trị sự tỉnh, thành “Trưởng dưỡng đạo tâm - Trang nghiêm Giáo hội” không chỉ là một khẩu hiệu suông, không gì khác hơn chúng ta phải cùng nhau nhìn nhận những sự thật không vui này, vì đó cũng chính là chướng duyên, là mối lo ngại trên bước đường phát triển.
Chủ đề chính của Đại hội lần thứ VIII này có bốn tiêu chí “Trí tuệ - Kỷ cương - Hội nhập - Phát triển”. Chúng tôi xin được chọn tiêu chí “Kỷ Cương”. Còn lại Trí Tuệ (thì đã có chư tôn giáo phẩm, chư tôn đức lãnh đạo cũng như nhiều Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử đóng góp, thể hiện cho từng bước phát triển của GHPGVN thời gian qua); Hội nhập (Trong những thành tựu các mặt của GHPGVN với tinh thần cầu thị, đã giúp uy tín cũng như khả năng hoằng hóa của GHPGVN hội nhập vào các hoạt động, hoàn cảnh xã hội khác nhau trong cũng như ngoài nước. Giáo hội không còn đứng thế cô lập, xa rời thực tiễn và nhu cầu tu học của Tăng, Ni Phật tử). Phát triển (Trên bước đường tiếp theo, nhu cầu phát triển dựa trên những thành quả đạt được là một sức mạnh có nhiều ý nghĩa thực tiễn. Đó còn là trách nhiệm của các Ban, Viện khác của GHPGVN trong chiến lược phát triển lâu dài và điều này có thể nhìn thấy qua các báo cáo thành quả 35 năm qua. Còn lại, khi chọn nói đến Kỷ cương là nói đến sự thực thi nhất quán giới hạn, đồng thời còn hàm chứa tất cả những văn bản mang tính pháp quy của GHPGVN. Điều này thời gian qua với những vụ việc chưa hay xảy ra đó đây, có lẽ hồ sơ lưu trữ của GHPGVN, cụ thể các Ban Hoằng pháp, Ban Tăng sự, Ban Kiểm soát và Ban Thông tin Truyền thông vẫn còn nhiều dấu đóng “chờ giải quyết” không mong muốn!.
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM | 301
Nếu căn cứ vào Hiến Chương GHPGVN, vào Nội Quy từng Ban riêng biệt và nhất là phải đứng trên lập trường nhất quán, không vị nễ hay để cảm tính lấn áp, thì có lẽ các sự việc sẽ được nhanh chóng giải quyết dứt điểm với tỷ lệ không nhỏ. Và thậm chí trước tình trạng dùng đồng tiền mua chức mua ghế để thao túng từng bước hoạt động của GHPGVN, người có trách nhiệm không thể thờ ơ, xem nhẹ. Chúng ta phải thành thật nhận ra điều này và cố gắng bằng mọi biện pháp phải nhanh chóng loại trừ để bước đường tiếp theo của GHPGVN được trong sạch, hanh thông.
Ban Tăng sự, Ban Hoằng pháp, Ban Kiểm soát và Ban Pháp chế là những cánh cửa quan trọng của GHPGVN, có thể giúp tăng trưởng sức mạnh hay làm suy yếu các chủ trương hoạt động của GHPGVN. Nhược điểm còn tồn tại trong thời gian vừa qua có thể tóm tắt rằng Ban Tăng sự chưa giúp gì nhiều hơn cho Ban Hoằng pháp đánh giá và khẳng định khả năng cũng như quyền hạn một vị pháp sư cụ thể hơn. Trong đó mạnh dạn đưa ra quan điểm chính thống vì sao vị A không được phép đăng đàn diễn giảng; vì sao vị Z được phép diễn giảng .v.v... Tình trạng “lấn sân”, ai cũng có thể trở thành giảng sư đã ít nhiều để lại hệ quả những tư tưởng diển giảng mâu thuẫn, đan xéo nhau, thậm chí đối lập nhau rất thô thiển. Trong các vụ xung đột, liên quan đến tính pháp lý thế tục khác cũng vậy không riêng gì khía cạnh Hoằng pháp. Vì vậy Ban Kiểm soát như đứng ngoài vòng vây “mất kiểm soát”, đôi khi chỉ đóng vai trò đồn trú trong một điếm canh, chỉ chờ có nơi phản ảnh hay kêu cứu mới thể hiện vai trò Kiểm soát của mình! Có lẽ qua những thế bị động liên đới trên nên Ban Pháp chế cũng ít có cơ hội thể hiện mình nếu không muốn nói là rất lúng túng trong phương hướng giải quyết từng vụ việc?
Đến đây chúng ta chắc cũng thấy rằng chúng tôi nhấn mạnh một trong bốn tiêu chí, tiêu chí Kỷ Cương quan trọng đến chừng nào. Vì vậy lập lại Kỷ cương rất cần thiết ở mọi lúc, mọi nơi với GHPGVN chúng ta, trong bước phát triển mới điều đó còn cần thiết hơn bao giờ hết. Kỷ cương ở đây không chỉ nằm gói gọn trong các quy định hay luật định GHPGVN, mà còn có cả trách nhiệm của từng nhân tố là Tăng Ni hay Phật tử cư sĩ, vốn đã thọ luật nghi giáo pháp, thực hành giới pháp nghiêm túc.
Một Ban quan trọng khác nữa xin được nói đến là Ban Thông tin Truyền thông (Ban TTTT). Tuy được thành lập muộn hơn các Ban đồng cấp nhưng vai trò và tiếng nói của Ban này cũng không kém phần quan trọng. Ngoài việc góp chung tiếng nói hoằng dương chánh pháp, về mặt tổ chức pháp lý Ban TTTT còn là tiếng nói chính thức, là diện mạo của tổ chức GHPGVN.
“Theo Quy Chế về phát ngôn báo chí thì phát ngôn báo chí của Giáo hội chỉ được coi là phát ngôn chính thức khi người giữ quyền phát ngôn hoặc người phát ngôn lên tiếng. Người giử quyền phát ngôn bao gồm: Chủ tịch Hội đồng Trị sự (HĐTS), Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS, Trưởng Ban Thông tin Truyền thông (TTTT). Người phát ngôn của GHPGVN là Phó Trưởng ban Thường trực Ban TTTT GHPGVN được Trưởng Ban TTTTT giao nhiệm vụ bằng văn bản. Hình thức phát ngôn bao gồm: Họp báo thường kỳ và họp báo đột xuất của người phát ngôn; họp báo của HĐTS do Chủ tịch, Phó Chủ tịch Thường trực chủ trì; Họp báo do Ban thường trực HĐTS phối hợp với các cơ quan, đơn vị khác tổ chức; thông cáo báo chí của HĐTS, của Ban TTTT; trả lời phỏng vấn
302 | VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHẬT GIÁO TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII NHIỆM KỲ 2017 - 2022
của người giữ quyền phát ngôn. Nội dung phát ngôn bao gồm: Quan điểm, lập trường chính thức của GHPGVN, về Đạo Phật, về GHPGVN, về những vấn đề thuộc phạm vi liên quan tới hoạt động và tổ chức của GHPGVN; tình hình và kết quả trong công tác Phật sự của GHPGVN; các vấn đề khác do người phát ngôn giao nhiệm vụ...”( trích Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của GHPGVN).
Như vậy, ngoài Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐTS thì Ban TTTT có quyền hạn rất lớn trong việc giữ vai trò phát ngôn. Thế nhưng trên thực tế, từ khi có mặt song hành cùng hoạt động của GHPGVN, Ban TTTT dường như chỉ dừng lại ở nơi xuất phát, vẫn còn nguyên ý nghĩa và nhiệm vụ to lớn chưa được phát huy triệt để. Với đội ngũ thành viên và cộng tác viên hùng hậu, trải đều từ Bắc vào Nam, Ban TTTT có dư thừa khả năng thực thi nhiệm vụ chuyên môn Giáo hội giao phó, tiếc thay những dự định cao đẹp ấy vẫn chưa đạt đến mức để có thể báo cáo thành tích, để mỗi phiên họp tổng kết hằng năm hoàn toàn vắng mặt trong các báo cáo.
Nói đến Ban TTTT và quyền phát ngôn như vậy với những vấn đề chưa làm được để nhắc nhỡ với nhau rằng hiện đã và đang có rất nhiều vụ việc GHPGVN cần phải lên tiếng qua hình thức phát ngôn và đương nhiên sẽ rất hợp lẽ khi người giữ quyền phát ngôn về các vụ việc ấy trước báo chí và thông tin ngoài Phật giáo phải là Ban TTTT. Đó cũng đồng nghĩa là tiếng nói của một Kỷ Cương cần phải gìn giữ.
Hy vọng từ nhiệm kỳ 2017 - 2022 sắp tới các mặt hoạt động của GHPGVN, mà đi đầu là các Ban trực thuộc được kích hoạt mạnh mẻ và đồng bộ hơn, hỗ trợ tinh thần 35 năm dấn thân song hành cùng dân tộc trên bước đường hoằng pháp và góp phần dựng xây đất nước.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây