53. TỪ HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN Ở CHÙA LÂM QUANG QUẬN 8, TP. HỒ CHÍ MINH SUY NGHĨ VỀ XU HƯỚNG NHẬP THẾ CỦA NI GIỚI HIỆN NAY

Thứ năm - 06/09/2018 02:11
TỪ HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN Ở CHÙA LÂM QUANG...của Nguyễn Đức Dũng - Đỗ Thu Hường
 
Vài nét về hoạt động từ thiện của Ni giới tại chùa Lâm Quang
Hội nghị tổng kết công tác phật sự Phân ban Ni giới năm 2015 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đã đưa ra những con số thống kế rất đáng lưu ý, phản ánh không chỉ hoạt động của Phân ban Ni giới, mà còn cho thấy sự phát triển của Ni giới trong phạm vi cả nước. Theo đó, hiện nay trên phạm vi cả nước ước chừng có 6.127 cơ sở tự viện và 15.818 Chư ni. Hoạt động của Ni giới trong phạm vi cả nước, đã phản ánh bức tranh khá toàn cảnh của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. 
Sự lựa chọn đức tin không chỉ nói lên chính sách đối với tôn giáo của Nhà nước Việt Nam, mà ở một chừng mực nhất định nói đến xu hướng phát triển của các tôn giáo trong bối cảnh hiện nay. Hoạt động của các tôn giáo gồm nhiều hoạt động khác nhau liên quan đến Phật sự và hoạt động hướng ra xã hội. Trong nhiều hoạt động của Ni giới có hoạt động của chùa Lâm Quang, quận 8, Tp. Hồ Chí Minh, mà chúng tôi lấy bối cảnh đề tiếp cận xu hướng nhập thế của Ni giới Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. 
Chùa Lâm Quang, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh là một ngôi chùa không lớn lại ở vùng có nhiều khó khăn, nhưng trong 16 năm qua, dưới sự trụ trì cùa Ni sư Thích Nữ Diệu Huyền, nơi đây đã chăm sóc hàng trăm những người neo đơn không nơi nương tựa. Mỗi con người là một thân phận nghèo khó và cô đơn khác nhau, sinh sống ở các địa phương khác nhau. Nhưng một khi những mảnh đời khốn khó đó được đón về chùa Lâm Quang, họ được nuôi dưỡng, chăm sóc bằng tất cả tấm lòng yêu thương. Hàng ngày bằng một tình thần “thương người như thể thương thân”, những ni sư nơi đây cùng với những người làm từ thiện khác đã chăm sóc về cơm ăn nước uống, chữa bệnh. Chùa Lâm Quang chỉ là một ngôi chùa khá khiêm tốn (theo đúng nghĩa của từ này), để có thể chăm sóc những người không nơi nương tựa, chùa đã phân thành ba khu vực khác nhau, dành cho những người có sức khỏe khác nhau. Một khu dành cho những người già yếu không thể di chuyển được. Những người già yếu được chăm sóc hết sức chu đáo. Một khu dành cho những người có sức khỏe tương đối bình thường, tự mình phục vụ các nhu cầu hàng ngày. Khu thứ ba, dành cho những người có sức khỏe. Ngay cả khi họ qua đời, đám tang của những người xấu số vẫn cũng được thực hiện đầy đủ các nghi thức truyền thống. Những con người có thân phận khác nhau, từ nhiều miền quê, nhưng họ lai có chung một cảnh ngộ - những con người neo đơn không nơi nương tựa. Vào thời điểm phát sóng bài phóng sự (tháng 01 năm 2016) tại chùa Lâm Quang với 15 ni sư đang nuôi dưỡng 118 cụ già (hoàn toàn là các cụ bà) và 4 em nhỏ có hoàn cảnh rất khó khăn (có em bị bại não lúc 8 tháng tuổi, cha mẹ không còn). Bằng công việc âm thầm đó, trong 16 năm qua, các ni sư chùa Lâm Quang đã chăm sóc, nuôi dưỡng hàng ngàn những con người bất hạnh. Nếu không có vòng tay nhân ái giang rộng đón những thân phận bất hạnh trong 16 năm qua, chắc chắn sẽ có nhiều thân phận có phần kết hết sức bi thảm. Hoạt động từ thiện ở chùa Lâm Quang không phải là một vấn đề mới trong đời sống tôn giáo ở nước ta.
Điểm qua vài nét về tính nhập thế của Phật giáo Việt Nam
Trong những năm sau giải phóng, các tôn giáo tham gia rất tích cực và có hiệu quả trong các hoạt động từ thiện xã hội, tham gia vào các hoạt động cứu trợ trong việc chăm sóc người nghèo, cô đơn, trong giáo giáo dục, y tế. Những hoạt động từ thiện, nhân đạo rất đa dạng và phong phú bao gồm như sơ cứu chữa bệnh, tài trợ các trại nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và người già neo đơn, sửa chữa nhà cửa, cất nhà mới tình thương, tình nghĩa, sửa và xây cầu mới, nâng cấp đường… Xu hướng nhập thế của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ được thể hiện rất rõ trong các hoạt động xã hội. Rõ ràng trong bối cảnh cụ thể của Nam Bộ những tôn giáo địa phương (bản địa) đã góp phần làm lên diện mạo mới của văn hóa Nam Bộ, được thể hiện vào việc tham gia các hoạt động xã hội (như làm từ thiện, chăm sóc người già cô đơn, xóa đói giảm nghèo…). Phật giáo cũng không nằm ngoài xu hướng nhập thế đó. Xu hướng nhập thế của Phật giáo Việt Nam có thể quan sát thấy ở các thời kỳ khác nhau cũng khác nhau. Sở dĩ có tình hình này là vì, nếu xét về khía cạnh văn hóa của một tộc người, thì tôn giáo cho dù có vai trò như thế nào cũng chỉ là một trong nhiều thành tố góp làm nên tính đa dạng văn hóa của một tộc người, mà không phải là tất cả. Có những tộc người, chẳn hạn như người Chăm, thì Phật giáo đã từng có mặt trong đời sống xã hội của Chămpa, mà di chỉ Đồng Dương đã minh chứng cho điều đó. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội hiện đại của người Chăm, hầu như không thấy bất kỳ một ảnh hưởng nào của Phật giáo (dù rất mờ nhạt). Trong khi đó, vào khoảng thế kỷ X, XI Islam du nhập vào xã hội người Chăm, khi mà Bàlamôn giáo đã xác lập được vị trí độc tôn của mình ở xã hội người Chăm. Trong bối cảnh đó, Islam không đủ mạnh làm suy giảm vai trò của Bàlamôn để xác lập vị trí của mình, vì vậy dẫn đến hình thành nhóm Bàni. Một dạng thức tôn giáo chứa đựng cả yếu tố Islam và Bàlamôn. Trong khi đó, môt bộ phận người Chăm di cư sang Campuchia, lại tiếp nhận Islam một cách triệt để. Tại sao lại có tình hình như vậy? Chúng tôi cho rằng, tôn giáo như là một trong nhiều thành tố góp phần làm phong phú văn hóa của một tộc người. Các tộc người lại tiếp nhận các tôn giáo theo cách của mình. Vì thế, bất kỳ một thành tố văn hóa ngoại nhập nào kể cả tôn giáo, nếu không thấy phù hợp với truyền thống văn hóa của một tộc người, thì thành tố văn hóa mới đó khó có thể tồn tại. Hay nói cách khác, mỗi tộc người có cách tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh theo cách riêng của mình. Để có thể làm được điều đó tất yếu phải gắn liền giữa việc tu hành với đời sống xã hội. Nhập thế là cách tốt nhất để cho một tôn giáo phát triển.
Vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội gia tăng, đây cũng là một biểu hiện sự gắn bó lợi ích tôn giáo với lợi ích dân tộc trên nguyên tắc tốt đời đẹp đạo, đạo pháp dân tộc, xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh chung đó, Phật giáo Nam Bộ đã có vai trò rất quan trọng trong đời sống của cư dân, ngày nay càng thể hiện rõ không chỉ ở khía cạnh góp phần làm phong phú văn hóa Việt Nam, mà còn có những đóng góp cho những hoạt động xã hội khác. Tinh thần đạo pháp, dân tộc, xã hội chủ nghĩa hướng Tăng ni, tín đồ đoàn kết, xây dụng và bảo vệ đất nước làm cho đất nước ngày một giàu mạnh, đời sống nhân dân ngày một nâng cao. Đó không chỉ là khát vọng những người theo đạo Phật, nó là khát vọng của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc trường chinh chống xâm lược trước đây và trong công cuộc chống đói nghèo, kém phát triển hôm nay. Phát huy những đóng góp của Phật giáo trong công cuộc chống ngoại xâm, trong công cuộc xây dựng đất nước và những giá trị văn hóa mà Phật giáo mang lại cho nền văn hóa Việt Nam, phát huy tinh thần khoan dung hỉ xả để hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn, là mong muốn của nhân dân ta, một dân tộc mà văn minh Phật giáo đã có nhiều ảnh hưởng, góp phần tạo nên những giá trị văn hóa làm nên sức mạnh vượt qua những bước thăng trầm của lịch sử để tồn tại và phát triển như hôm nay. Những hoạt động của GHPGVN trong những năm sau đổi mới đã góp phần vào sự hội nhập của Việt Nam không chỉ ở lĩnh vực kinh tế, mà cả về phương diện văn hóa.
Nhập thế như là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện nay
Để đạt được mục tiêu cao cả phụng sự quốc gia - dân tộc, mỗi người Việt Nam không phân biệt già trẻ, nam, nữ, là tộc người thiểu số hay, đa số, là người tu hành hay không, mỗi người tùy khả năng của mình mà có những việc làm cụ thể góp phần làm nên sức mạnh đoàn kết dân tộc trong các cuộc kháng chiến. Trong bối cảnh đó, lợi ích quốc gia - dân tộc là trên hết. Những chức sắc tín đồ dù theo bất kỳ một tôn giáo nào, họ cũng là công dân của một nước. Khi đất nước còn chiến tranh, bản thân mỗi chức sắc, tín đồ không thể không nghĩ đến trách nhiệm của mình trong việc phụng sự đất nước. Bởi một lẽ đơn giản là trước khi họ là chức sắc, tín đồ của một tôn giáo, họ là công dân của một nước. Vì vậy, phụng sự quốc gia - dân tộc là trách nhiệm của mọi công dân.
Như chúng ta đều biết, về mặt quản lý nhà nước thì tất cả những vấn đề có liên quan đến các tôn giáo (kể cả các vấn đề liên quan đến các tộc người), đều là công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. Chế độ chính trị, hình thức nhà nước có thể rất khác nhau, nhưng hết thảy đều có chung một muc tiêu là chính phủ luôn tạo sự ổn định xã hội để phát triển đất nước. Mỗi một con người đều có quê hương, gia đình, Tổ quốc. Như là một giá trị chung của nhân loại, mỗi ngươi dù ở đâu, trước hết họ phải dành tình yêu thương cho gia đình, cho quê hương, cho đất nước. Mỗi công dân (mỗi người dân) dù thuộc về thành phần tộc người nào, dù ở giai tầng nào, theo tôn giáo, tín ngưỡng nào, đều phải đặt và coi lợi ích của quốc gia - dân tộc là trên hết. Để từ đó, có trách nhiệm làm tròn nghĩa vụ công dân đối với việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Không thể  lãng quên trách nhiệm công dân, đó là những suy nghĩ của bất kỳ người dân bình thường nào. Tất cả những ai đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc, làm phương hại đến đến sự ổn định và phát triển của đất nước đều bị lên án. Mặt khác, trong bối cảnh hiện nay, không chỉ giữ gìn hoà bình để phát triển, mà còn phải bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia. Vì vậy, mỗi người luôn hướng tới thực hiện có trách nhiệm nghĩa vụ công dân của mình. Phân ban Ni giới của GHPGVN là một bộ phận góp phần làm nên tính đa dạng của tôn giáo Việt Nam cũng cần tham gia vào các hoạt động xã hội, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, chăm sóc người già cô đơn...
Tiếp nối truyền thống nhập thế của Phật giáo trong lịch sử, hoạt động từ thiện của Ni giới tại chùa Lâm Quang, Hồ Chí Minh đã, đang hướng tới chia sẻ những khó khăn của nhóm yếu thế trong xã hội. Những hoạt động từ thiện tuy không giải quyết một cách triệt để sự những khó khăn của xã hội, nhưng ở một chừng mực nhất định những hoạt động từ thiện đó đã góp phần chia sẻ với nhóm yếu thế để họ có thể vượt qua thời khắc khó khăn.
Vài lời kết luận 
Có thể thấy nếu xu hướng thế tục hóa gắn liền với công nghiệp hóa, xu hướng nhập thế là hoạt động tự thân của mỗi tôn giáo gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của chính tôn giáo đó. Hoạt động từ thiện cũng như các hoạt động khác gắn với đời sống xã hội của cộng đông Ni giới trong bối cảnh hiện nay là xu hướng nhập thế. Hoạt động từ thiện của Ni giới góp phần giải quyết những vấn đề an sinh xã hội là thể hiện hành động nhập thế, mà truyền thống đó được thể hiện rất rõ trong giai đoạn đầu của thời kỳ tự chủ. Tinh thần đó được tiếp tục thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử của Phật giáo Việt Nam, mà những hoạt động từ thiện tại các tự viện, nơi các Chư ni tu hành, như là những minh chứng đầy thuyết phục về sự gắn kết giữa đạo và đời. Hoạt động từ thiện để chia sẻ cùng Nhà nước chăm sóc những nhóm yếu thế trong xã hội đương đại, là biểu hiện tình yêu thương chúng sinh của những người tu hành. Các tôn giáo dù là tôn giáo ngoại sinh hay tôn giáo ra đời trong bối cảnh cụ thể của Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều hòa vào dòng chảy chung của dân tộc. Nhâp thế là xu hướng tất yếu của các tôn giáo, mà biểu hiện của xu hướng nhâp thế ở các thời điểm lịch sử khác nhau cũng khác nhau./.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Hồng Liên (2008), Dân tộc và tôn giáo ở Tây Nam Bộ trong quá trình phát triển, Đề tài NCKH cấp bộ, nghiệm thu năm 2009.
  1. Vương Hoàng Trù (2011), Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo nhằm phát triển bền vững ở Nam Bộ, Đề tài NCKH cấp Bộ, nghiệm thu năm 2011.
  2. Tư liệu điền dã cá nhân, Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2016.
  3. http://www.hta.org.vn/thong-tin-hta/chua-lam-quang-noinuong-tua-cua-cac-cu-gia-neo-don-3404.html
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây